Nhà Có Đám - Chương 2: Sổ Điểm Danh

Khi Liên gọi đến tên Hương, cả lớp im bặt, còn bàn học thứ ba cạnh cửa sổ vẫn để trống. Tiếng mưa phùn hắt vào những tấm liếp tre đan tạm thay cho cánh…

Nội dung chương

Khi Liên gọi đến tên Hương, cả lớp im bặt, còn bàn học thứ ba cạnh cửa sổ vẫn để trống.

Tiếng mưa phùn hắt vào những tấm liếp tre đan tạm thay cho cánh cửa kính đã vỡ từ mùa bão trước. Gió bấc lùa qua khe hở, mang theo cái lạnh ẩm ướt của đất cày ngoài đồng và mùi lá mục từ bãi keo sau trường. Học sinh lớp 8A ngồi co ro trong những chiếc áo bông cũ sờn rách vai, đầu đội mũ len tự đan đẫm nước mưa. Dưới sàn lớp học bằng đất nện, những đôi dép nhựa Tiền Phong dính bùn đỏ xếp thành hai hàng lộn xộn, nước mưa từ ống quần các em nhỏ giọt xuống tạo thành những vũng nước đục ngầu.

Liên đứng trên bục giảng, tay cầm cây bút bi Thiên Long màu xanh, ngón tay cô lạnh buốt. Cô cúi đầu nhìn xuống cuốn sổ điểm danh bìa xanh có đóng dấu đỏ của trường cấp hai xã. Con dấu tròn màu mực đỏ tươi nằm kiêu hãnh ở góc trên cùng, như một lời khẳng định về sự tồn tại hợp pháp của ngôi trường này giữa vùng đất nghèo ven huyện. Cô giáo trẻ hít một hơi sâu, mắt dừng lại ở dòng chữ viết tay nắn nót: "Nguyễn Thị Hương."

- Nguyễn Thị Hương.

Liên lặp lại lần thứ hai, giọng cô vang lên giữa gian phòng lợp ngói fibro-xi măng rồi chìm nghỉm vào tiếng mưa rơi lộp độp trên mái.

Không một tiếng thưa gửi. Không một cái giơ tay quen thuộc của cô học trò nhỏ vốn luôn ngồi thẳng lưng ở góc bàn thứ ba. Cả lớp học im lặng một cách bất thường. Những đứa trẻ vốn nghịch ngợm, hay xì xào bàn tán mỗi khi có bạn nghỉ học, giờ đây đều đồng loạt cúi gằm mặt xuống mặt bàn gỗ mộc xù xì. Chúng chăm chú nhìn xuống những trang vở dòng kẻ ngang ố vàng, mắt dán vào nét chữ như sợ ngẩng lên sẽ gặp ánh nhìn của ai.

Liên bước xuống bục giảng, tiếng đế giày cao gót bằng nhựa của cô nện trên nền đất ẩm nghe cô độc và khô khốc. Cô dừng lại trước bàn học thứ ba cạnh cửa sổ. Chiếc bàn gỗ keo ghép tạm này vốn là chỗ ngồi của Hương và một học sinh khác. Trên mặt gỗ loang lổ vết mực tím, Liên vẫn ngửi thấy một mùi hương quen thuộc. Mùi lá bưởi khô và hương nhu từ mái tóc Hương tối hôm qua vẫn còn sót lại, quẩn quanh trong góc lớp ẩm mốc. Ngay cạnh mép bàn, một vệt mực màu xanh đen chưa kịp khô hoàn toàn, bóng lên dưới ánh sáng mù mịt của buổi sáng mùa đông. Có lẽ Hương đã vô tình làm đổ mực từ cây bút máy cũ trước khi bị người ta đưa đi.

Liên mở cuốn sổ điểm danh đặt lên mặt bàn. Ngón tay cô di chuyển dọc theo các ô cột ngày tháng. Theo thói quen của giáo viên, nếu học sinh nghỉ không lý do, cô sẽ gạch một đường chéo màu đen hoặc ghi chữ "K" vào ô trống. Nhưng lần này, cây bút bi trên tay cô dừng lại. Liên nhìn con dấu tròn đỏ chót của nhà trường ở trang đầu. Cô ấn mạnh ngòi bút, đặt một dấu chấm bằng mực đỏ thật rõ ràng vào ô ngày hôm nay của Hương. Cô không gạch tên em, cũng không ghi lý do nghỉ học. Cái tên Nguyễn Thị Hương vẫn nằm nguyên vẹn, ngay ngắn bên cạnh dấu đỏ của nhà trường, như một sự khẳng định rằng đứa trẻ này vẫn là học sinh của lớp 8A.

- Ai biết bạn Hương nghỉ học vì lý do gì không?

Liên quay sang hỏi đứa trẻ ngồi ở bàn phía sau. Đó là một cậu bé tên Nam, người gầy gò, mặc chiếc áo khoác màu xanh công nhân quá khổ của ba. Nam giật mình, hai tay co rúm lại, vội vàng giấu hai bàn tay dính đầy mực tím vào dưới hộc bàn. Cậu bé nhìn ngó xung quanh, rồi lý nhí trong miệng:

- Thưa cô... chiều qua mẹ bạn Hương đến trường rồi ạ.

- Mẹ bạn đến làm gì?

Liên gặng hỏi.

- Mẹ bạn ấy đến xin lấy lại đống sách vở trong ngăn bàn. Nhưng bà ấy vội quá, làm rơi mấy thứ ở trong hộc.

Liên nhíu mày, cô nhìn xuống lớp học:

- Thế có ai biết nhà họ Tuấn đưa bạn Hương đi lúc nào không?

Câu hỏi của cô giáo trẻ như một luồng gió lạnh thổi qua lớp học. Mấy đứa trẻ ngồi bàn đầu lập tức rụt cổ lại. Đứa thì vờ tìm bút dưới đất, đứa thì cắm cúi viết những nét chữ nguệch ngoạc vào nháp. Không một ai dám ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt Liên. Sự im lặng này không giống sự im lặng của lớp học bình thường, nó mang một vẻ e dè, sợ hãi, một sự cam chịu đã được người lớn trong nhà dạy bảo từ trước. Lũ trẻ ở xã nghèo này hiểu rằng có những chuyện ở cuối xóm mà chúng không được phép hé môi, dù chỉ là một lời nói vô tình.

Liên cúi người xuống, thò tay vào ngăn bàn tối tăm của Hương. Ngón tay cô chạm vào những vật dụng quen thuộc của một đứa học trò nghèo. Cô lôi ra một cây bút máy Trường Sơn bằng nhựa màu xanh lá cây đã bị gãy mất một bên ngòi, hai viên phấn trắng bọc trong mảnh giấy báo rách, và một quyển vở toán bọc bằng giấy xi măng thô ráp. Ngoài ra còn có một tờ đề luyện thi học sinh giỏi huyện được gấp làm tư, mép giấy đã sờn rách và chuyển sang màu vàng úa.

Liên mở tờ đề thi ra. Ở góc trên cùng bên phải, nét chữ tròn trịa, ngay ngắn của Hương vẫn còn rõ mồn một: "Cô Liên bảo làm lại bài số năm."

Nhìn những dòng chữ ấy, lòng Liên thắt lại. Tối hôm qua, trong căn buồng tối tăm nhà họ Tuấn, đứa trẻ này đã phải siết chặt hai đồng tiền đồng lạnh ngắt trong tay, cổ tay bị buộc bằng sợi chỉ đỏ ba vòng. Một đứa trẻ mới mười bốn tuổi, chiều hôm trước còn cắm cúi làm bài tập toán để chuẩn bị đi thi huyện, đêm hôm sau đã bị người ta làm lễ khâm liệm sống để trừ nợ cho gia đình.

Liên xếp gọn những món đồ của Hương vào chiếc cặp da đen của mình. Cô cầm cuốn sổ điểm danh, bước nhanh ra khỏi lớp học. Tiếng trống trường báo hiệu giờ ra chơi vang lên rệu rã từng nhịp tùng, tùng, từ phía cây xà cừ cổ thụ giữa sân. Nước mưa chảy dọc theo những rãnh đất đỏ, tràn qua sân trường loang lổ những vũng bùn.

Liên đi dọc hành lang lộng gió, hướng về phía dãy nhà hiệu bộ lợp ngói đỏ đã rêu phong. Văn phòng hiệu trưởng nằm ở cuối dãy, cửa gỗ sơn xanh đã phai màu, bên trên treo tấm biển nhựa khắc chữ "Hiệu trưởng" màu trắng. Cô không gõ cửa mà đẩy nhẹ cánh cửa gỗ cũ kỹ bước vào.

Hiệu trưởng Lâm đang ngồi sau chiếc bàn làm việc bằng gỗ ép đã bị phồng rộp vì ẩm. Trên bàn đặt một ấm trà chuyên bằng đất nung màu nâu đỏ, khói trà bốc lên nghi ngút mang theo mùi chát đắng của chè búp loại rẻ tiền. Thấy Liên bước vào với khuôn mặt tái mét và cuốn sổ điểm danh trên tay, ông Lâm không tỏ vẻ ngạc nhiên. Ông chậm rãi rót nước trà ra chiếc chén hạt mít, rồi dùng ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn:

- Cô Liên đấy à. Ngồi xuống uống chén nước cho ấm. Mưa gió thế này đi lại ngoài hành lang lạnh lắm.

Liên không ngồi. Cô đặt mạnh cuốn sổ điểm danh lên bàn, ngay trước mặt vị hiệu trưởng:

- Thầy Lâm, tôi muốn rút hồ sơ nhập học và bản sao giấy khai sinh của em Nguyễn Thị Hương lớp 8A.

Hiệu trưởng Lâm nhìn cuốn sổ điểm danh, rồi ngước mắt nhìn cô giáo trẻ. Ánh mắt của người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, đã gắn bó cả đời với ngôi trường xã nghèo này, chứa đựng một sự mỏi mệt và né tránh. Ông không trả lời ngay mà đứng dậy, đi về phía cửa sổ, kéo nhẹ tấm rèm vải thô màu xám để che bớt ánh sáng mù mịt từ khoảng sân trường đầy nước.

- Cô Liên này, chuyện của em Hương... tôi cũng đã nghe loáng thoáng từ chiều qua. Người trong xã họ đã thu xếp xong xuôi cả rồi. Hai bên gia đình tự nguyện, chính quyền thôn cũng không có ý kiến gì. Cô can thiệp vào làm gì cho thêm rắc rối?

- Tự nguyện?

Liên cao giọng, hai vai cô run lên vì giận dữ.

- Một đứa trẻ mười ba tuổi thì biết thế nào là tự nguyện? Tối qua tôi đã đến tận nhà họ Tuấn. Họ nhốt em ấy trong buồng, bắt cầm tiền lẻ, buộc chỉ đỏ vào tay. Thầy có biết người ta đang làm cái gì không? Đó là hủ tục gả bán trừ nợ! Em ấy mới mười bốn tuổi, theo luật pháp là chưa đủ tuổi vị thành niên!

Hiệu trưởng Lâm thở dài, tiếng thở dài của ông nặng nề như tiếng gió rít qua khe cửa. Ông quay lại bàn, cầm chén trà lên uống một ngụm nhỏ rồi đặt xuống.

- Tôi biết chứ. Tôi có mắt, tôi đọc được năm sinh của học trò. Nhưng cô Liên ạ, cô mới từ tỉnh khác chuyển về đây dạy học được hai năm, cô chưa hiểu hết cái dây mơ rễ má của cái xã này đâu. Nhà họ Tuấn cuối xóm không phải là một gia đình bình thường. Cả cái dòng họ ấy, từ ba thế hệ nay, đã gánh nợ cho nửa cái xã này. Từ tiền phân bón, tiền thóc giống, đến tiền thuốc men lúc ốm đau, người dân ở đây đều chạy đến gõ cửa nhà ông Tuấn Cử.

- Kể cả như thế thì cũng không thể đem một đứa trẻ ra để gán nợ!

Liên chỉ tay vào cuốn sổ điểm danh.

- Nhà trường có nhiệm vụ bảo vệ học sinh. Con dấu đỏ của trường đóng trên học bạ của em ấy để làm gì nếu chúng ta cứ để mặc họ mang em ấy đi?

Hiệu trưởng Lâm lắc đầu, giọng ông trầm xuống, đầy vẻ bất lực:

- Một con dấu đỏ của trường học chưa chắc đã mở nổi cổng nhà họ Tuấn đâu cô Liên ạ. Cô nghĩ nhà trường làm căng thì họ sẽ sợ sao? Nếu chúng ta làm to chuyện này lên xã, lên huyện, ngày mai nhà họ Tuấn chỉ cần xua nợ một câu, cả cái làng này sẽ đồng loạt cho con nghỉ học ở nhà đi làm ruộng để trả nợ. Lúc đó trường này chỉ còn là một cái xác không nhà. Cô dạy văn cho ai? Tôi làm hiệu trưởng cho ai?

Liên nhìn thẳng vào mắt vị hiệu trưởng. Trong đôi mắt của người đàn ông ấy, cô nhìn thấy sự hèn nhát được ngụy trang bằng hai chữ thực tế. Cô biết ông Lâm sợ va chạm với bà trưởng thôn, sợ đụng chạm đến nhà họ Tuấn Cử, người có tiếng nói quyết định đối với mọi việc lớn nhỏ trong xã.

- Nếu hôm nay chúng ta tự tay xóa tên một đứa trẻ trong sổ điểm danh chỉ vì sợ hãi, thì ngày mai họ sẽ biết nhà trường này chẳng giữ nổi đứa nào cả. Rồi sẽ có thêm những đứa trẻ khác bị đưa đi như em Hương. Thầy Lâm, tôi yêu cầu thầy cho tôi xem hồ sơ của em Hương. Tôi cần giấy tờ hợp pháp để nói chuyện với chính quyền.

Hiệu trưởng Lâm nhìn Liên một lúc lâu. Nhận ra sự kiên quyết không chịu lùi bước của cô giáo trẻ, ông thở dài một tiếng nữa, rồi bước đến bên chiếc tủ gỗ đựng hồ sơ đặt ở góc phòng. Chiếc tủ gỗ ép đã bị mối mọt gặm nhấm vài góc, cánh cửa tủ kêu lên những tiếng kẽo kẹt khi ông mở ra. Ông lục lọi trong những tệp hồ sơ bọc bằng giấy xi măng ẩm mốc, bụi giấy bay ra mù mịt.

Sau vài phút, ông Lâm rút ra một tập hồ sơ mỏng, bìa ngoài ghi tên lớp 8A năm học này. Ông đặt tập hồ sơ lên bàn, lật từng trang cho đến khi tìm thấy bản kê khai nhập học của Nguyễn Thị Hương.

Liên đón lấy tờ giấy. Tờ giấy khai sinh bản sao đã ố vàng, mép giấy bị ẩm đến mủn ra. Cô nhìn lướt qua các thông tin. Ở dòng ghi tên cha, người ta để trống một khoảng trắng lạnh lẽo. Chỉ có tên mẹ là Nguyễn Thị Thắm, và một dấu vân tay điểm chỉ bằng mực đỏ đã phai màu ở góc cuối tờ khai. Dưới cùng, ngày tháng năm sinh của Hương ghi rõ ràng: ngày 15 tháng 10 năm 1988.

Tính đến thời điểm hiện tại, đứa trẻ này mới vừa bước sang tuổi mười bốn được vài tháng. Em chưa đủ tuổi để tự quyết định bất cứ điều gì, càng không thể là đối tượng của một đám cưới hợp pháp.

- Thầy xem đi.

Liên chỉ vào dòng ngày sinh.

- Em ấy sinh năm 1990. Mới mười ba tuổi. Thầy ký cho tôi một tờ giấy báo cáo gửi lên Ủy ban nhân dân xã. Chúng ta phải yêu cầu họ can thiệp.

Hiệu trưởng Lâm xua tay, nét mặt ông lộ rõ vẻ lo ngại:

- Không được. Tôi không thể ký cái này khi chưa hỏi ý kiến của bà trưởng thôn và gia đình em Hương. Cô Liên, cô đừng nông nổi. Chuyện này nếu làm ầm ĩ lên, người chịu thiệt đầu tiên là mẹ con nhà Hương đấy. Cô có biết mẹ nó còn nợ nhà họ Tuấn bao nhiêu tiền thóc giống từ vụ trước không? Nếu nhà họ Tuấn đòi nợ ngay lập tức, mẹ con họ chỉ còn nước ra đường mà ở.

- Nhưng chúng ta không thể im lặng!

Liên nắm chặt hai tay, giọng cô nghẹn lại.

- Nhà trường mà im, em ấy còn biết trông vào ai? Chẳng lẽ chúng ta cứ trơ mắt nhìn người ta đưa một đứa trẻ vào cái nơi tối tăm ấy sao?

- Cô Liên, cô nghe tôi một lần đi.

Hiệu trưởng Lâm hạ giọng, vẻ mặt khẩn khoản.

- Cô là người ngoài cuộc, dạy hết năm nay hoặc năm sau là cô có thể xin chuyển về thành phố. Nhưng người dân ở đây họ phải sống cả đời ở mảnh đất này. Họ có luật lệ của họ. Cái gọi là "cưới trừ nợ" hay "hút hơi người non" gì đó, nó đã tồn tại ở cái xã này từ thời ông cha họ rồi. Không phải tự nhiên mà cả làng đều nhắm mắt cho qua đâu.

Liên không trả lời. Cô biết mình không thể thuyết phục được người đàn ông này. Cô lặng lẽ cầm bản kê khai nhập học của Hương, gấp nhỏ lại rồi đút vào túi vải của mình. Cô cầm lấy cuốn sổ điểm danh, quay lưng bước ra khỏi phòng hiệu trưởng mà không nói thêm một lời nào.

Tiếng trống trường lại vang lên dồn dập, báo hiệu tiết học tiếp theo bắt đầu. Liên đi dọc hành lang, những hạt mưa phùn bay nghiêng theo gió bám vào mặt cô lạnh ngắt. Cô không quay lại văn phòng hội đồng sư phạm mà đi thẳng về phía lớp 8A.

Lớp học vẫn thế, ẩm ướt và lạnh lẽo. Lũ trẻ đã ổn định chỗ ngồi, nhưng không khí trong phòng vẫn bao trùm một sự im lặng nặng nề. Liên bước lên bục giảng, cô đặt cuốn sổ điểm danh lên bàn giáo viên. Cô không bắt đầu bài giảng ngay mà ngồi xuống chiếc ghế gỗ, mở chiếc cặp da đen của mình ra.

Cô lấy toàn bộ đồ dùng của Hương thu lượm lúc nãy đặt lên bàn. Cây bút máy gãy ngòi, hai viên phấn trắng, tờ đề thi huyện và quyển vở toán bọc giấy bóng kính.

Khi lật đến hai trang cuối cùng của cuốn vở, ngón tay Liên chợt khựng lại. Kẹp giữa hai trang giấy là một mảnh giấy gói hàng bằng loại giấy tái chế màu nâu xám, thô ráp và dày cộp. Mảnh giấy đã được vuốt phẳng phiu một cách tỉ mỉ, như thể có ai đã nâng niu nó rất nhiều lần trước khi cất vào vở.

Liên rút mảnh giấy ra. Trên mặt giấy xám xịt, những dòng chữ viết bằng mực đen hiện lên, nét chữ nguệch ngoạc và thô kệch của một người ít chữ. Đó là nét chữ của mẹ Hương.

Dòng chữ ghi rõ:

Ngày mười lăm tháng chạp đón dâu. Chuẩn bị nước lá bưởi tắm sạch. Chuẩn bị hai đồng tiền lẻ cầm tay. Chuẩn bị chỉ đỏ buộc cổ tay ba vòng. Tuyệt đối không được cho người ngoài biết.

Liên nhìn chằm chằm vào dòng chữ Ngày mười lăm tháng chạp đón dâu. Mười lăm tháng chạp là sau Tết hơn một tháng. Kỳ thi huyện của trường lại đang tới gần. Cô vội vàng mở cuốn sổ điểm danh đặt ở đầu bàn, lật đến trang đầu tiên có dán tờ thông báo của Ban giám hiệu nhà trường về kỳ thi học sinh giỏi cấp huyện năm nay.

Tờ thông báo in bằng giấy đen xấu xí, có chữ ký và con dấu của Hiệu trưởng Lâm. Dòng chữ in đậm đập vào mắt Liên:

Nhà trường chốt danh sách học sinh tham gia kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp huyện vào ngày mười lăm tháng chạp."

Hai ngày trùng khớp hoàn toàn. Ngày nhà họ Tuấn chọn để đưa Hương đi làm lễ cưới trừ nợ chính là ngày nhà trường chốt danh sách học sinh dự thi huyện. Sự trùng hợp này không phải là ngẫu nhiên. Nhà họ Tuấn đã tính toán kỹ từ trước. Chúng muốn đưa Hương đi trước khi tên em được gửi lên Phòng Giáo dục huyện, trước khi em có chỗ chính thức trong danh sách thi.

Liên nhìn chằm chằm vào mảnh giấy gói hàng trong tay. Dưới dòng ghi ngày đón dâu của người mẹ, cô chợt nhận ra có một dòng chữ viết bằng bút chì rất nhỏ, nét chữ mờ nhạt như thể được viết vội vàng trong bóng tối.

Nét chữ thanh mảnh, tròn trịa quen thuộc của Hương. Đứa trẻ đã viết một câu ngắn ngủi, như một lời cầu cứu cuối cùng gửi lại cho cô giáo của mình:

- Hôm ấy cô chốt tên em đi thi.

Chương khác

Xem thêm