Nhà Có Đám - Chương 1: Khâm Liệm
Cơn mưa phùn cuối xuân kéo dài ròng rã suốt một tuần, biến con đường độc đạo dẫn vào xã nghèo ven huyện thành một vệt bùn đỏ quạch, nhão nhoét. Nước mưa…
Nội dung chương
Cơn mưa phùn cuối xuân kéo dài ròng rã suốt một tuần, biến con đường độc đạo dẫn vào xã nghèo ven huyện thành một vệt bùn đỏ quạch, nhão nhoét. Nước mưa từ mái hiên lớp học cấp hai xã nhỏ từng giọt đều đặn xuống hành lang đất nện. Tiếng giọt gianh rơi xuống những vũng nước đọng nghe bộp bộp, đơn điệu và buồn tẻ. Những lớp học đã tan từ lâu, học sinh túa ra về dưới những chiếc nón lá rách hoặc những tấm ni-lông che đầu. Sân trường vắng lặng, những vũng nước đục ngầu phản chiếu bầu trời xám xịt.
Liên đứng trước cửa lớp 7B, tay giữ chặt chiếc xích sắt rỉ sét để khóa cửa. Tiếng xích sắt va vào cánh cửa gỗ mục kêu lách cách khô khốc giữa khoảng không gian tĩnh mịch của buổi hoàng hôn. Trời chập tối nhanh hơn mọi ngày. Mây xám từ phía núi sà thấp xuống, nuốt chửng những ngọn keo lá tràm bao quanh sân trường, chỉ để lại một màu xám xịt, u uất. Cô kéo vạt áo khoác mỏng để cản bớt cái lạnh ẩm ướt đang thấm vào da thịt. Là một cô giáo trẻ từ tỉnh khác về đây nhận công tác, Liên vẫn chưa thể quen được với cái lạnh buốt và sự cô tịch của vùng bán sơn địa này khi đêm xuống.
Đúng lúc Liên quay người định bước xuống bậc thềm gạch rêu phong để trở về gian phòng tập thể ở cuối dãy, một âm thanh lạ lùng từ phía cuối xóm vọng lại qua màn mưa dày đặc.
Cốc. Cốc. Cốc.
Tiếng mõ tre gõ đều đặn, nhịp điệu chậm rãi, nặng nề rồi ngắt quãng. Liên đứng khựng lại dưới mái hiên tranh. Tiếng mõ này cô đã nghe vài lần từ ngày về đây. Ở cái xã nghèo này, đó là tiếng mõ báo tử. Mỗi khi trong làng có người vừa trút hơi thở cuối cùng, người ta lại gõ mõ để báo hiệu cho họ hàng lối xóm chuẩn bị sang phụ giúp việc khâm liệm. Nhưng giờ này, ai trong xóm cuối vừa nằm xuống? Tiếng mõ nghe xa xăm nhưng rõ mồn một, mỗi nhịp gõ xuống đều đập thẳng vào ngực Liên một nhịp lo.
Một bóng người nhỏ thó, chân đất chạy huỳnh huỵch qua khoảng sân trường đầy vũng nước bùn. Đó là thằng Nam, học sinh ngồi bàn đầu lớp 7B, cũng là hàng xóm sát vách nhà Hương. Thằng bé thở không ra hơi, hai ống quần xắn cao đến tận bẹn, bùn đất bắn lên tận mặt, loang lổ trên chiếc áo cộc tay sờn rách. Nó vừa chạy vừa thở dốc, đôi mắt láo liên nhìn quanh như sợ có kẻ từ bãi keo đang rượt theo phía sau.
- Cô Liên! Cô ơi!
Nam gọi giật giọng, tiếng nó run rẩy lẫn trong tiếng gió lùa qua bãi keo.
Liên bước nhanh xuống bậc thềm, giữ chặt chiếc cặp da sờn góc dưới nách để tránh nước mưa hắt vào. Cô hỏi:
- Có chuyện gì thế Nam? Sao muộn thế này chưa về nhà? Ba mẹ không mắng à?
Nam đứng thở dốc dưới bóng tối của cây xà cừ cổ thụ góc sân. Nó đưa tay quệt ngang mũi, hai con mắt mở to đầy vẻ hốt hoảng:
- Cái Hương... cái Hương bị người ta tắm rửa sạch sẽ bằng nước lá thơm rồi đưa sang nhà ông Tuấn Cử ở cuối xóm rồi cô ạ. Cháu thấy mẹ nó khóc ghê lắm, còn mấy bà trong họ đang khênh đồ sang bên ấy. Người ta bảo tối nay làm lễ.
Liên nhíu mày, gió lạnh thổi tạt một vốc nước mưa phùn vào mặt cô tê buốt. Cô hỏi lại để xác nhận:
- Hương sang nhà ông Tuấn làm gì? Tiếng mõ dưới kia là nhà ai có tang à? Có người vừa nằm xuống sao?
Nam lắc đầu quầy quậy, giọng nó nhỏ đi như sợ có ai đó đang rình mò trong bóng tối của rặng keo:
- Chẳng ai bảo là chết cả cô ạ. Người ta bảo sang đón cái Hương về làm dâu gạt nợ cho ba mẹ nó. Nhưng cháu thấy họ gõ mõ như lúc cụ nội cháu mất ngày xưa. Ba cháu bảo nhà họ Tuấn làm lễ đón dâu mà cứ như khâm liệm người chết. Cô ơi, cái Hương nó khóc to lắm, lúc bị dắt đi nó cứ nhìn về phía trường mình.
Liên siết chặt cuốn sổ điểm danh đang cầm trên tay. Cuốn sổ bìa xanh có đóng dấu đỏ của trường cấp hai xã, góc trên ghi rõ danh sách lớp 7B. Trong đó, cái tên Nguyễn Thị Hương nằm ở số thứ tự mười hai. Hương là một đứa trẻ ngoan, học khá văn, nhưng mấy ngày nay em thường xuyên ngủ gật trong lớp, hai quầng mắt thâm quầng vì thiếu ngủ. Mỗi lần Liên hỏi, em chỉ cúi đầu bảo nhà nhiều việc bận. Ba mẹ Hương nợ nần chồng chất, cả làng này ai cũng biết họ phải vay mượn nhà họ Tuấn để trang trải tiền thuốc men cho người cha đau ốm quanh năm.
Liên rút chiếc đèn pin vỏ sắt từ trong cặp ra. Đèn pin dùng đôi pin Con Thỏ đã dùng nhiều tháng, ánh sáng vàng vọt phát ra từ bóng đèn sợi đốt chỉ đủ rọi sáng một khoảng đất nhỏ đầy bùn dưới chân. Cô bảo Nam:
- Em về nhà ngay đi kẻo ba mẹ mong. Để cô sang bên nhà ông Tuấn xem sao. Không thể có chuyện cưới xin gì vào giờ này, nhất là với một đứa trẻ mới mười ba tuổi.
Nam nhìn chiếc đèn pin lập lòe của cô giáo, vẻ mặt lộ rõ sự sợ hãi của một đứa trẻ lớn lên giữa những lời đồn thổi của làng quê. Nó không dám nói thêm lời nào, quay đầu chạy biến vào bóng tối của con đường đất dẫn về phía xóm trong, để lại Liên một mình giữa sân trường vắng lặng.
Liên đi một mình trên con đường đất đỏ dẫn về phía cuối làng. Cơn mưa phùn kéo dài từ sáng khiến mặt đường nhão nhoét như cháo loãng. Mỗi bước chân của cô đều bị bùn giữ lại, tiếng dép nhựa quai ngang miết xuống bùn nghe sột soạt, nặng nề. Hai bên đường, rặng keo lá tràm tối sẫm đứng im lìm như những bóng người khổng lồ canh giữ lối vào xóm nghèo. Tiếng ếch nhái dưới ruộng nước u uôm vang lên từng đợt, nghe nặng nề và đơn điệu. Con đường này ban ngày vốn đã vắng vẻ, nay dưới màn mưa đêm lại càng thêm âm u.
Làng quê đầu những năm hai nghìn chưa có điện lưới. Đêm tối bao trùm lên những mái nhà ngói ba gian lụp xụp. Thỉnh thoảng, ánh đèn dầu leo lét hắt ra từ khe cửa sổ của một nhà nào đó chỉ làm cho bóng tối xung quanh thêm phần đặc quánh. Liên đi qua những ngôi nhà ấy, nghe thấy tiếng xì xào bàn tán bên trong. Nhưng hễ cô hướng ánh đèn pin về phía cổng, tiếng xì xào lập tức im bặt, rồi tiếng then gỗ kéo lại cạch một cái lạnh lùng. Cả làng như đang trốn tránh một việc ai cũng biết nhưng không ai dám gọi tên ra miệng. Họ biết Hương bị đưa đi, họ biết nhà họ Tuấn đang làm gì, và họ chọn cách khép chặt cửa phòng. Họ biết Hương bị đưa đi, họ biết nhà họ Tuấn đang làm gì, nhưng tất cả đều chọn cách khép chặt cửa phòng.
Đèn pin trong tay Liên yếu dần, ánh sáng chuyển sang màu đỏ quạch. Cô phải đập nhẹ vào thân sắt mấy lần để bóng đèn sáng rõ hơn một chút. Con đường đất đỏ kéo dài dẫn thẳng đến ngôi nhà ngói năm gian của nhà họ Tuấn nằm biệt lập sát bìa rừng keo. Đây là khu vực cuối cùng của xóm, nơi đất đai cằn cỗi và chỉ có những rặng keo lá tràm xào xạc trong gió.
Nhà ông Tuấn Cử hiện ra sau những tán lá tre rậm rạp. Đó là một cơ ngơi bề thế nhất vùng này, tường bao quanh xây bằng gạch chỉ đỏ, cổng gỗ lim cao quá đầu người. Nhưng hôm nay, cái cổng ấy không hề dán giấy đỏ chữ song hỷ, cũng chẳng có tiếng pháo nổ hay tiếng cười nói rộn rã của một đám cưới thông thường. Không gian bao trùm bởi một sự tĩnh lặng đến đáng sợ, chỉ có tiếng mưa rơi lẹt bẹt trên những tàu lá chuối ngoài vườn.
Trước cổng chỉ treo một ngọn đèn bão tù mù, ánh lửa chao đảo theo từng cơn gió lạnh. Dưới sân gạch, người ta đặt một chậu than trấu đang cháy âm ỉ, khói xám bốc lên khét lẹt. Cạnh chậu than là một bó nhang lớn cắm trong cái lon sữa bò đầy cát, khói nhang nghi ngút hòa cùng hơi ẩm của nước mưa tạo nên một mùi hương nồng hắc, ngột ngạt. Sát hiên nhà, một chiếc chiếu cói mới tinh còn thơm mùi cói khô được trải sẵn. Liên biết loại chiếu này, ở quê cô, người ta chỉ trải chiếu mới như thế này khi chuẩn bị đặt người quá cố nằm xuống để khâm liệm. Chiếc chiếu nằm cô độc dưới mái hiên, hứng những giọt nước mưa tạt vào từ rìa mái ngói.
Một vài người đàn bà trong họ mặc áo nâu sồng, đầu quấn khăn mỏ quạ đang đi lại lầm lũi dưới sân. Họ không nói chuyện với nhau, chỉ trao đổi bằng những cái gật đầu hoặc những cái chỉ tay rất khẽ. Tiếng mõ tre vẫn vang lên đều đặn từ gian nhà chính:
Cốc. Cốc. Cốc.
Liên bước qua ngưỡng cửa cổng gỗ. Tiếng dép của cô trên sân gạch thu hút sự chú ý của mấy người đàn bà. Họ dừng lại, nhìn cô bằng những ánh mắt lạnh lẽo, dò xét. Không một ai lên tiếng chào hỏi hay hỏi han cô giáo. Liên không dừng bước, cô đi thẳng lên bậc tam cấp, hướng về phía gian buồng bên trái, nơi có tiếng khóc thút thít nhỏ như tiếng mèo hen.
- Cô giáo đi đâu thế này?
Một giọng nói khàn khàn cất lên từ phía sau.
Liên quay lại, nhận ra bà trưởng thôn đang đứng cạnh chậu than trấu. Bà ta mặc chiếc áo bông cũ màu đen, hai tay đút vào túi áo, khuôn mặt nhăn nheo dưới ánh đèn bão trông xám xịt như đất sét. Bà trưởng thôn vốn là người có uy tín trong làng, nhưng ánh mắt bà nhìn Liên lúc này không có chút thiện chí nào.
Liên đáp, giọng cố giữ bình tĩnh:
- Tôi sang tìm Hương. Nó là học sinh của tôi, sao tự nhiên lại đưa sang đây vào giờ này? Ba mẹ nó đâu mà lại để người ta dắt nó đi thế này?
Bà trưởng thôn không trả lời ngay. Bà ta bước lại gần Liên, hơi thở nồng mùi trầu không và vôi tôi. Bà ta nhìn cuốn sổ điểm danh kẹp dưới nách Liên rồi nói nhỏ, giọng nói chứa đựng sự đe dọa ngầm ẩn:
- Hương nó có việc của nó. Cô giáo về trường đi, đêm hôm mưa gió thế này nào phải việc của cô. Việc trong làng có lệ của làng, người ngoài đừng có xen vào mà chuốc họa vào thân.
Liên tránh người đi qua bà trưởng thôn, bước thẳng vào gian buồng. Cô không thể để một đứa trẻ mười ba tuổi bị đối xử như một món hàng trao đổi nợ nần giữa đêm tối thế này.
Căn buồng tối tăm và chật hẹp, độc một ngọn đèn dầu đặt trên chiếc bàn gỗ nhỏ ở góc phòng. Hương đang ngồi im lìm trên chiếc ghế đẩu giữa phòng. Mái tóc dài của em ướt sũng, nước nhỏ ròng ròng xuống vai áo làm ướt đẫm một mảng lớn. Mùi lá bưởi, lá sả và hương nhu từ mái tóc em bốc lên ngào ngạt, cố át đi cái mùi ẩm mốc của gian buồng cũ và mùi khói nhang từ ngoài sân bay vào. Mái tóc ấy vừa được gội rửa sạch sẽ, nhưng chẳng phải để làm cô dâu lộng lẫy, mà để chuẩn bị cho một nghi thức khác.
Khuôn mặt Hương nhợt nhạt, không một chút huyết sắc. Đôi môi em run rẩy, hai mắt nhìn trân trân vào khoảng không trước mặt. Em mặc một chiếc áo cánh màu trắng mới tinh nhưng chất vải thô ráp, cứng đờ.
Trước mặt Hương, trên chiếc bàn gỗ thấp, người ta bày một mâm cơm cúng. Bát cơm úp ngược đầy đặn, đỉnh cắm đôi đũa tre thẳng đứng. Quả trứng luộc bóc vỏ nằm trên chiếc đĩa sứ sứt mẻ, cạnh một chén rượu trắng sủi tăm.
Đây là mâm cơm dành cho người mới chết, thứ mà bất cứ ai ở Bắc Bộ cũng nhận ra. Nhìn mâm cơm ấy đặt trước mặt một đứa trẻ còn đang thở, Liên thấy cả cuốn sổ trong tay mình lạnh ngắt dù mưa chưa hề tạt vào buồng.
Sát vách tường phía sau Hương, một cỗ quan tài gỗ thiên còn nguyên màu sơn đỏ thẫm được kê trên hai chiếc ghế dài. Trên nắp cỗ quan tài phủ một chiếc chăn bông màu đỏ rực rỡ, loại chăn thường dùng cho các cặp vợ chồng mới cưới. Đỏ của chăn cài lên đen xám của quan tài, nhìn qua tưởng như người ta cố nhắc nhau đây là giường cưới. Nhưng mùi gỗ thiên thơm ngai ngái và kích thước của nó không thể đánh lừa được ai. Cỗ quan tài sừng sững như một bóng ma nằm chờ đợi con mồi.
Liên bước tới gần Hương, gọi khẽ:
- Hương ơi! Cô đây. Có chuyện gì thế này?
Hương giật mình, đôi mắt đờ đẫn của em từ từ chuyển hướng về phía Liên. Đôi mắt ấy trống rỗng, không có lấy một tia hy vọng. Em mấp máy môi, nhưng không phát ra âm thanh nào, chỉ có những giọt nước mắt lặng lẽ lăn dài trên đôi má lõm sâu.
Lúc này, bà trưởng thôn bước vào buồng, đưa tay chặn ngang ngực Liên. Lực tay của bà ta khỏe đến lạ lùng đối với một người già. Bà ta nói ráo hoảnh:
- Con Hương nó đi làm dâu gạt nợ rồi cô giáo ạ. Nhà thằng Tuấn sắp rút hơi tàn, phải rước nó về xông hơi ấm cho thằng bé bám lại cõi đời. Đây là phúc phận của nhà nó, vừa được xóa nợ lại vừa giúp người. Cô đừng có làm rùm beng lên.
Liên gạt tay bà trưởng thôn ra, giọng cô run lên vì giận dữ:
- Hương mới mười ba tuổi. Tên em ấy còn trong sổ trường, không ai được đem một đứa trẻ đi trả nợ như thế này. Việc này là phạm pháp! Các người đang làm cái gì thế này? Cưới xin hay là khâm liệm?
Bà trưởng thôn nhìn thẳng vào mắt Liên, nụ cười trên môi bà ta lạnh tanh, hàm răng đen nhánh vì nhuộm hạt cau lộ ra dưới ánh đèn dầu:
- Sổ của cô không gánh được thóc giống cho nhà nó. Nhà nó nợ nhà họ Tuấn từ đời ông đời cha, giờ không trả bằng người thì lấy gì mà trả? Cô giáo biết chữ thì lo việc dạy chữ đi, đừng mang luật pháp về cái xứ này. Ở đây, lệ làng nặng hơn luật nước. Cô muốn yên ổn dạy học thì đi ra ngoài ngay.
Từ góc tối của gian buồng, mẹ của Hương bước ra. Người đàn bà gầy gò, lam lũ ấy chỉ dám đứng nép sau lưng mấy người đàn bà nhà họ Tuấn. Hai bàn tay bà ta vò chặt lấy vạt áo nâu đã sờn rách, đầu cúi gằm xuống đất. Bà ta không dám nhìn con gái, cũng không dám nhìn Liên. Những tiếng nấc nghẹn ngào bị kìm nén trong cổ họng nghe như tiếng đất lở. Bà đã hoàn toàn đầu hàng trước số phận và trước thế lực của nhà họ Tuấn.
Liên quay sang mẹ Hương, giọng khẩn thiết:
- Chị ơi, chị để họ làm thế này với con Hương sao? Nó còn phải đi học, nó còn tương lai phía trước! Chị ký giấy cho nó đi học cơ mà?
Mẹ Hương vẫn im lặng, bả vai run lên bần bật dưới lớp áo mỏng. Bà ta chỉ biết khóc, hai dòng nước mắt chảy tràn qua những vết chân chim hằn sâu trên khuôn mặt khắc khổ. Bà trưởng thôn hắng giọng một tiếng đầy uy quyền, người mẹ lập tức lùi sâu hơn vào bóng tối của góc buồng, đầu càng cúi thấp như muốn tan biến vào bức tường vôi mốc.
Đúng lúc đó, từ dưới gầm cỗ quan tài gỗ thiên, một con mèo mướp nhảy ra. Nó kêu lên một tiếng sắc nhọn rồi men theo chân tường tiến lại gần chỗ Hương đang ngồi. Sự xuất hiện của con vật khiến không khí trong phòng đột ngột căng thẳng.
- Đuổi nó ra khỏi buồng này ngay! Nó lại gần nắp gỗ thì hồn cô dâu bay mất!
Một người đàn bà đứng gần cửa hét lên, giọng lạc đi vì hoảng sợ.
Hai người đàn bà khác lập tức cầm chiếc chổi tre xua đuổi con mèo một cách cuống cuồng. Họ vừa quét chổi rầm rầm xuống đất vừa lầm rầm khấn vái những câu từ kỳ quái. Một người nói to, giọng run rẩy:
- Khóa chặt cửa buồng lại! Từ nay đến bảy đêm nữa, cấm không cho con mèo nào được bén mảng đến gần nắp gỗ. Kẻo người nằm trong bật dậy bắt hồn cô dâu đi thì xôi hỏng bỏng không! Nhà họ Tuấn không gánh nổi cái họa ấy đâu!
Con mèo mướp bị chổi đập trúng đuôi, kêu lên một tiếng thảm thiết rồi nhảy tót qua ô cửa sổ nhỏ thoát ra ngoài vườn keo tối tăm. Sự hỗn loạn tạm thời lắng xuống, chỉ còn tiếng thở dốc của những người đàn bà và mùi khói nhang càng lúc càng đậm đặc trong căn buồng kín. Mùi hương nhu từ tóc Hương vẫn thoang thoảng, nhưng giờ đây nó bị lấn át hoàn toàn bởi mùi tử khí và mùi khói bếp.
Liên cố gắng tiếp cận Hương lần nữa. Cô cúi xuống, nắm lấy bờ vai đang run rẩy của học trò, cố gắng truyền cho em chút hơi ấm:
- Hương, nói cho cô biết, em có muốn ở lại đây không? Cô sẽ đưa em về trường. Không ai có quyền bắt em ở lại đây cả.
Hương ngước mắt nhìn Liên. Trong đôi mắt của đứa trẻ mười ba tuổi chỉ còn lại sự cam chịu đến lạnh người. Em mấp máy môi, môi rung lên mấy nhịp rồi thôi, vì một bóng người to lớn đã che khuất ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu.
Bà Cần, vú già của nhà họ Tuấn, bước vào. Bà ta điếc một tai, khuôn mặt khắc khổ và lạnh lùng như tượng đá, hai con mắt đục ngầu không chút cảm xúc. Trên tay bà ta cầm một tấm rèm vải màu xanh xám, loại rèm thường dùng để ngăn cách gian thờ với buồng ngủ của những gia đình trung nông xưa. Bà Cần không thèm nhìn Liên, bà ta đi thẳng đến trước mặt Hương, một tay giữ lấy vai em, tay kia chuẩn bị kéo tấm rèm che ngang gian buồng.
- Cô giáo đi ra ngoài cho người ta làm lễ. Ở đây không có việc của cô.
Bà Cần nói, giọng đứt quãng và khô khốc vì tai bên trái nghe chẳng còn gì.
Liên muốn giữ tay bà vú lại, nhưng hai người đàn bà nhà họ Tuấn đã tiến lên, đứng chen vào giữa cô và Hương. Họ dùng sức nặng của cơ thể để đẩy Liên lùi dần ra phía cửa buồng. Sức mạnh của họ như một bức tường thịt vững chãi, không cho phép cô giáo trẻ có bất kỳ cơ hội nào để can thiệp.
Liên nhìn qua khoảng trống giữa vai hai người đàn bà. Dưới ánh đèn dầu tù mù, hai bàn tay của Hương đang đặt trên đầu gối. Hai bàn tay nhỏ nhắn, gầy gò của em đang nắm chặt hai đồng tiền lẻ bằng đồng đã xỉn màu đen đúa. Đó là loại tiền đồng cổ mà người ta thường dùng để đặt vào miệng người chết lúc khâm liệm, hoặc để người chết cầm theo làm lộ phí đi đường sang thế giới bên kia. Những đồng tiền ấy lạnh ngắt, hằn sâu vào da thịt của đứa trẻ.
Một người đàn ông trung niên mặc áo vạt hò màu đen, người của nhà trai, bước đến bên cạnh Hương. Ông ta cầm một sợi chỉ đỏ dài, quấn tỉ mỉ ba vòng quanh cổ tay trái của em. Mỗi vòng quấn, ông ta lại lẩm nhẩm một câu chú gì đó rất nhỏ trong miệng, âm thanh rì rầm như tiếng ong bay. Sau khi quấn đủ ba vòng, ông ta thắt một nút thật chặt rồi cắt đứt phần chỉ thừa bằng một chiếc kéo nhỏ rỉ sét.
- Cầm cho chắc.
Người đàn ông nói với giọng trầm đục rồi gõ nhẹ vào mu bàn tay em:
- Sang đường nào cũng phải có tiền mà trả. Đừng có buông tay ra kẻo lạc lối dưới kia.
Hương không gật đầu, cũng không lắc đầu. Em chỉ siết chặt hai đồng tiền lẻ trong lòng bàn tay.
Tấm rèm vải xanh xám trong tay bà Cần bắt đầu kéo lại, che khuất dần gian buồng chật hẹp.
Liên lao về phía tấm rèm, nhưng cánh tay người đàn bà đã chặn ngang cổ cô. Cô hét vào lớp vải xanh xám, giọng lạc giữa tiếng mưa:
- Nguyễn Thị Hương! Về lớp cho cô!
Nhưng tiếng gọi của cô bị chìm nghỉm trong tiếng mõ tre đột ngột gõ dồn dập từ phía gian nhà chính. Tấm rèm khép lại hoàn toàn, ngăn cách Liên với cô học trò nhỏ. Qua khe hở nhỏ nhoi cuối cùng trước khi tấm vải rủ xuống, Liên nhìn thấy Hương siết hai đồng tiền lẻ đến bật trắng các đốt ngón tay.