Người Giấy - Chương 15: Chương 015: Mắt Mẹ Đục Ngầu

Tôi ngồi xếp bằng trên chiếc phản gỗ lim cũ ở góc phòng, mắt đăm đăm nhìn ra phía ngưỡng cửa. Dấu chân ướt sũng nước ao tù kéo dài từ ngoài ngõ vào tận…

Nội dung chương

Tôi ngồi xếp bằng trên chiếc phản gỗ lim cũ ở góc phòng, mắt đăm đăm nhìn ra phía ngưỡng cửa. Dấu chân ướt sũng nước ao tù kéo dài từ ngoài ngõ vào tận thềm nhà ban chiều vẫn chưa khô hẳn. Nó in rõ trên nền gạch bát tràng xám xịt, loang lổ những vệt bùn đen hôi hám. Trời mùa hè oi bức, gió đứng bóng, nhưng tôi lại thấy da thịt mình nổi đầy gai ốc. Cha tôi đã ngủ say ở nhà ngoài, tiếng ngáy của ông đều đặn xen lẫn tiếng quạt hòm kẽo kẹt. Mẹ tôi thì nằm ở buồng trong, căn buồng sát vách với phòng tôi, ngăn cách bởi một tấm liếp tre đơn sơ.

Mọi chuyện bắt đầu từ lúc nửa đêm canh hai vừa điểm.

Tiếng động đầu tiên là tiếng bước chân lê lẹt xẹt trên sân gạch. Không phải tiếng dép cao su của cha, cũng chẳng phải tiếng guốc mộc của mẹ. Tiếng động ấy nghe nặng nề, mỗi bước đi lại có tiếng nước lép nhép phát ra, giống như có người vừa lội dưới ao bùn lên rồi đi thẳng vào nhà.

Tôi nín thở, tắt phụt ngọn đèn dầu hỏa trên bàn học. Bóng tối lập tức ập xuống, nuốt chửng lấy căn phòng nhỏ chứa đầy tiêu binh giấy và ngựa giấy chưa tô màu đang xếp xó ở góc tường.

Tiếng bước chân dừng lại ngay trước cửa phòng tôi.

Cạch. Cạch.

Cánh cửa gỗ lim cũ kỹ rung nhẹ. Một mùi tanh nồng của bùn ao rữa bốc lên, len qua khe cửa xộc thẳng vào mũi tôi. Mùi này tôi lạ gì, đó là mùi nước đọng ở cái ao sen bỏ hoang sau miếu Bà Chúa Kho, nơi người ta đồn có cô con gái nhà Chánh tổng nhảy xuống tự vẫn từ thời Pháp thuộc.

- Danh ơi.

Tiếng gọi cất lên. Giọng nói quen thuộc vô cùng, chính là giọng của mẹ tôi.

- Danh ơi, mẹ nấu bát cháo hành hoa, con mở cửa ra ăn cho ra mồ hôi. Chiều nay đi học về thấy con xanh xao quá.

Tôi định đứng dậy mở chốt cửa. Nhưng bàn chân tôi vừa chạm xuống nền đất lạnh thì khựng lại. Có một luồng khí lạnh buốt từ dưới khe cửa thổi vào, mơn trớn cổ chân tôi. Tôi cúi đầu nhìn xuống. Dưới khe cửa hở rộng chừng hai đốt ngón tay, tôi nhìn thấy một đôi bàn chân.

Đó là đôi chân trần, da thịt trắng bợt, căng mọng nước như người bị phù thũng. Đặc biệt, gót chân của người đứng bên ngoài không chạm đất. Người đó đứng bằng hai mũi bàn chân, gót chân nhấc cao lên chừng hai phân, lơ lửng giữa khoảng không. Trên cổ chân trái của đôi chân ấy, có một sợi chỉ đỏ buộc lỏng lẻo, đầu chỉ còn dính một mẩu giấy bản màu vàng úa.

Tôi nuốt nước bọt, cổ họng đắng ngắt. Tôi bò sát lại gần khe cửa liếp, hé mắt nhìn qua kẽ hở giữa hai tấm liếp tre.

Dưới ánh trăng lu của đêm rằm tháng bảy, tôi nhìn rõ bóng người đứng ngoài hiên. Đúng là mẹ tôi. Bà mặc bộ quần áo cánh nâu quen thuộc, tóc búi gọn sau gáy. Trên hai tay bà nâng một bát sứ hoa văn xanh, khói bốc lên nghi ngút. Nhưng bát cháo ấy không có màu trắng của gạo nếp, cũng không có màu xanh của hành hoa. Nó là một thứ nước sền sệt, đen ngòm như bùn đặc, bên trên nổi lềnh bềnh vài cọng cỏ lác và xác những con thiêu thân chết khô.

Tôi nhìn dịch lên phía trên. Gương mặt mẹ tôi cứng đờ, không một chút biểu cảm. Hai mắt mẹ đục ngầu, tròng trắng chiếm gần hết hốc mắt, còn tròng đen thì dạt hẳn về hai góc thái dương, đứng im không chút động đậy. Da mặt mẹ xám xịt, trên má có hai vệt phấn hồng rẻ tiền tô vội, giống hệt cách cha tôi vẫn thường tô má hồng cho những con tiêu binh giấy trước khi đem đốt.

- Danh ơi, sao không mở cửa cho mẹ?

Khẩu hình miệng của mẹ tôi hoàn toàn không động đậy. Mới mím chặt, hai khóe miệng hơi trễ xuống. Nhưng âm thanh vẫn phát ra rõ mồn một. Tiếng gọi ấy không phát ra từ phía trước mặt bà, mà phát ra từ phía sau gáy, ngay dưới búi tóc trễ. Tôi nghe rõ tiếng kẽo kẹt, tiếng gió rít qua những thớ thịt ở sau gáy mẹ. Cứ mỗi lần âm thanh phát ra, mớ tóc búi của bà lại rung lên bần bật, giống như có một cái miệng thứ hai đang ẩn nấp dưới lớp tóc đen dày ấy.

Tôi run rẩy thò tay vào túi quần, chạm vào nắm muối hạt trộn vôi bột mà tôi đã chuẩn bị từ trước. Lão ăn mày ở đầu làng từng dặn tôi rằng gặp thứ dưới âm đi tìm người, tuyệt đối không được trả lời thật. Chúng mượn cát ngôn để bắt hồn. Nếu mình trả lời đúng, hồn mình sẽ theo chúng đi ngay lập tức. Phải nói ngược lại, hoặc giữ im lặng.

Tiếng gọi sau gáy mẹ lại vang lên, lần này dồn dập hơn, giọng nói thé thé như tiếng cọ xát của hai thanh nứa mục.

- Danh ơi, con có ở trong phòng không?

Tôi cắn chặt môi, cố giữ cho giọng mình không run rẩy, lớn tiếng trả lời ngược lại:

- Danh đi ra đồng cày ruộng từ chiều chưa về đâu!

Bóng người ngoài cửa im bặt. Đôi mắt đục ngầu của mẹ tôi chợt trợn ngược lên, để lộ toàn bộ lòng trắng dính đầy những tia máu đỏ li ti. Bát cháo trên tay bà run lên, thứ nước bùn đen ngòm sánh ra ngoài, rơi xuống thềm gạch kêu tách tách.

- Danh, nếu đói thì ăn bát cháo này đi.

Giọng nói sau gáy lại hỏi.

Tôi đáp ngược:

- Con no căng bụng rồi, vừa ăn ba bát cơm với thịt gà ngoài đình về.

Bóng người bên ngoài bắt đầu vặn vẹo. Tiếng xương khớp kêu răng rắc ghê rợn vang lên giữa đêm thanh vắng. Đầu mẹ tôi dần dần ngoẹo sang một bên, nghiêng một góc chín mươi độ so với bả vai, khiến cho búi tóc sau gáy chĩa thẳng về phía khe cửa phòng tôi.

Từ trong búi tóc đen nhánh ấy, tôi nhìn thấy một khuôn mặt bằng giấy bản nhỏ bằng bàn tay đang dính chặt vào da đầu mẹ tôi. Khuôn mặt giấy ấy được vẽ mắt mũi bằng mực tàu sơ sài, hai mắt không có con ngươi, chỉ là hai cái lỗ khoét rỗng tuếch. Cái miệng vẽ bằng phẩm đỏ ngoác ra đến tận mang tai, đang mấp máy phát ra giọng nói:

- Nói dối. Nó ở trong phòng. Mùi thịt người thơm quá.

Tôi kinh hãi lùi lại phía sau, lưng đập mạnh vào chiếc phản gỗ. Mấy con tiêu binh giấy xếp ở góc phòng bị chấn động rơi xuống đất, tiếng giấy bản xào xạc nghe rất đáng sợ.

Tôi biết mình không được hoảng loạn. Cha tôi từng dạy, người làm nghề đồ mã cả đời tiếp xúc với cõi âm, trên người luôn có khí dương của tre nứa và hồ dán vôi. Chỉ cần không sợ hãi, tà ma khó lòng xâm nhập. Nhưng đây là mẹ tôi. Nếu tôi dùng vôi bột ném ra, liệu có làm hại đến phần xác của mẹ không?

Nghĩ đến đây, tôi vội vàng lấy cuộn chỉ đỏ trong túi áo ra. Cuộn chỉ này đã được ngâm qua nước lá bưởi và dầu máy khâu, chuyên dùng để buộc cổ chân người giấy khi làm lễ hôn âm để ngăn không cho hồn ma cô dâu chú rể chạy thoát.

Tôi luồn sợi chỉ đỏ qua khe cửa, cột chặt vào cái chốt cửa bằng gỗ lim.

- Danh ơi, mở cửa cho mẹ đi con. Mẹ lạnh lắm.

Giọng nói từ sau gáy mẹ tôi lại vang lên, giờ đây đã chuyển thành tiếng khóc sụt sùi của một cô gái trẻ. Tôi nghe ra giọng nói này. Đó là giọng của Hạnh. Hạnh đã chết cách đây ba ngày. Xác cô ấy vẫn nằm dưới ngôi mộ mới đắp ở nghĩa trang gò hoang đầu làng. Tại sao hồn cô ấy lại ám vào mẹ tôi? Hay là vì đám cưới ma mà nhà Chánh tổng đang âm thầm chuẩn bị cho đứa con trai chết trẻ của họ?

- Danh, cứu tôi với. Ở dưới đất lạnh lắm, chuột đã khoét hết chân tay tôi rồi.

Tiếng khóc của Hạnh rấm rứt bên ngoài cửa.

Tôi cắn đầu ngón tay trỏ, nặn ra một giọt máu tươi, quệt nhanh lên sợi chỉ đỏ đang buộc ở chốt cửa. Đồng thời, tôi lẩm nhẩm đọc lời chú tránh mượn cát ngôn mà cha tôi từng chép trong cuốn sách da bò cũ:

- Đất có thổ công, sông có thần sông. Người đi đường dương, ma đi đường âm. Hỏi đông nói tây, hỏi ngày nói đêm. Trả lời ngược lối, giữ lấy hồn người.

Tôi hét lớn ra ngoài:

- Hạnh ấm áp lắm, đang nằm trong chăn bông ở nhà cơ mà!

Ngay khi câu nói ngược của tôi vừa dứt, một tiếng rít chói tai vang lên từ phía sau gáy mẹ tôi. Bóng đen ngoài cửa lảo đảo thối lui vài bước. Bát cháo trên tay mẹ tôi rơi xoảng xuống nền gạch, vỡ tan tành. Thứ nước bùn đen ngòm chảy lê láng, bốc lên mùi hôi thối nồng nặc của xác động vật phân hủy.

Mẹ tôi đứng run rẩy giữa sân, đầu vẫn ngoẹo sang một bên. Rồi đột nhiên, cơ thể bà đổ ụp xuống đất như một khúc gỗ bị đốn hạ. Bà nằm bất động trên nền gạch ướt sũng.

Tôi không màng đến hiểm nguy nữa, vội vàng rút chốt cửa, lao ra ngoài hiên.

- Mẹ! Mẹ ơi!

Tôi lay mạnh mẹ. Bà lạnh toát, da thịt mềm nhũn nhưng hơi thở vẫn còn thoi thóp. Trên gáy mẹ, ngay dưới búi tóc, có một vệt keo hồ dán màu trắng đục đã khô lại, dính bết vào da đầu. Một mảnh giấy đã được dán lên gáy bà bằng hồ đồ mã, nhưng giờ thứ đó đã biến mất, chỉ còn lại vệt keo thừa và vài sợi tóc bị đứt.

Tôi bế mẹ vào buồng trong, đặt bà lên giường tre rồi đắp chăn ấm cho bà. Tôi lấy củ gừng tươi giã nát, hòa với nước ấm đổ vào miệng mẹ. Sau vài cái nấc cụt, mắt mẹ khẽ động đậy rồi từ từ mở ra.

Tròng mắt mẹ đã trở lại bình thường, không còn đục ngầu như lúc nãy nữa. Bà nhìn tôi bằng ánh mắt mệt mỏi, thều thào hỏi:

- Danh đấy à con? Sao mẹ lại nằm đây? Mẹ nhớ là đang nấu cháo hành cho con mà, rồi có ai gõ cửa sau nhà gọi tên mẹ.

- Không có gì đâu mẹ. Mẹ bị cảm gió đấy thôi. Mẹ cứ nằm nghỉ đi, con canh cho.

Tôi trấn an mẹ, lòng nặng trĩu những lo âu.

Rõ ràng có kẻ đã mượn xác mẹ tôi để tiếp cận tôi. Kẻ đó biết tôi đang giữ sợi chỉ cổ chân của Hạnh, hoặc kẻ đó muốn ngăn cản tôi tìm hiểu về đám cưới ma sắp diễn ra.

Tôi bước ra ngoài hiên. Dưới ánh trăng tàn, vũng nước bùn đen ngòm từ bát cháo vỡ đã thấm hết xuống khe gạch, chỉ còn lại những mảnh sành vỡ nát. Tôi cúi xuống nhặt một mảnh sành lên xem. Trên mặt mảnh sành có dính một miếng giấy bản màu đỏ bị ướt sũng. Tôi vuốt phẳng miếng giấy ra.

Đó là một góc của chiếc áo cưới người giấy, loại giấy màu đỏ tươi thường dùng cho hôn lễ cõi âm. Trên góc giấy có vẽ một hình hoa cúc nhỏ bằng mực đen. Hoa cúc vẽ ngược gân hoa, đây là ký hiệu riêng của nhà họ Trương, những người chuyên làm đồ mã ở làng bên cạnh, đối thủ của xưởng nhà tôi.

Nhà họ Trương vốn nổi tiếng với những chiêu trò tà môn ngoại đạo. Họ dám làm những con người giấy có điểm mắt để sai khiến, điều mà cha tôi luôn nghiêm cấm. Phải chăng họ đã bán người giấy cho nhà Chánh tổng để thực hiện nghi lễ hôn âm với Hạnh, và giờ đây họ muốn dùng tà thuật để bịt đầu mối những ai tò mò?

Tiếng gà gáy canh ba từ phía đầu xóm chợt cất lên, phá tan bầu không khí tĩnh mịch của đêm tối. Tiếng gáy thanh mảnh nhưng đầy uy lực của loài vật mang linh khí thái dương làm tôi tỉnh táo hẳn.

Tôi quay vào phòng, thu dọn quần áo và lấy ra chiếc xẻng sắt nhỏ vẫn thường dùng để xúc đất làm khuôn đúc đầu người giấy. Tôi cũng không quên mang theo chai rượu đế nhỏ và nắm muối hạt.

Tôi biết mình không thể chờ đợi thêm được nữa. Nếu để đến ngày kia, khi lễ hôn âm chính thức diễn ra, hồn phách của Hạnh sẽ bị khóa chặt vào con người giấy kia mãi mãi, và mẹ tôi cũng sẽ gặp nguy hiểm nếu thứ tà thuật kia quay lại.

Tôi phải tìm ra sự thật. Và nơi duy nhất có câu trả lời lúc này chính là ngôi mộ mới đắp của Hạnh ở nghĩa trang gò hoang.

Tôi rón rén bước ra cửa sau, khép hờ cánh cổng gỗ rồi đi nhanh về phía con đường mòn dẫn ra đồng. Gió đêm thổi qua rặng tre xào xạc, nghe rất rợn người.

Ở gốc cây đa cổ thụ đầu làng, một bóng người gầy gò, khoác chiếc áo tơi rách rưới đang đứng đợi sẵn. Đó là lão ăn mày. Trên tay lão cầm một chiếc gậy tre và một cái giỏ nan nhỏ, bên trong có tiếng động sột soạt như tiếng móng vuốt của con vật gì đó đang cào cấu vào thành giỏ.

Lão ăn mày nhìn thấy tôi, đôi mắt kèm nhèm nheo lại dưới vành nón lá rách:

- Đến rồi đấy à? Mày có mang theo đinh quan tài ngâm máu chó đen không?

Tôi gật đầu, vỗ vỗ vào chiếc túi vải đeo bên hông:

- Tôi mang đủ cả rồi. Lão chắc chắn là dưới mộ Hạnh có thứ giữ hồn cô ấy chứ?

Lão ăn mày cười khặc khặc, để lộ vài chiếc răng vàng ố:

- Con bé Hạnh chết không nhắm mắt, lại bị kẻ xấu yểm bùa giữ xác. Đêm nay ta với mày đào mộ nó lên, sẽ thấy một hang chuột lớn ngay dưới đáy quan tài. Thứ giữ hồn nó nằm ở trong cái hang đó. Đi mau kẻo trời sáng, sương xuống thì khó làm việc.

Tôi siết chặt cây xẻng sắt trong tay, bước chân dồn dập đuổi theo bóng dáng gầy gò của lão ăn mày đang khuất dần sau rặng sậy già. Phía trước chúng tôi, nghĩa trang gò hoang hiện ra dưới ánh trăng nhạt với những nấm mộ đất lô nhô như những chiếc bát úp ngược, lạnh lẽo và im lìm đón chờ những kẻ dám quấy rầy giấc ngủ của người âm.

Chương khác

Xem thêm