Nhà Có Đám - Chương 3: Chum Nước Lá

Từ ngoài ngõ nhà họ Tuấn, Liên ngửi thấy mùi lá bưởi bị đun quá lửa, thứ mùi còn bám trên chiếc bàn trống của Hương. Đó là thứ mùi nồng hắc, ngột ngạt…

Nội dung chương

Từ ngoài ngõ nhà họ Tuấn, Liên ngửi thấy mùi lá bưởi bị đun quá lửa, thứ mùi còn bám trên chiếc bàn trống của Hương. Đó là thứ mùi nồng hắc, ngột ngạt quyện lẫn với hơi ẩm của những ngày mưa phùn dai dẳng đầu đông, tạo nên một bầu không khí đặc quánh khó thở. Gió bấc thổi thông thốc qua cánh đồng gianh xơ xác phía xa, đưa cái lạnh luồn qua lớp áo khoác mỏng của Liên, làm da thịt cô tê buốt. Cô kéo cao cổ áo len, bước đi trên con đường đất nhão nhoét dẫn vòng ra phía sau nhà họ Tuấn. Lớp bùn nhão màu xám xịt bám chặt lấy đế dép cao su, nặng trịch theo từng bước chân cô độc giữa buổi trưa muộn.

Cổng trước nhà họ Tuấn đóng im ỉm, hai cánh cửa gỗ lim xám xịt như hai tấm bia mộ dựng đứng chắn ngang tầm mắt người ngoài. Liên không đi lối đó. Cô rẽ vào con đường mòn nhỏ chạy men theo bờ rào tre để ra phía sau. Dưới chân cô, một vệt nước màu xám đục từ trong kẽ tường đá của sân sau đang rỉ ra, chảy thành một rãnh nhỏ dọc theo lối đi đất. Nước sủi bọt bong bóng màu trắng đục, mang theo những mảnh lá sả dập nát và vài miếng vỏ bưởi bị cháy sém đen sì ở rìa. Thứ nước ấy bốc lên mùi nồng của lá đun kỹ, mùi khét của củi ướt và một thứ mùi gì đó ngai ngái, khó tả.

Liên lần theo rãnh nước đục ấy, lách qua hàng rào dâm bụt khẳng khiu chỉ còn vài chiếc lá héo úa vì sương muối. Lối nhỏ dẫn thẳng vào gian bếp lò lộ thiên lợp mái ngói liệt mục nát. Khói rơm từ bếp lò bay ra nghi ngút, đọng lại dưới mái ngói thấp lè tè thành một tầng sương mù màu xám đục, che khuất tầm nhìn. Trong khoảng sân sau lát gạch đỏ đã rêu phong, mẹ Hương đang ngồi xổm bên cạnh một chum nước lớn bằng sành màu nâu sẫm. Gương mặt người đàn bà hốc hác, hai bọng mắt sưng múp và đỏ hoe như vừa trải qua một trận khóc dài. Mái tóc xơ xác của bà được búi vội bằng một chiếc trâm tre cắm xéo, vài sợi tóc mai xõa xuống má đẫm mồ hôi và nước mưa.

Bên chân mẹ Hương là một chiếc nồi đồng cỡ lớn vẫn còn dính những cọng lá hương nhu héo rũ bám chặt vào thành đồng đen đúa. Cạnh đó, một chậu sành chứa đầy nước tro đục ngầu đang ngâm bộ quần áo nâu cũ kỹ của Hương. Chiếc gáo dừa cán tre nằm lăn lóc trên nền gạch ướt, nước bên trong đã cạn khô từ lâu.

Nghe tiếng bước chân lội bùn, mẹ Hương giật mình đứng bật dậy. Chiếc rá tre đựng nắm gạo đang vo dở suýt nữa tuột khỏi tay bà, làm vài hạt gạo trắng rơi vãi xuống nền đất bẩn. Bà vội vàng liếc mắt về phía cánh cửa buồng gỗ đóng kín ở gian nhà ngang, khuôn mặt tái mét đi vì hoảng hốt. Bà bước lên hai bước, chắn giữa Liên và lối vào gian nhà chính, giọng run rẩy:

- Cô giáo... Cô giáo tìm đến đây làm gì? Cô về đi cho tôi nhờ. Người nhà họ Tuấn không muốn người ngoài, nhất là cô giáo dạy chữ, qua lại ở đây trong bảy ngày đầu đâu.

Liên không lùi lại. Cô mở chiếc cặp da đen đeo bên hông, rút bản kê khai năm sinh của Hương mà cô đã cất kỹ từ phòng hiệu trưởng. Tờ giấy mỏng hơi ẩm vì hơi sương, nhưng những dòng chữ khai sinh của Hương vẫn rõ ràng dưới ánh sáng ban ngày. Liên đưa tờ giấy ra trước mặt mẹ Hương, giọng cô nghiêm lại nhưng cố giữ sự bình tĩnh:

- Bác nhìn xem. Đây là bản khai sinh của Hương. Em ấy mới mười ba tuổi, chưa đủ tuổi công dân, chưa đến tuổi gả chồng. Bác có biết pháp luật không cho phép việc này không? Việc cưới xin trừ nợ này là phạm pháp.

Mẹ Hương không hề liếc nhìn tờ giấy trong tay Liên. Bà cúi gục đầu, đôi bàn tay gầy guộc lại thọc vào rá gạo, tiếp tục chà xát những hạt gạo vào thành rá tre. Nước trong rá gạo đã được vo đi vo lại nhiều lần, trong vắt đến mức nhìn rõ những ngón tay đỏ ửng, nứt nẻ vì lạnh của bà. Tiếng gạo xát vào tre kêu sàn sạt, đều đặn và lạnh lẽo trong không gian tĩnh mịch của buổi trưa muộn.

- Giấy tờ thì giải quyết được gì hả cô?

Giọng mẹ Hương khản đặc.

- Ở cái xã này, giấy tờ không nuôi nổi người ta qua mùa giáp hạt. Cô cất cái tờ giấy ấy đi kẻo người ta trông thấy lại thêm chuyện.

Liên tiến thêm một bước, chiếc dép cao su giẫm lên vũng nước đục bên chum sành. Cô nói to hơn, cố gắng đánh thức lòng trắc ẩn của người mẹ:

- Hương là học trò của tôi. Em ấy học giỏi nhất lớp 8A, có tên trong danh sách thi học sinh giỏi huyện. Bác nỡ để em ấy bỏ học giữa chừng để làm cái việc mê tín dị đoan này sao? Bác gọi em ấy ra đây cho tôi nói chuyện.

Mẹ Hương dừng tay vo gạo. Bà ngẩng đầu lên, đôi mắt đục ngầu nhìn thẳng vào Liên, chứa đựng một sự tuyệt vọng cùng cực xen lẫn oán hận. Bà nói, từng lời như trút ra từ lồng ngực lép kẹp:

- Nhà tôi nợ phân bón, nợ thóc giống. Mấy vụ liền lúa lép, lợn lại chết dịch. Con bé sang bên ấy thì nhà tôi mới còn đường sống.

Liên siết chặt góc bản kê khai trong tay. Cô hỏi gặng:

- Món nợ đó cụ thể là bao nhiêu? Có giấy nhận nợ đàng hoàng không? Nếu là nợ kinh tế, chúng ta có thể nhờ chính quyền can thiệp, hoặc tôi sẽ kêu gọi nhà trường giúp đỡ. Không thể dùng một đứa trẻ để gán nợ như thế này được.

Mẹ Hương cười khổ, tiếng cười nghe như tiếng củi khô gãy trong bếp lò:

- Giấy nợ à? Giấy nợ do chính tay ông Tuấn Cử giữ. Mỗi vụ họ lại cộng thêm tiền thóc, tiền phân bón, rồi cả tiền thuốc men cho đứa con trai đau yếu của họ nữa. Họ bảo con trai họ cần hơi người non để kéo dài mạng sống, mà nhà tôi thì không có tiền trả. Họ bảo trừ nợ bằng người. Cả làng này ai cũng biết, ai cũng chịu thế, có phải riêng nhà tôi đâu mà cô đòi kiện với cáo.

Liên lắc đầu, giọng cô run lên vì giận dữ:

- Không có điều luật nào, không có món nợ nào cho phép đem một đứa trẻ đổi lấy mạng người khác. Bác còn đường sống, thế đường của Hương ở đâu?

Mẹ Hương đột ngột buông rá gạo xuống sàn gạch. Nước gạo bắn tung tóe lên tà áo nâu của bà. Bà lao đến gào lên, giọng nghẹn ngào trong nước mắt:

- Cô nuôi được hai mẹ con tôi không? Cô trả thóc cho họ không? Người ta dồn đến cửa rồi, tôi biết chạy đi đâu? Cô nuôi được nó thì cô dắt nó đi. Còn không, xin cô đừng làm nhà họ Tuấn nổi giận.

Liên nhìn người mẹ đang khóc lóc thảm thiết trước mặt. Sự bất lực của người đàn bà này như một gọng kìm bóp nghẹt mọi lý lẽ của cô giáo trẻ. Nhưng cô không thể lùi bước:

- Em ấy là học trò của tôi. Tôi không thể coi như chưa từng thấy em ấy ngồi trong gian buồng ấy.

Giữa lúc mẹ Hương đang khóc nấc lên, từ gian nhà chính bỗng vang lên tiếng bước chân nện bình bịch xuống sàn gỗ, kèm theo tiếng then cửa sắt kéo ra sột soạt. Mẹ Hương lập tức im bặt. Bà vội vàng lấy tay quệt ngang nước mắt, gương mặt lộ rõ vẻ sợ hãi tột độ. Bà ghé sát tai Liên, hạ giọng xuống mức tối đa, hơi thở nóng hổi mang theo mùi trầu không hôi hám:

- Cô nhỏ tiếng thôi. Người nhà họ Tuấn mà nghe thấy là họ không để yên đâu. Con Hương... nó đã được tắm sạch hơi nhà mẹ đẻ bằng nước lá bưởi lá sả từ sáng sớm rồi. Bảy ngày tới, tuyệt đối không được gọi tên cũ của nó trước cửa buồng. Cô cũng phải cẩn thận, đừng để con mèo nào bén mảng tới gần cỗ quan tài phủ chăn đỏ trong gian buồng ấy. Hồn vía nó đang lơ lửng, động vào là mất mạng cả lũ đấy.

Liên nghe thấy hai từ "quan tài" thì da gà dựng ngược lên. Cô túm lấy vai mẹ Hương, hỏi dồn dập:

- Hương đang ở đâu? Có phải em ấy bị nhốt trong cái buồng kia không? Người ta có cho em ấy ăn uống gì không? Sao lại có quan tài ở đây?

Mẹ Hương run rẩy chỉ tay về phía cánh cửa gỗ đóng kín mít ở góc sân sau. Cánh cửa được khóa ngoài bằng một sợi xích sắt hoen rỉ. Nhưng bà chưa kịp mở miệng trả lời thì từ ô cửa thông gió tối om của gian nhà ngang, giọng bà vú già Cần quát vọng ra, âm thanh khàn đặc và chói tai:

- Ai ngoài sân đấy? Mẹ con nhà kia làm cái gì mà xầm xì mãi thế? Có lo mà thổi cơm nước đi không thì bảo!

Mẹ Hương giật thót mình. Bà vội vã bê rá gạo vo dở chạy thẳng vào trong bếp lò, không dám ngoảnh đầu lại nhìn Liên. Trước khi khuất sau cánh cửa bếp, bà cố dùng bàn chân trần đẩy chiếc gáo dừa cán tre về sát chân chum nước sành, như muốn xóa sạch mọi dấu vết nói chuyện vừa rồi.

Liên đứng trơ trọi giữa khoảng sân sau ẩm ướt. Cô nhìn chiếc gáo dừa nằm nghiêng bên chân chum sành. Cô cúi xuống nhặt chiếc gáo lên để cất gọn vào góc. Khi những ngón tay cô chạm vào phần cán tre thô ráp, cô chợt nhận ra một sợi chỉ đỏ được quấn chặt quanh những thớ tre.

Dưới ánh sáng mờ tối của buổi chiều tà, Liên nhìn kỹ. Đó là mấy sợi tóc dài, đen và bóng, quấn chặt thành nhiều vòng quanh cán gáo. Những sợi tóc ấy không phải tự nhiên rụng ra, chúng bị quấn và thắt nút lại như thể đã có một sự giằng co dữ dội xảy ra lúc người ta dội nước lên đầu Hương để tẩy trần. Những sợi tóc bết chặt vào thớ tre ẩm ướt, dai nhách và lạnh ngắt.

Liên đặt chiếc gáo dừa xuống thành chum. Cô nhìn vào lòng chum sành sâu thẳm, nơi chứa thứ nước lá đục ngầu dùng để tắm cho cô dâu trước khi về nhà chồng. Nước trong chum có màu xám đục, bên trên lềnh bềnh vài cọng lá sả dập và vỏ bưởi héo. Liên đưa bàn tay xuống, thọc sâu vào lớp nước lạnh ngắt dưới đáy chum để tìm kiếm. Ngón tay cô chạm phải một vật bằng kim loại nhỏ, sắc nhọn nằm lẫn dưới lớp cặn bùn mỏng ở đáy chum sành. Cô kéo tay lên.

Nằm trong lòng bàn tay ướt sũng của Liên là chiếc cặp tóc bằng sắt sơn màu xanh lá cây quen thuộc của Hương. Đây là chiếc cặp tóc mà Hương vẫn thường dùng để kẹp phần tóc mái mỗi khi ngồi viết bài ở bàn thứ ba cạnh cửa sổ lớp học. Giờ đây, một nhánh của chiếc cặp đã bị uốn cong gập lại thành một góc vuông kỳ dị, như thể bị một lực rất mạnh bẻ gãy trong lúc giằng co. Quanh phần bản lề nhỏ của chiếc cặp, những sợi tóc đen dài vẫn còn mắc kẹt lại, đan xen chặt chẽ với nhau thành một búi nhỏ.

Liên giấu chiếc cặp tóc cong vào lòng bàn tay. Trên miệng gáo dừa, những sợi tóc của Hương vẫn dính thành một túm, còn từ sau cánh cửa buồng vang ra tiếng người ra lệnh đun thêm một nồi nước lá.

Chương khác

Xem thêm