Nhà Có Đám - Chương 6: Cổng Nhà Họ Tuấn
Liên ngồi bên chiếc bàn gỗ ọp ẹp trong căn phòng trọ, tay siết chặt chiếc đèn pin vỏ sắt màu bạc. Chiếc đèn pin loại ba pin Con Thỏ dài ngoằng, thân kim…
Nội dung chương
Liên ngồi bên chiếc bàn gỗ ọp ẹp trong căn phòng trọ, tay siết chặt chiếc đèn pin vỏ sắt màu bạc. Chiếc đèn pin loại ba pin Con Thỏ dài ngoằng, thân kim loại mát lạnh và nặng trịch. Cô gạt nhẹ công tắc trượt, vệt sáng màu vàng đục phát ra từ bóng đèn dây tóc nhỏ xíu, quét một đường yếu ớt lên bức tường quét vôi bong tróc. Ánh sáng chập chờn lúc tỏ lúc mờ do các tiếp điểm kim loại bên trong bị rỉ sét. Liên phải dùng lòng bàn tay vỗ mạnh vào phần đuôi đèn, tiếng "cạch cạch" khô khốc vang lên trong gian phòng tĩnh mịch, vệt sáng mới chịu đứng yên.
Trên mặt bàn, góc giấy sém của Hương vẫn nằm im lìm cạnh cuốn sổ điểm danh lớp 8A. Chữ "thứ bảy" viết bằng bút chì mờ nhạt nằm ngay sát mép giấy cháy đen. Ngày mai đã là thứ bảy. Theo lời bà trưởng thôn tuyên bố chiều hôm trước, đó là thời điểm nhà họ Tuấn làm lễ nhập giường cho con trai họ. Liên nhìn chằm chằm vào cái tên "Nguyễn Thị Hương" được viết nắn nót bằng mực xanh trong sổ điểm danh. Lòng cô dấy lên một sự bất an tột cùng. Ông Phúc cán bộ tư pháp đã rút lui sau khi bị bà trưởng thôn đuổi khéo. Cả cái xã nghèo ven huyện này đang im lặng một cách đáng sợ trước việc một đứa trẻ mười ba tuổi bị đưa sang nhà họ Tuấn để trừ nợ.
Liên biết cô không thể ngồi chờ đợi sự giúp đỡ từ những người đang cố tình nhắm mắt làm ngơ. Cô cần phải biết ai trong cái xã này đã đứng ra làm trung gian, ai đã ký vào tờ giấy cam kết đồng ý gả Hương đi. Cô cần tìm một người dám nói ra sự thật trước khi mọi chuyện quá muộn.
Liên đút góc giấy sém vào túi áo khoác, cầm chắc chiếc đèn pin vỏ sắt rồi bước ra ngoài. Cô khóa cánh cửa gỗ bằng chiếc khóa cầu ngang rỉ sét, tiếng xích sắt va vào nhau kêu loảng xoảng.
Đêm miền Bắc đầu những năm 2000 tối đen như mực. Cả xã nghèo ven huyện chìm trong bóng tối âm u, không có lấy một bóng đèn đường. Ánh sáng duy nhất phát ra từ chiếc đèn pin trên tay Liên, vạch ra một lối đi mờ ảo trên con đường đất lầy lội sau trận mưa phùn chiều qua. Gió từ phía cánh đồng gianh thổi thốc vào mặt Liên, mang theo mùi ngai ngái của bùn đất và mùi lá sả khô từ phía cuối xóm bay lại. Liên rảo bước, tiếng dép cao su giẫm trên đất thịt nhão nhoét phát ra những tiếng "bạch, bạch" đều đặn. Cô hướng về phía xóm Trong, nơi tập trung những hộ gia đình có họ hàng gần gũi với nhà Hương.
Liên dừng lại trước ngôi nhà đầu tiên ở đầu xóm. Đó là nhà ông trưởng thôn cũ, người có tiếng nói trong các vụ hòa giải đất đai của xã. Ngôi nhà lợp ngói sông Cầu cũ kỹ, tường bao quanh xây bằng gạch xỉ xám xịt. Liên bước đến bên cánh cổng tre, dùng tay lay nhẹ. Cổng không khóa, cô đi vào sân, hướng về phía cửa chính. Cửa nhà cài then gỗ chặt chẽ từ bên trong. Liên giơ tay gõ mạnh vào cánh cửa gỗ lim thô ráp.
- Bác cả ơi! Bác cả có nhà không? Cháu là Liên, cô giáo của em Hương đây ạ!
Bên trong nhà im lặng một hồi lâu. Liên nghe thấy tiếng trở mình trên chiếc giường tre, tiếng ho khan cố ý của một người đàn ông lớn tuổi. Rồi có tiếng bước chân lẹt quẹt đi ra gần cửa, nhưng then gỗ không hề được nhấc lên. Một giọng nói khàn khàn, đầy vẻ khó chịu vọng qua khe cửa gỗ.
- Đêm hôm khuya khoắt cô giáo đi đâu đấy? Chuyện nhà người ta đã xong xuôi, giấy tờ cam kết cũng đã ký trước mặt cả họ rồi. Cô giáo về đi, đừng làm phiền người già nghỉ ngơi.
Liên vội vã áp sát mặt vào khe cửa, cố gắng nói rõ ràng.
- Bác cả, Hương mới mười ba tuổi. Em ấy là học sinh giỏi của trường, còn cả tương lai phía trước. Sao mọi người lại đồng ý để nhà họ Tuấn bắt em ấy đi như thế? Ai là người ký giấy bán em ấy?
Tiếng bước chân bên trong lập tức lùi xa. Giọng nói vọng ra nghe nhỏ dần nhưng đầy vẻ lạnh lùng.
- Chuyện trong họ ngoài làng, người ngoài tỉnh như cô biết thế nào được mà can thiệp. Về đi!
Tiếng xích sắt khua lách cách bên trong, rồi không gian lại chìm vào sự im lặng lạnh lẽo. Liên đứng lặng người trước cánh cửa đóng kín, cảm giác bất lực bắt đầu xâm chiếm lấy cô.
Liên cắn môi, quay người bước ra khỏi sân. Cô tiếp tục đi đến nhà thứ hai, nhà bà cô ruột của Hương. Ngôi nhà này nằm khuất sau một rặng rào găng gai góc. Liên gõ cửa, tiếng gõ dồn dập hơn. Cánh cửa gỗ hé mở một khe nhỏ, để lộ khuôn mặt hốc hác của người đàn bà trung niên dưới ánh sáng leo lét của một ngọn đèn dầu đặt sâu trong nhà.
- Cô giáo Liên đấy à?
Người đàn bà thì thào, mắt lấm lét nhìn ra con đường đất tối tăm phía sau lưng Liên.
- Vâng, cháu đây. Cô cho cháu hỏi, ba mẹ Hương đi đâu từ hai hôm nay rồi? Tại sao họ lại để Hương sang nhà họ Tuấn?
Người đàn bà thở dài, giọng méo mó.
- Nợ ngập đầu ngập cổ, không bán đất bán nhà thì chỉ có nước đi tù. Nhà họ Tuấn người ta rộng lượng, người ta xóa nợ cho, lại còn cho thêm tiền làm ăn. Thôi thì con bé chịu thiệt một tí, cứu cả nhà nó. Cô giáo thương nó thì cũng phải nghĩ cho ba mẹ nó chứ.
- Nhưng đây là tảo hôn, là phạm pháp!
Liên gắt lên, giọng cô run rẩy vì tức giận.
- Cháu có thể báo lên phòng giáo dục, báo lên huyện.
Người đàn bà nghe đến hai chữ "lên huyện" thì biến sắc. Bà ta nhanh chóng đẩy cánh cửa gỗ lại, giọng nói trở nên đanh đá và cộc cằn.
- Cô muốn báo đi đâu thì báo, đừng có lôi chúng tôi vào. Nhà họ Tuấn ở cái xã này không phải chỗ để cô đùa đâu.
Cánh cửa gỗ sập mạnh ngay trước mũi Liên. Tiếng then gỗ trượt vào khấc nghe đanh gọn và tàn nhẫn. Liên đứng trơ trọi giữa con đường đất, gió đêm thổi mạnh làm tà áo khoác của cô bay phần phật. Cô nhận ra cả cái xã này đang bao che cho nhà họ Tuấn. Họ coi việc dâng hiến một đứa trẻ như một lẽ đương nhiên để giải quyết những món nợ truyền kiếp của gia đình.
Liên đi tiếp về phía cuối xóm, nơi con đường đất rẽ làm hai ngả: một ngả dẫn ra khu lò gạch bỏ hoang sau bãi keo, ngả còn lại dẫn thẳng đến cổng nhà họ Tuấn. Ngay góc ngã ba ấy có một ngôi nhà mái lá nhỏ bé, vách đất trát rơm đã nứt nẻ nhiều chỗ. Đó là nhà ông Năm bán trầu. Ông Năm đã ngoài bảy mươi, sống lủi thủi một mình, chuyên têm trầu cánh phượng cho các đám hiếu hỷ trong vùng.
Liên nhìn thấy ánh đèn dầu tù mù hắt ra từ khe liếp nhà ông Năm. Cô bước đến, khẽ gõ vào cánh cửa liếp tre.
- Cụ Năm ơi, cụ còn thức không ạ?
Cánh cửa liếp từ từ dịch chuyển, phát ra tiếng sột soạt của tre nứa cọ xát vào nhau. Ông Năm xuất hiện, trên tay cầm một chiếc đĩa sành đựng vài quả cau tươi và mấy lá trầu không đã héo. Đôi mắt ông đục ngầu, nhìn Liên qua gọng kính lão trễ xuống tận mũi.
- Cô giáo Liên đấy à? Vào nhà đi con, ngoài trời sương muối lạnh lắm.
Liên bước vào gian nhà chật chội, mùi trầu không cay nồng và mùi thuốc lào ngai ngái bao trùm lấy không gian. Ông Năm đặt đĩa sành xuống chiếc chõng tre cũ kỹ, chỉ tay bảo cô ngồi.
- Con đi tìm con bé Hương phải không?
Ông Năm cất giọng trầm khàn, tay với lấy chiếc ống nhổ bằng đồng đặt dưới chân chõng.
- Vâng cụ. Cháu đã gõ cửa nhiều nhà nhưng ai cũng tránh mặt. Họ bảo giấy tờ đã ký xong, không ai thay đổi được. Cụ Năm ơi, cụ sống ở đây lâu rồi, cụ có biết tại sao họ lại sợ nhà họ Tuấn đến thế không?
Ông Năm têm một miếng vôi trắng lên lá trầu, chậm rãi gập lại rồi bỏ vào miệng nhai. Tiếng nhai trầu nhóp nhép vang lên trong căn nhà tĩnh mịch. Một lúc sau, ông mới thở dài, nhổ một búng nước trầu đỏ lòm vào ống nhổ.
- Họ không sợ người nhà họ Tuấn, họ sợ cái dớp của đất này. Con bé Hương không phải đứa đầu tiên đi qua cái cổng ấy đâu con ạ.
Liên run lên, cô tiến lại gần ông Năm.
- Ý cụ là sao? Trước Hương đã có người khác rồi ạ?
Ông Năm gật đầu, ánh mắt ông nhìn đăm đăm vào ngọn lửa đèn dầu đang chao đảo trước gió.
- Cứ vài năm, khi nhà họ Tuấn có người lâm bệnh nặng hoặc đến hạn phải trả nợ cho bên dưới, họ lại đón một đứa con gái non về. Làng đồn là để hút hơi người sống để giữ mạng cho người ốm. Nhưng thực chất thế nào, chỉ có đất biết, trời biết. Những đứa trẻ ấy sau khi vào nhà họ Tuấn thì không bao giờ bước ra khỏi cái cổng ấy nữa.
- Thế cụ ạ, chính quyền và công an cứ đứng nhìn như thế sao?
Liên hỏi, giọng cô lạc đi vì kinh hãi.
- Ai chứng minh được họ làm gì sai?
Ông Năm cười buồn, nụ cười để lộ hàm răng đen nhánh vì nhuộm đen.
- Người ta bảo con bé Hương tự nguyện sang làm dâu để trả nợ cho ba mẹ. Ba mẹ nó ký giấy, cả họ đồng ý. Kẻ ngoài cuộc can thiệp vào làm gì. Với lại, đêm nay nhà họ Tuấn làm lễ nhập giường rồi. Cô giáo về đi, đêm nay nhà ấy không nhận người sống đâu.
Liên đứng bật dậy, chiếc đèn pin vỏ sắt va vào cạnh chõng tre kêu "cốp" một tiếng.
- Cháu không tin không có luật pháp nào trị được họ. Cháu sẽ đến nhà họ Tuấn ngay bây giờ. Cháu phải gặp Hương.
Ông Năm nhìn Liên, ánh mắt ông đầy vẻ thương hại và cảnh báo.
- Con cứng đầu lắm. Nhưng đất có lề, quê có thói. Cái cổng nhà họ Tuấn đêm nay là cổng âm, người sống bước vào khó lòng bước ra lành lặn. Con nghe ta, quay về phòng trọ, khóa chặt cửa lại. Đừng có bén mảng đến gần cái bãi keo hay nhà họ Tuấn trong đêm nay.
Liên không trả lời. Cô cúi đầu chào ông Năm rồi bước nhanh ra khỏi căn nhà lá. Gió đêm thổi mạnh hơn, làm chiếc đèn dầu của ông Năm phụt tắt, để lại một khoảng tối đen ngòm phía sau lưng cô.
Liên đi theo con đường đất dẫn đến nhà họ Tuấn. Lòng cô rối bời trước những lời nói của ông Năm. Những cô gái trước đây đã đi đâu? Khu lò gạch bỏ hoang sau bãi keo có liên quan gì đến chuyện này? Cô siết chặt chiếc đèn pin vỏ sắt trong tay, cố lấy lại sự bình tĩnh. Ánh sáng vàng vọt của đèn pin quét qua những rặng tre xào xạc bên đường. Tiếng lá tre khô rơi rụng lạo xạo dưới chân cô như những tiếng thì thầm của bóng tối.
Ngôi nhà cổ của họ Tuấn hiện ra ở cuối con đường, nằm cô độc cạnh bãi keo âm u. Cánh cổng gỗ lớn của nhà họ Tuấn đóng im lìm dưới bóng tối bao trùm. Không có một ánh đèn nào hắt ra từ bên trong ngôi nhà, cứ như thể toàn bộ khu nhà đã bị bỏ hoang từ lâu. Chỉ có mùi nước lá bưởi và lá sả đun đặc vẫn thoang thoảng trong không khí, hòa quyện với mùi ẩm mốc của gỗ mục và đất ẩm.
Liên tiến lại gần cánh cổng gỗ. Cô đưa tay định gõ cửa, nhưng rồi cô khựng lại. Ánh đèn pin trên tay cô quét qua bề mặt cánh cổng gỗ cũ kỹ.
Trên cánh cổng gỗ xám xịt, ngay sát phần then cài bên ngoài, có một vệt bùn đất còn rất mới. Vệt bùn ấy có hình dạng một bàn tay trẻ con in rõ mồn một trên thớ gỗ mục. Những ngón tay nhỏ nhắn, thon dài in hằn lên gỗ như một lời cầu cứu tuyệt vọng được để lại trước khi cánh cổng khép chặt.