Người Giấy - Chương 13: Chương 013: Tiếng Hỏi Trái Miệng
Tôi cắm đầu chạy trốn phăng phăng giữa đêm tối mịt mùng. Đôi chân trần giẫm lên sỏi đá sắc nhọn dọc đường đê đau nhói, nhưng nỗi sợ hãi tột cùng khiến…
Nội dung chương
Tôi cắm đầu chạy trốn phăng phăng giữa đêm tối mịt mùng. Đôi chân trần giẫm lên sỏi đá sắc nhọn dọc đường đê đau nhói, nhưng nỗi sợ hãi tột cùng khiến tôi không còn cảm giác gì nữa. Hai bên đường, rặng lau sậy cao quá đầu người cứ lay động xào xạc theo từng đợt gió chướng, tạo ra những âm thanh rợn người hệt như tiếng cười khúc khích của người đàn bà mặc áo cưới màu đỏ thẫm ngoài bờ sông. Tôi không dám ngoái đầu lại nhìn, bởi tôi biết chỉ cần một giây chần chừ, bóng trắng kia sẽ bắt kịp và kéo tôi xuống lòng sông lạnh ngắt.
Tôi chạy mãi, chạy cho đến khi nhìn thấy ánh đèn bão treo lửng lơ trước hiên nhà của chú Cửu. Ngôi nhà ngói ba gian nằm nép mình bên rặng tre già ở rìa làng Vĩnh Cách hiện ra trước mắt tôi. Đây cũng là xưởng làm đồ mã duy nhất trong vùng. Tôi lao qua chiếc cổng tre xộc xệch, vấp phải bực cửa gỗ lim rồi ngã nhào xuống nền sân gạch ẩm ướt.
Tiếng động mạnh ngoài sân khiến chú Cửu giật mình. Chú đang ngồi bên chiếc bàn tre khâu nốt chiếc đầu ngựa giấy cho đám tang nhà cụ Bá ở cuối làng. Chú đứng phắt dậy, tay cầm chiếc kéo cắt giấy sắc lẻm, vội vã chạy ra sân. Thấy tôi nằm sóng soài dưới đất, thở không ra hơi, chú vội vàng đỡ tôi dậy.
- Danh! Sao thế này cháu? Đêm hôm khuya khoắt chạy đi đâu mà để người ngợm ra nông nỗi này?
Tôi không trả lời ngay được, hai tay bấu chặt lấy vai chú Cửu, miệng lắp bắp, lồng ngực phập phồng dữ dội. Chú Cửu nhíu mày, đưa mắt nhìn xuống ngực áo tôi rồi biến sắc. Trên nền áo vải thô màu nâu sồng của tôi, có một vệt bùn đen ngòm, ướt sũng in rõ hình một bàn tay người với năm ngón dài ngoằng, nhọn hoắt. Vệt bùn ấy không giống bùn đất thông thường ngoài đồng ruộng. Nó bốc lên mùi tanh nồng của nước sông chết lâu ngày, trộn lẫn với mùi keo hồ dán người giấy đã lên men thối.
Chú Cửu đưa ngón tay quệt một chút bùn đen trên ngực tôi rồi đưa lên mũi ngửi. Gương mặt chú lập tức trở nên nghiêm trọng. Chú không nói không rằng, xốc nách tôi đứng dậy rồi dìu vào trong nhà. Chú đóng chặt hai cánh cửa gỗ lim nặng nề lại, cài then ngang chắc chắn rồi châm thêm dầu vào ngọn đèn bão đặt trên bàn.
Ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn hắt lên những bức vách dán đầy giấy bản. Ở các góc nhà, ba bốn con người giấy đứng bất động, gương mặt chúng được vẽ má hồng rực, môi đỏ chót, nhưng tuyệt nhiên phần mắt chỉ là hai khoảng trắng trống trơn, không hề có lòng đen. Chú Cửu rót cho tôi một bát nước gừng ấm nóng, đặt vào tay tôi.
- Uống đi cho ấm người, rồi kể rõ cho chú nghe cháu đã gặp phải thứ gì ngoài kia.
Tôi bưng bát nước bằng hai tay, uống một hơi hết sạch. Vị cay nồng của gừng giúp tôi lấy lại chút hơi ấm, nhưng cái lạnh buốt từ vệt bùn trên ngực vẫn đang ngấm dần qua lớp áo thô, chạm thẳng vào da thịt tôi, buốt nhói hệt như có hàng chục cây kim nhỏ cắm vào da. Tôi run rẩy kể lại chuyện mình chạy ra bờ sông và chạm trán với người đàn bà mặc áo cưới màu đỏ đứng bên chiếc kiệu trôi sông.
- Cháu gặp cô ta ở chỗ cây gạo cụt ngọn đúng không?
- Vâng, đúng chỗ ấy chú ạ. Cô ta đứng quay lưng lại với cháu, nhưng khi cháu định quay đầu chạy thì cô ta đã áp sát ngay sau lưng. Mặt cô ta trắng bệch, môi đỏ chót hệt như mấy con người giấy trong xưởng của chú. Cô ta nhìn cháu rồi hỏi một câu kỳ lạ lắm.
Chú Cửu ngừng tay vê điếu thuốc lào, ánh mắt chú chăm chú nhìn tôi đầy lo ngại.
- Cô ta hỏi thế nào? Cháu đã trả lời chưa?
- Cô ta hỏi cháu: "Nhà anh có người chết, sao chưa dựng kiệu hoa?". Giọng cô ta the thé, nghe lạnh buốt cả tai. Cháu sợ quá, nhưng sực nhớ đến lời chú dặn dạo trước về luật lệ của người cõi âm. Khi họ hỏi những câu kỳ lạ, tuyệt đối không được trả lời thẳng thắn, mà phải mượn cát ngôn trả lời ngược lại để đánh lừa họ.
Chú Cửu gật đầu, thúc giục.
- Rồi cháu trả lời thế nào?
- Cháu bảo với cô ta: "Nhà tôi vừa có đám hỷ, kiệu hoa đã rước người sống đi từ kiếp trước rồi". Nói xong câu ấy, cháu thấy cô ta khựng lại một nhịp, mặt biến dạng đi. Cháu nhân cơ hội đó cắm đầu chạy thẳng về đây. Nhưng lúc chạy, cháu cảm giác có một bàn tay lạnh ngắt đập mạnh vào ngực mình.
Nghe tôi kể xong, chú Cửu thở phào một hơi dài, nhưng nét mặt căng thẳng của chú vẫn chưa giãn ra hoàn toàn. Chú đặt điếu cày xuống góc tường, đứng dậy đi lại quanh bàn tre.
- May cho cháu là còn nhớ lời chú dặn. Đó chính là thuật mượn cát ngôn trả lời ngược để giữ mạng. Nữ quỷ kia chính là vong hồn của một cô gái chết trẻ dưới sông, đang tìm kiếm người để làm hôn âm. Nếu lúc ấy cháu trả lời thật rằng nhà không có ai chết, hoặc sợ hãi không nói nên lời, cô ta sẽ lập tức bắt hồn cháu đi để hoàn thành nghi lễ cưới gả dưới âm ty. Câu hỏi của cô ta là một cái bẫy trái miệng. Cô ta hỏi về người chết nhưng thực chất là muốn lấy mạng người sống.
Tôi cúi đầu nhìn vệt bùn hình bàn tay trên ngực áo mình, lo lắng hỏi.
- Nhưng còn vệt bùn này thì sao hả chú? Cháu vẫn thấy nó lạnh buốt, cảm giác như cái lạnh đang bò dần vào trong xương tủy.
Chú Cửu bước đến bên tôi, vạch chéo vạt áo của tôi ra. Dưới lớp vải, ngay tại vị trí vệt bùn in bên ngoài, da thịt tôi đã chuyển sang màu tím tái, nổi lên những mạch máu đen li ti hệt như mạng nhện. Chú Cửu tặc lưỡi, nét mặt đăm chiêu.
- Cô ta đã kịp đánh dấu cháu rồi. Vệt bùn này là dấu tay của người âm, chứa đầy oán khí của nước sông chết. Đêm nay, cô ta nhất định sẽ tìm đến tận nhà để đòi lại câu trả lời đầy đủ. Cô ta muốn cháu phải gọi tên cô ta, hoặc cô ta sẽ gọi đúng họ tên của cháu để hoàn thành khế ước hôn âm. Một khi cháu thưa lại, hồn phách cháu sẽ bị hút vào con người giấy đại diện cho chú rể dưới miếu hoang.
Tôi nghe mà tóc gáy dựng ngược, mồ hôi hột túa ra ướt đẫm trán.
- Chú Cửu, xin chỉ cho cháu cách thoát.
Chú Cửu vỗ mạnh lên vai tôi để trấn an.
- Đã vào đến nhà chú thì không phải sợ. Chú làm nghề đồ mã này mấy chục năm, ba cái trò hôn âm này chú không lạ gì. Nhưng đêm nay cháu không được về nhà mình nữa, phải ở lại đây để chú lập trận phòng bị.
Nói rồi, chú Cửu nhanh nhẹn đi vào buồng trong. Khi trở ra, trên tay chú là một chiếc hộp gỗ cũ kỹ bám đầy bụi than và bồ hóng. Chú đặt hộp lên bàn, mở nắp ra. Bên trong hộp có mấy chiếc đinh sắt dài khoảng ba thốn, đã rỉ sét đen sì, bốc lên mùi tanh nồng rất khó chịu.
- Đây là đinh quan tài ngâm máu chó đen. Chú phải lặn lội xin từ những cỗ quan tài đôi của những cặp vợ chồng chết trẻ được cải táng, rồi ngâm trong máu chó đen đủ bốn mươi chín ngày. Đinh này có tính sát khí cực mạnh, chuyên trị những vong hồn muốn tìm người thế mạng để làm hôn âm.
Chú Cửu đưa cho tôi một đầu của sợi chỉ đỏ đã được ngâm qua nước mực tàu trộn vôi bột.
- Danh, cầm lấy đầu chỉ này. Chú cháu ta phải dùng bật mực rải vôi quanh nhà. Cháu đứng ở góc tường đằng kia, giữ chặt đầu chỉ sát đất cho chú.
Tôi làm theo lời chú dặn, giữ chặt đầu sợi chỉ đỏ sát mép tường gạch. Chú Cửu cầm đầu kia kéo căng ra, rồi dùng ngón tay gảy mạnh vào sợi chỉ. Một tiếng "bựt" vang lên, vệt mực tàu trộn vôi bột đen nhánh in thẳng xuống nền đất, chạy dọc theo chân tường. Chú cháu tôi cứ thế làm liên tục, tạo thành một đường ranh giới bao quanh khắp bốn bức tường của xưởng đồ mã, không chừa một kẽ hở nào.
Sau khi rải vôi xong, chú Cửu cầm ba chiếc đinh quan tài rỉ sét và một chiếc búa sắt đi ra phía cửa chính. Chú bảo tôi đứng yên phía sau lưng chú, tuyệt đối không được di chuyển hay lên tiếng. Chú đặt chiếc đinh đầu tiên lên ngưỡng cửa gỗ lim, giơ búa lên cao.
Trước khi gõ búa xuống, chú Cửu hít thật sâu lấy lại bình tĩnh rồi gọi to họ tên của tôi.
- Nguyễn Văn Danh! Hồn ở trên người, phách ở trên thân!
Tiếng búa gõ "bốp" một phát thật mạnh, chiếc đinh cắm ngập vào thớ gỗ lim. Chú Cửu tiếp tục đặt chiếc đinh thứ hai, giọng chú vang lên dõng dạc giữa đêm thanh vắng.
- Nguyễn Văn Danh, đừng đáp tiếng gọi và đừng ngoái về phía bóng ma!
Bốp! Chiếc đinh thứ hai găm chặt xuống ngưỡng cửa. Chú Cửu đặt chiếc đinh cuối cùng, hét lớn.
- Nguyễn Văn Danh! Ba hồn bảy vía quy vị, người âm lánh xa!
Bốp! Chiếc đinh thứ ba đã cắm sâu vào gỗ. Chú Cửu quay lại giải thích cho tôi với giọng điệu trầm ấm nhưng đầy kiên quyết.
- Khi đóng đinh trấn trạch để giữ mạng cho người bị đánh dấu, bắt buộc phải gọi đủ họ tên của họ để giữ chặt hồn phách tại vị, không để tiếng gọi của vong quỷ bên ngoài bắt đi. Ba chiếc đinh này sẽ chặn đứng tà khí không cho tràn vào nhà.
Nói xong, chú Cửu lấy ra một cuộn chỉ đỏ khác. Chú bảo tôi ngồi xuống chiếc chõng tre, rồi chú tự tay buộc một vòng chỉ đỏ quanh cổ chân bên trái của tôi, thắt một nút thật chặt. Chú dặn đi dặn lại.
- Sợi chỉ đỏ này để giữ phách của cháu không bị lìa xác khi nghe tiếng gọi của người âm. Dù có chuyện gì xảy ra, cháu cũng không được tự ý tháo sợi chỉ này ra nghe chưa?
- Cháu nhớ rồi ạ - Tôi gật đầu lia lịa.
Tiếp đó, chú Cửu đi ra bực cửa, mang theo một đôi giày vải cũ của tôi mà chú tìm thấy trong góc nhà. Chú không đặt giày ngay ngắn như bình thường mà đặt ngược chiều nhau ngay trước ngưỡng cửa gỗ - một chiếc có mũi hướng thẳng ra ngoài sân, chiếc còn lại có mũi hướng ngược vào trong nhà.
- Giày đặt ngược để đánh lạc hướng bước chân của người âm khi họ bước tới cửa. Họ nhìn thấy giày ngược sẽ không biết đường nào mà vào, đường nào mà ra, cứ thế đi luẩn quẩn ngoài sân cho đến sáng.
Mọi việc chuẩn bị xong xuôi thì đêm đã về khuya. Đồng hồ trên tường điểm mười hai giờ đêm. Tiếng gió bấc rít qua những khe hở trên mái ngói âm dương nghe buốt óc, hệt như tiếng ai oán khóc than của những người nằm dưới lòng đất lạnh. Tôi nằm co quắp trên chiếc chõng tre kê sát vách nhà, hai tay ôm chặt lấy ngực. Vệt bùn hình bàn tay trên ngực áo tôi lúc này chợt nhói buốt, cái lạnh thấu xương lan ra khắp da thịt khiến tôi run bần bật.
Không gian trong xưởng đồ mã trở nên im ắng đến phát sợ. Chỉ có tiếng dầu trong ngọn đèn bão thỉnh thoảng lại lách tách nổ nhỏ. Chú Cửu ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu cói giữa nhà, nhắm nghiền hai mắt, tay cầm chiếc gõ mõ bằng gỗ mít, gõ từng nhịp đều đặn. Tiếng cốc cốc cốc vang lên trầm đục, như muốn xua tan cái bầu không khí âm u đang bao trùm lấy ngôi nhà.
Bỗng nhiên, từ ngoài sân gạch vang lên những tiếng động lạ.
Lẹt quẹt... lẹt quẹt...
Tiếng động rất nhẹ, trông giống như tiếng ai đó đang lết đôi chân không trên nền đất ẩm ướt, hoặc tiếng giấy ráp chà xát lên mặt gạch. Tiếng động ấy cứ dịch chuyển dần từ phía cổng tre đi vào trong sân, rồi dừng lại ngay trước bực cửa chính - nơi chú Cửu vừa đóng ba chiếc đinh quan tài ngâm máu chó đen.
Tôi nín thở, mắt căng ra nhìn chằm chằm vào khe hở của hai cánh cửa gỗ lim. Qua khe cửa hẹp, tôi thấy một dải sương mù màu trắng đục đang len lỏi tràn vào, nhưng vừa chạm đến vệt mực tàu trộn vôi bột dưới đất, dải sương liền tan biến hệt như gặp phải lửa nóng.
Một tiếng gọi the thé, nhỏ nhẹ nhưng rõ mồn một vang lên từ phía bên kia cánh cửa.
- Danh à, mắt tôi để đâu rồi?
Giọng nói ấy đúng là giọng của người đàn bà mặc áo cưới màu đỏ ngoài bờ sông. Tiếng gọi cứ lặp đi lặp lại, lúc thì nghe như ở ngay sát tai tôi, lúc lại nghe như từ một nơi xa xăm dưới lòng đất dội lên. Mỗi lần tiếng gọi vang lên, sợi chỉ đỏ buộc ở cổ chân tôi lại giật mạnh một cái, khiến chân tôi đau nhói. Tôi phải cắn chặt môi để không phát ra tiếng kêu.
Chú Cửu vẫn nhắm nghiền hai mắt, tay gõ mõ đều đặn hơn, miệng lẩm nhẩm đọc chú quyết.
Bên ngoài cửa, tiếng gọi bắt đầu thay đổi. Giọng nói không còn nhẹ nhàng, ai oán nữa mà chuyển sang giọng gào thét, tức giận. Tiếng móng tay cào vào cánh cửa gỗ lim vang lên ken két, buốt nhói cả màng nhĩ. Có tiếng va đập mạnh vào cửa, làm hai cánh cửa gỗ rung lên bần bật. Tuy nhiên, ba chiếc đinh sắt rỉ sét cắm trên ngưỡng cửa chợt phát ra những tiếng xèo xèo, khói xám bốc lên nghi ngút, chặn đứng lực đẩy từ bên ngoài.
Bóng trắng ngoài cửa chắc là bị đánh lạc hướng bởi đôi giày vải đặt ngược. Tôi nghe thấy tiếng bước chân lẹt quẹt chạy vòng quanh sân, hết đi ra cổng lại quay vào bực cửa, rồi lại đi vòng ra phía sau nhà. Nhưng dù đi ngả nào, bóng trắng ấy cũng không thể bước qua nổi đường ranh giới bằng vôi bột và mực tàu mà chú cháu tôi đã rải sẵn.
Cơn đau buốt trên ngực tôi càng lúc càng dữ dội. Vệt bùn đen ngòm trên ngực áo tôi bỗng nhiên nóng ran lên hệt như có than hồng dí vào da, rồi ngay lập tức lại chuyển sang lạnh ngắt như nước đá. Tôi đau đớn đến mức hai mắt hoa lên, đầu óc quay cuồng, chỉ biết bấu chặt lấy thành chõng tre để không bị ngất đi.
Tiếng gào thét và cào cửa ngoài sân kéo dài ròng rã suốt mấy tiếng đồng hồ. Bóng trắng kia quyết không bỏ cuộc, nó cứ lởn vởn quanh nhà chú Cửu, gọi tên tôi bằng đủ mọi thứ giọng - khi thì giống giọng của người đàn bà mặc áo đỏ, khi lại chuyển sang giọng của mẹ tôi, rồi lại giống giọng của những người quen trong làng. Chú Cửu đã dặn kỹ: người âm có thể giả giọng người thân để lừa mình lên tiếng, chỉ cần tôi hé răng thưa lại một lời, khế ước sẽ thành lập và không ai cứu được nữa. Vì vậy, tôi chỉ biết nhắm chặt mắt, bịt tai lại, cố gắng hướng tâm trí vào tiếng gõ mõ đều đặn của chú Cửu.
Mãi cho đến khi tiếng gà gáy canh năm cất lên từ phía đầu làng Vĩnh Cách, xua tan màn sương mù dày đặc ngoài sân, tiếng cào cửa và tiếng gọi the thé mới dịu dần rồi biến mất hẳn.
Tôi kiệt sức, hai tay buông thõng xuống thành chõng tre, lịm đi trong cơn mê mệt.