Người Giấy - Chương 7: Chương 007: Ba Cây Đinh Cong
Đám người khiêng kiệu đỏ đứng sững lại giữa bãi đất bồi ven sông. Gió từ sông Hồng thổi vào mang theo vị phù sa ẩm ướt và mùi nước tiểu của mấy con chó…
Nội dung chương
Đám người khiêng kiệu đỏ đứng sững lại giữa bãi đất bồi ven sông. Gió từ sông Hồng thổi vào mang theo vị phù sa ẩm ướt và mùi nước tiểu của mấy con chó hoang đang sủa nhăng cuội ở bờ đê phía xa. Tiếng rít từ hai hốc mắt trống rỗng của con người giấy bồi áo cưới vẫn chưa dứt hẳn, nó cứ kéo dài ra, âm u như tiếng gió lùa qua kẽ lá của rặng tre già mỗi mùa gió bấc tràn về.
Ông Cả Tỵ, người lo liệu việc khâm liệm cho đám hôn âm này, mặt cắt không còn giọt máu. Ông vội vàng giật lấy bình rượu vọc trên tay một người đi bên cạnh, ngậm một ngụm lớn rồi phun thẳng vào mặt con hình nhân bằng giấy. Làn sương rượu cay nồng bay ra, làm nhòe đi lớp phẩm hồng vẽ trên đôi má của con búp bê bằng giấy bản. Đôi bàn tay tre của nó lúc này mới chịu dừng lại, không quay về hướng của Văn Đệ nữa mà thõng xuống hai bên sườn, cứng đờ.
- Mau hạ huyệt! Đừng để lỡ giờ lành của người cõi dưới.
Ông Cả Tỵ hét lên, giọng khản đặc vì khói hương và gió lạnh.
Đám thanh niên trai tráng trong làng vội vã xúm lại quanh chiếc quan tài đôi sơn son thếp vàng đặt trên hai thanh đòn tre đực. Chiếc quan tài này to gấp rưỡi quan tài thường, bên trong ngăn đôi bằng một tấm gỗ mỏng. Một bên đặt thi thể của Hạnh, bên còn lại là bộ quần áo cũ của người con trai đã chết trẻ ở làng bên cùng một hình nhân bằng rơm để làm lễ phối hôn.
Tôi và Văn Đệ đứng sát mép huyệt. Lớp vôi bột rải dưới đáy huyệt trắng xóa, gặp hơi ẩm của đất cát bãi bồi bắt đầu bốc lên thứ mùi nồng hắc, xộc thẳng vào mũi làm hai mắt tôi cay xè. Theo tục lệ của làng chúng tôi, đất bãi bồi sát sông là nơi âm khí tụ hội, khi chôn cất người chết trẻ phải rải vôi thật dày để ngăn không cho phần xác bị động, cũng là để chặn đường quỷ nhập tràng tìm đến.
Bốn người đàn ông lực lưỡng vắt hai sợi dây chão bằng xơ dừa qua đòn tre, luồn xuống dưới đáy quan tài. Họ lấy thế, bắp tay nổi lên cuồn cuộn dưới ánh đuốc dầu hỏa tù mù.
- Lên đòn! Một, hai, ba... hạ!
Tiếng hô của ông Cả Tỵ vừa dứt, chiếc quan tài đôi nặng trịch bắt đầu rời khỏi đòn tre, từ từ chìm vào bóng tối của lòng huyệt sâu hoắm.
Nhưng khi chiếc quan tài chỉ mới xuống được chừng ba gang tay, chưa chạm tới lớp vôi bột dưới đáy, một tiếng "phựt" khô khốc vang lên giữa không gian tĩnh mịch.
Sợi dây chão xơ dừa ở phía đầu quan tài bỗng dưng đứt làm đôi. Đầu dây đứt văng ra, quất mạnh vào không khí tạo nên một tiếng vút sắc lẹm. Theo đà rơi, đầu chiếc quan tài chúi xuống dưới. Thế nhưng, nó không hề rơi phịch xuống đáy huyệt như lẽ thường.
Một tiếng "rầm" nghẹn tai vang lên.
Chiếc quan tài gỗ dâu sơn đỏ bật nghiêng sang một bên, nằm chênh vênh giữa hai bờ vách đất của miệng huyệt. Hai góc quan tài cắm chặt vào vách đất ẩm, treo lơ lửng giữa khoảng không. Một đầu quan tài nhô cao lên khỏi mặt đất, nghiêng một góc bốn mươi lăm độ.
Đám người khiêng kiệu rú lên một tiếng rồi bỏ chạy tán loạn ra phía rặng nhãn. Chỉ còn lại tôi, Văn Đệ, ông Cả Tỵ và hai người nhà của Hạnh đứng chết trân tại chỗ.
- Có người đỡ... Có người ở dưới đỡ lên!
Một người nhà của Hạnh run rẩy chỉ tay xuống lòng huyệt tối om.
Dưới ánh sáng chập chờn của ngọn đuốc, tôi nhìn xuống khoảng trống bên dưới chiếc quan tài đang nằm nghiêng. Lớp vôi bột trắng xóa dưới đáy huyệt phẳng lì, không hề có dấu chân người, cũng không có đất sụt. Vậy mà chiếc quan tài nặng hàng tạ ấy lại có thể đứng vững một cách vô lý giữa hai vách đất cát dễ sạt lở. Trọng lượng của gỗ dâu và thi thể bên trong đáng lẽ phải kéo sập cả bờ huyệt xuống mới phải.
Ông Cả Tỵ run rẩy vuốt mồ hôi trên trán, gương mặt nhăn nheo dưới ánh lửa trông càng thêm xám ngoét như da người chết. Ông thò tay vào chiếc túi vải chàm đeo bên hông, lôi ra một chiếc hộp gỗ nhỏ xỉn màu. Khi mở nắp hộp, một mùi tanh nồng bốc ra. Bên trong là ba cây đinh sắt dài bảy tấc, thân đinh xù xì, bám đầy một lớp chất lỏng màu nâu đen đã khô quánh lại.
- Đây là đinh quan tài ngâm máu chó đen ba ngày ba đêm. Danh, cháu cầm lấy búa. Đi theo ta.
Tôi nhìn ba cây đinh trong tay ông Cả Tỵ mà lòng bàn tay toát đầy mồ hôi lạnh. Đinh ngâm máu chó đen vốn là vật cực dương, chỉ dùng khi người chết có oán khí quá nặng, không chịu nằm yên trong áo quan. Cầm lấy chiếc búa sắt nặng trịch từ tay một người phu huyệt đã bỏ chạy trước đó, tôi cảm thấy tay mình run lên bần bật.
- Ông Cả, sao không dùng dây xích sắt khóa lại rồi hạ huyệt tiếp? Đóng đinh lúc này liệu có phạm không?
Văn Đệ đứng bên cạnh ghé tai tôi thì thầm, mắt nó không rời khỏi con người giấy mặc áo cưới đang đứng im lìm phía sau chúng tôi. Hai chiếc giày vải đỏ dưới chân con người giấy đó không biết từ lúc nào đã bị xoay ngược lại, gót giày hướng ra phía trước, mũi giày quay về phía sau gót chân tre.
Tôi chưa kịp trả lời thì ông Cả Tỵ đã quát khẽ:
- Nắp quan tài cứ bật lên. Có sức nào ở dưới đang chống lại chúng ta!
Tôi nhìn theo hướng ngón tay run rẩy của ông Cả. Tấm gỗ nắp quan tài bằng gỗ dâu dày ba phân đang có những sợi khói màu xám nhạt rỉ ra từ các khe hở. Khói không bay thẳng lên trời mà bò lan trên mặt gỗ, giống như những con giun đất đang bò tìm đường thoát thân.
Ông Cả Tỵ bước lên mép huyệt bấp bênh, một tay giữ lấy góc quan tài đang nhô cao, tay kia đặt cây đinh thứ nhất vào mép tấm gỗ nắp quan.
- Danh! Đóng!
Tôi bước tới, hai chân dẫm lên lớp đất cát sụt lở bên mép huyệt. Tôi nâng chiếc búa sắt lên, ngắm thẳng vào đầu cây đinh sắt ngâm máu chó đen.
Cạch.
Nhát búa đầu tiên giáng xuống. Tiếng kim loại va chạm với nhau vang lên chói tai giữa đêm thanh vắng. Cây đinh sắt cắm ngập vào thớ gỗ dâu được chừng một phân.
Ngay khi tiếng búa dứt, từ bên dưới nắp gỗ vang lên một âm thanh kỳ lạ. Nó không phải tiếng người khóc, cũng không phải tiếng gió rít, mà là tiếng móng tay cào vào mặt gỗ trong của quan tài.
Sột... sột... kèn kẹt.
Âm thanh đó sắc nhọn và dồn dập, nghe như có ai đó bên trong đang dùng mười đầu ngón tay cào cấu điên cuồng để tìm đường thoát ra ngoài. Tiếng cào gỗ vang lên ngay dưới vị trí tôi vừa đóng đinh.
- Đóng tiếp! Nhanh lên!
Ông Cả Tỵ hét lớn, mắt trợn trừng nhìn vào khe nắp quan tài đang rộng dần ra.
Tôi nghiến răng, dồn hết sức lực vào hai cánh tay, giáng nhát búa thứ hai xuống đầu đinh.
Một tiếng "boong" vang lên khô khốc. Lực phản hồi từ cây búa mạnh đến mức làm hai lòng bàn tay tôi tê dại, suýt nữa thì tuột tay làm rơi búa xuống huyệt.
Khi tôi nhìn lại, cây đinh sắt dày một phân, thẳng tắp ban nãy giờ đã bị uốn cong quặp lại một góc chín mươi độ, nằm bẹp dí trên mặt gỗ dâu như một con cuốn chiếu bị đè bẹp. Thân đinh cong vòng, không thể đóng sâu thêm được nữa.
Từ trong quan tài, tiếng cào gỗ đột nhiên chuyển thành tiếng đập thình thịch. Mặt gỗ dâu dày cộp rung lên bần bật dưới chân tôi.
- Đổi chỗ! Đóng cây thứ hai ở góc đối diện!
Ông Cả Tỵ vội vã chuyển sang góc bên kia của đầu quan tài. Ông đặt cây đinh thứ hai xuống, tay ông run đến mức làm cây đinh gõ liên tục vào mặt gỗ tạo nên những tiếng cạch cạch đều đặn.
Tôi lấy lại bình tĩnh, cố xua đi cảm giác lạnh lẽo đang bò dọc sống lưng. Tôi bước qua khoảng trống giữa hai vách đất, nâng búa lên cao rồi quật mạnh xuống.
Nhát búa này trúng đích, nhưng cây đinh thứ hai vừa chạm vào thớ gỗ đã phát ra một tiếng xì xì nho nhỏ, giống như khi ta thả một giọt nước vào chảo dầu đang sôi. Lớp máu chó đen khô bám trên thân đinh bỗng chốc chảy ra, hóa thành thứ chất lỏng màu đỏ sậm rỉ xuống mặt quan tài gỗ dâu sơn đỏ.
Và rồi, cây đinh thứ hai cũng cong gập lại. Nó không cong theo một hướng mà xoắn vặn lại như một đoạn dây thép gai bị kìm kẹp.
Cùng lúc đó, tiếng móng tay cào gỗ bên trong áo quan càng lúc càng to hơn. Âm thanh ấy lúc này không còn ở một chỗ nữa mà chạy dọc theo chiều dài của chiếc quan tài đôi, chạy từ ngăn của Hạnh sang ngăn bên kia của hình nhân bằng rơm.
- Ông Cả, đinh không xuống được! Đất bãi bồi này động rồi, hay là ta rút đinh ra làm lại?
Văn Đệ từ phía sau chạy lại, nó ghé vai đỡ lấy tôi khi tôi suýt trượt chân xuống mép đất cát bên dưới. Gương mặt nó dưới ánh đuốc trông nhợt nhạt, hai mắt nhìn trân trân vào ba cây đinh.
- Rút thế nào được! Đã đóng đinh trấn áp mà rút ra thì vong hồn người chết sẽ nhập vào người sống ngay lập tức. Đóng cây thứ ba! Cây này mà cong nốt thì ta phải dùng đến mực tàu rải vôi quanh nắp quan.
Ông Cả Tỵ nói, giọng run rẩy nhưng đầy quyết tâm. Ông lấy cây đinh thứ ba, cây đinh cuối cùng trong hộp gỗ. Cây đinh này ngắn hơn hai cây trước một chút, nhưng thân đinh lại dày hơn, đầu đinh có khắc một chữ bùa ngoằn ngoèo bằng mực đỏ đã phai màu.
Ông Cả đặt cây đinh thứ ba ngay chính giữa khe hở nối giữa nắp quan tài và thân quan. Đây là nơi tiếp giáp giữa cõi âm và cõi dương của chiếc áo quan.
- Danh, dồn sức vào nhát búa này. Tay đừng run.
Tôi gật đầu, hai bàn tay nắm chặt lấy cán búa bằng gỗ xoan đào đã lên nước bóng loáng. Tôi đứng vững hai chân trên mép huyệt đất bồi, mắt nhìn thẳng vào đầu cây đinh có khắc chữ bùa.
Gió sông bỗng dưng lặng hẳn. Không gian xung quanh im phăng phắc đến mức tôi có thể nghe rõ tiếng tim mình đang đập thình thịch trong lồng ngực và tiếng thở dốc, nặng nề của ông Cả Tỵ bên cạnh. Con người giấy mặc áo cưới đứng cách đó vài bước chân vẫn im lìm, đôi giày ngược của nó như cắm chặt xuống nền đất ẩm.
Tôi giơ búa lên cao qua đầu. Lực cánh tay dồn vào đầu búa sắt.
Đúng lúc chiếc búa chuẩn bị giáng xuống đầu đinh, một luồng gió lạnh từ dưới lòng huyệt tối om thốc thẳng lên mặt tôi, mang theo mùi của đất ẩm, mùi vôi bột nồng hắc và cả mùi của phấn son rẻ tiền dùng để trang điểm cho người chết.
Tôi nhắm mắt lại theo bản năng rồi quật mạnh búa xuống.
Coong!
Tiếng va chạm vang dội cả một vùng bãi bồi ven sông. Chiếc búa sắt đập trúng đầu đinh, nhưng cảm giác truyền lại nào phải độ chắc của gỗ dâu; đó là một sự mềm nhão, giống như tôi vừa đóng búa vào một bãi bùn lầy.
Khi tôi mở mắt ra, cây đinh thứ ba đã cong quặp lại thành một hình tròn hoàn chỉnh, đầu đinh cắm ngược trở lại vào chính thân đinh, tạo thành một chiếc vòng sắt xù xì nằm trên nắp quan tài.
Ba cây đinh sắt ngâm máu chó đen, cả ba cây đều cong quẹo, không một cây nào xuyên qua được lớp gỗ dâu để giữ chặt nắp quan tài.
Ông Cả Tỵ nhìn ba cây đinh cong, gương mặt ông từ xám ngoét chuyển sang trắng bệch như tờ giấy bản. Ông lùi lại một bước, hai chân khuỵu xuống mặt đất cát bồi ẩm ướt.
- Hỏng rồi... cả ba cây đinh đều cong. Oán khí trong quan tài không chỉ có một lớp.
Từ bên trong chiếc quan tài đôi đang nằm nghiêng chênh vênh trên miệng huyệt, tiếng móng tay cào gỗ đột ngột ngưng bặt. Sự im lặng đáng sợ bao trùm lấy nghĩa địa bãi bồi.
Nhưng sự im lặng đó không kéo dài lâu.
Từ khe hở của nắp quan tài, nơi có những sợi khói xám rỉ ra ban nãy, bắt đầu phát ra những tiếng thì thầm nhỏ xíu. Tiếng thì thầm của nhiều người, lúc xa lúc gần, như tiếng gió rít qua những kẽ tre đực nhưng lại rõ mồn một thành từng lời, từng chữ.
Văn Đệ đứng bên cạnh tôi, bàn tay nó nắm chặt lấy vai áo tôi run lên bần bật. Nó chỉ tay về phía con người giấy mặc áo cưới.
Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đuốc sắp tàn, hai hốc mắt đen ngòm của con người giấy không biết từ lúc nào đã chảy ra hai dòng nước màu đen kịt, chảy dài xuống đôi má hồng quét phẩm, thấm đẫm vào chiếc áo cưới bằng giấy bản màu đỏ chót. Đôi giày ngược của nó bắt đầu dịch chuyển, phát ra tiếng sột soạt nhẹ nhàng trên mặt đất cát bồi, từng bước một tiến về phía miệng huyệt nơi chiếc quan tài đang nằm chênh vênh.