Nhà Có Đám - Chương 7: Tiền Lẻ Trong Tay
Gian bếp nhà họ Tuấn tối om và ngột ngạt. Khói từ đống củi nhãn ẩm ướt cháy dở bò loang lổ trên nền đất nện, quẩn quanh dưới những xà nhà bám đầy bồ hóng…
Nội dung chương
Gian bếp nhà họ Tuấn tối om và ngột ngạt. Khói từ đống củi nhãn ẩm ướt cháy dở bò loang lổ trên nền đất nện, quẩn quanh dưới những xà nhà bám đầy bồ hóng đen kịt. Mùi lá bưởi, lá sả đun trong chiếc nồi đồng lớn bốc lên nghi ngút, quyện với mùi ẩm mốc của vách đất lâu ngày không thấy ánh mặt trời. Hương ngồi thu mình trên chiếc đòn tre thấp sát xó bếp, hai đầu gối co lên sát ngực, cố thu nhỏ thân hình gầy gò của đứa trẻ mười ba tuổi vào khoảng tối giữa hai chiếc chum sành đựng nước. Chiếc áo cánh màu nâu nhạt mẹ may cho em trước ngày cưới đã sờn rách ở cùi chỏ, giờ đây bám đầy tàn tro và bụi bẩn.
Bên ngoài, tiếng gió rít qua rặng tre ngoài bãi keo vọng vào nghe như tiếng ai đó đang cào móng tay vào vách liếp. Hương run lên bần bật. Em đưa hai bàn tay lên trước mặt, cố nhìn rõ những thứ đang nằm trong lòng bàn tay mình dưới ánh sáng đỏ lờ mờ phát ra từ bếp lò.
Đó là những đồng tiền lẻ.
Mấy đồng xu nhôm xỉn màu đen, rìa cạnh đã sứt mẻ, cùng hai tờ tiền giấy loại một trăm đồng cũ kỹ, rách nát và ẩm ướt vì mồ hôi tay của em. Những đồng tiền này là do bà vú già Cần vừa dúi vào tay em lúc chạng vạng tối, khi bà ta kéo em từ gian nhà chính xuống gian bếp tối tăm này.
Bà Cần đi vào từ phía cửa sau, dáng đi lòng khòng, bước chân kéo lê trên nền đất tạo ra những tiếng lạt sạt ghê người. Một bên tai của bà vú bị điếc, bên tai còn lại lúc nào cũng nghếch lên như đang cố nghe ngóng thứ âm thanh gì đó dưới lòng đất. Bà ta đặt một rổ củi khô xuống cạnh bếp lò, rồi tiến lại gần Hương. Bàn tay thô ráp, nứt nẻ như vỏ cây xà cừ của bà ta nắm lấy cổ tay Hương, siết mạnh đến mức em cảm thấy đau nhói.
- Nắm cho chặt vào. Đừng có để rơi một đồng nào nghe chưa con?
Giọng bà Cần khàn đặc, đứt quãng, thì thầm sát bên tai Hương.
- Đi qua cầu, qua đò dưới ấy, thấy ai chặn đường thì ném cho người ta một đồng. Tiền này để mua đường dưới âm phủ. Không có tiền, họ giữ lại làm ma không đầu không chân, không tìm được đường về nhà đâu.
Hương ngước đôi mắt tròn xoe, ngập ngụa nước mắt nhìn bà vú. Giọng em lí nhí, run rẩy:
- Vú ơi... con sang đây để chăm anh Tuấn mà. Ba mẹ con bảo anh Tuấn bị ốm nặng, con sang làm dâu để hút hơi ấm cho anh ấy mau khỏe lại. Sao lại phải mua đường dưới âm phủ hả vú?
Bà Cần không trả lời câu hỏi của em. Bà ta chỉ nhìn Hương bằng đôi mắt đục ngầu, khóe mắt chảy ra vệt nước vàng cáu bẩn. Bàn tay bà ta vỗ vỗ lên mu bàn tay Hương, lực vỗ đều đặn nhưng lạnh ngắt.
- Con nít con nôi biết gì mà hỏi. Cứ nghe lời vú. Tí nữa người ta làm lễ nhập giường, có nghe thấy tiếng gọi tên mình thì cũng không được thưa. Cứ nắm chặt tiền lẻ mà bước đi. Nhớ lấy, đi thẳng, không được ngoảnh đầu lại.
Bà vú già quay lưng đi về phía nồi nước lá đang sôi sùng sục, dùng chiếc gáo dừa múc nước đổ vào một chiếc chậu sành lớn. Tiếng nước nóng dội vào chậu sành nghe xèo xèo, hơi nước bốc lên che khuất khuôn mặt già nua đầy nếp nhăn của bà ta.
Hương cúi đầu nhìn lại những đồng tiền trong tay. Em nhớ đến lớp học cấp hai ở đầu xã. Nhớ cái bàn gỗ thứ ba cạnh cửa sổ, nơi em vẫn ngồi nghe cô Liên giảng bài mỗi buổi chiều. Giờ này chắc các bạn trong lớp đã được về nhà ăn cơm, được ngồi bên mâm cơm ấm cúng dưới ánh đèn dầu. Còn em lại ở đây, trong gian bếp xa lạ này, chuẩn bị cho một đám cưới mà em không hề hiểu rõ. Em chỉ biết ba mẹ em nợ nhà họ Tuấn một số tiền lớn, lớn đến mức nếu không gả em đi, cả nhà sẽ phải ra đường ở. Ba em đã khóc khi ký vào tờ giấy giao kèo, còn mẹ thì chỉ biết ôm em vào lòng mà sụt sịt.
Từ phía nhà trên, tiếng nói chuyện rì rầm bắt đầu vọng xuống qua vách đất ngăn bếp. Hương áp tai vào vách đất ẩm ướt để nghe.
Tiếng ông Tuấn Cử trầm đục, uy quyền vang lên trước tiên:
- Thầy xem giờ lành đã đến chưa? Đêm nay là đêm thứ bảy rồi, không thể chậm trễ hơn được nữa. Hơi người sống trong nhà này bắt đầu nhạt đi rồi đấy.
Tiếng thầy Bào khàn khàn, kèm theo tiếng lật giở những trang giấy bản úa vàng nghe sột soạt:
- Giờ Tý đêm nay là lúc âm khí thịnh nhất. Bài văn cưới tôi đã chuẩn bị xong. Riêng phần danh sách những người đi trước đã hóa đủ chưa? Dưới kia họ đòi hỏi sòng phẳng lắm. Thiếu một tên là họ không nhận người mới đâu.
Bà trưởng thôn lên tiếng, giọng bà ta đanh thép và sắc lẻm như dao cắt:
- Thầy yên tâm. Mọi thủ tục tôi đã lo liệu chu toàn. Tên tuổi của những đứa trước đều đã được ghi chép cẩn thận trong gia phả dòng họ, phần mộ ngoài bãi keo cũng đã được dọn dẹp sạch sẽ. Thầy cứ đọc đúng danh sách để báo cáo với bề trên.
Hương nín thở. Em nghe thấy tiếng thầy Bào bắt đầu ê a đọc một danh sách dài bằng thứ giọng điệu đều đều, trầm bổng kỳ quái của người làm nghề cúng bái. Tiếng đọc của ông ta vang vọng trong gian nhà cổ, chui qua những kẽ hở của vách đất lọt vào tai Hương:
- ...Ả thứ nhất nhà họ Nguyễn ở xóm Trong, gả năm Mậu Thìn. Ả thứ hai nhà họ Trần ở bãi sông, gả năm Canh Ngọ. Ả thứ ba nhà họ Lê ở cuối chợ, gả năm Nhâm Thân...
Mỗi lần thầy Bào đọc lên một danh xưng, Hương lại cảm thấy sống lưng mình lạnh buốt. Em nhận ra những cái tên đó. Đó là chị Mận con nhà bác Nguyễn ở xóm Trong, người đã biến mất từ mười năm trước mà mọi người bảo là đi làm ăn xa ở mỏ đá trên tỉnh. Đó là chị Đào ở bãi sông, người đã mất tích trong một đêm mưa bão năm em còn nhỏ. Hóa ra tất cả họ đều đã đi qua cánh cổng gỗ của nhà họ Tuấn này.
Nhưng tại sao thầy Bào không gọi tên cúng cơm của họ? Tại sao họ lại trở thành "Ả thứ nhất", "Ả thứ hai", "Ả thứ ba"?
Hương run rẩy nhận ra một điều kinh hoàng: Khi bước chân vào ngôi nhà này, họ đã không còn là những con người có tên có tuổi, có gia đình nữa. Họ chỉ còn là những con số thứ tự vô danh, những món nợ được trả bằng mạng sống để gánh hạn cho dòng họ Tuấn.
- ...Ả thứ mười nhà họ Hoàng ở xóm Chùa, gả năm Kỷ Mão.
Giọng thầy Bào dừng lại một nhịp. Tiếng lật giấy lại vang lên.
- Và đêm nay, Ả thứ mười một nhà họ Nguyễn ở xóm Ngoài, gả năm Tân Tỵ.
Hương suýt chút nữa đã hét lên. "Ả thứ mười một" chính là em. Tên của em, Nguyễn Thị Hương, đã bị xóa bỏ hoàn toàn. Thay vào đó là một con số lạnh lẽo nằm cuối cùng trong danh sách của thầy Bào. Em muốn đứng dậy chạy trốn, muốn chạy thật nhanh ra khỏi gian bếp này, chạy qua cánh đồng gianh để về với mẹ. Nhưng hai chân em tê cứng, không thể cử động được. Nỗi sợ hãi như một sợi dây thừng vô hình trói chặt em vào chiếc đòn tre.
Bên ngoài, bà Cần vẫn đang lầm lũi bưng chậu nước lá bưởi đi lên nhà trên. Gian bếp chỉ còn lại một mình Hương cùng tiếng lửa cháy lép bép trong lò.
Bỗng nhiên, từ phía gian buồng chính bên cạnh bếp, tiếng gõ "cộc, cộc, cộc" vang lên.
Tiếng gõ chậm rãi, đều đặn và nặng nề, phát ra từ một tấm gỗ dày. Hương giật mình. Căn buồng đó là nơi đặt chiếc giường cưới gỗ mà ban chiều em thấy người ta khênh vào. Họ bảo đó là buồng cưới của em và Tuấn. Nhưng từ lúc sang đây, em chưa từng được nhìn thấy mặt chú rể. Người ta bảo Tuấn ốm nặng lắm, không thể ra ngoài gặp gió, phải nằm im trong buồng kín.
Tiếng gõ lại vang lên, lần này nghe gần hơn, ngay sát vách liếp ngăn cách giữa gian bếp và gian buồng.
Cộc. Cộc. Cộc.
Sự tò mò xen lẫn nỗi sợ hãi tột cùng thôi thúc Hương. Em cắn chặt môi để không phát ra tiếng khóc, lết từng bước chân khập khiễng trên nền đất ẩm ướt về phía vách liếp. Đôi dép nhựa mỏng màu xanh của em đã bị tuột quai, em đành đi chân trần. Cái lạnh từ đất nện truyền qua lòng bàn chân lên tận đỉnh đầu.
Vách liếp bằng tre nứa đan lỗi thời có những kẽ hở nhỏ do mối mọt đục khoét. Hương ghé mắt nhìn qua một kẽ hở lớn bằng ngón tay.
Gian buồng tối om, không có một ngọn đèn dầu nào được thắp sáng. Ánh sáng duy nhất trong phòng phát ra từ ba nén hương cắm trên chiếc đĩa sành đặt ở góc nhà, tỏa ra làn khói nghi ngút mùi nhựa thông hăng hắc.
Ở giữa gian buồng, dưới ánh sáng đỏ lờ mờ của nén hương, không có chiếc giường cưới gỗ nào cả.
Đặt ở đó là một chiếc quan tài gỗ màu đỏ sẫm, to lớn và nặng nề. Nắp quan tài chưa được đậy khít mà để hé ra một khoảng rộng bằng hai bàn tay.
Hương căng mắt nhìn qua khe hở của nắp quan tài.
Nằm bên trong quan tài là Tuấn.
Cậu con trai nhà họ Tuấn không phải đang nằm thoi thóp thở như những gì ba mẹ Hương vẫn tin tưởng. Tuấn nằm bất động, hai mắt nhắm nghiền. Gương mặt cậu ta xám ngoét, da thịt đã sẫm màu như đất sét nung quá lửa và bắt đầu có dấu hiệu co rút lại ở hai bên má. Đôi môi Tuấn thâm sì, hé mở ra một khoảng nhỏ, không có một chút hơi thở nào thoát ra. Xung quanh người Tuấn xếp đầy những tờ tiền giấy vàng mã màu vàng, màu bạc cùng những nắm lá bưởi héo rũ, thâm đen.
Mùi tử khí nồng nặc thoát ra từ khe hở của quan tài, vượt qua vách liếp xộc thẳng vào mũi Hương. Đó là mùi của xác chết đã bắt đầu phân hủy, được che giấu một cách vụng về bằng mùi nước lá bưởi và hương trầm.
Hương kinh hoàng lùi lại một bước, hai tay bịt chặt lấy miệng để ngăn tiếng hét thất thanh đang chực trào ra ngoài. Những đồng tiền lẻ trong lòng bàn tay em rơi loảng xoảng xuống nền đất nện, lăn lóc vào những góc tối tăm của gian bếp.
Tuấn đã chết. Chú rể của em đã chết từ lâu.
Đám cưới này không phải để chữa bệnh. Đám cưới này là để tiễn đưa.
Tiếng thầy Bào ở nhà trên lại vang lên, lần này nghe rõ mồn một như đang ở ngay sau lưng Hương:
- Giờ lành đã đến. Cho Ả thứ mười một vào nhập quan.