Nương Tử Hoa Khai - Chương 1: Quyển Mở Đầu: Gió Nổi

## Quyển Mở Đầu: Gió Nổi Thiên hạ chia ba. Phương bắc có nước Đại Lưu, sùng võ hiếu chiến, dân phong bưu hãn, thiết kỵ tung hoành khắp thảo nguyên, sở…

Nội dung chương

## Quyển Mở Đầu: Gió Nổi

Thiên hạ chia ba.

Phương bắc có nước Đại Lưu, sùng võ hiếu chiến, dân phong bưu hãn, thiết kỵ tung hoành khắp thảo nguyên, sở hữu bốn mươi vạn giáp binh, được người đời mệnh danh là "Quốc gia Thiết Lang". Các đời quân vương Đại Lưu đều giành thiên hạ trên lưng ngựa, lập quốc ba trăm năm, chiến sự chưa từng ngơi nghỉ. Bách tính tuy khổ vì chinh chiến liên miên, nhưng cũng nhờ thế mà luyện ra được đội kỵ binh mạnh nhất thiên hạ.

Phía đông nam có nước Đại Hoang, núi non hiểm trở, dân chúng phần nhiều nhanh nhẹn dũng mãnh, giỏi dùng kỳ mưu. Đại Hoang không dùng binh lực áp đảo như Đại Lưu, mà dựa vào địa hình hiểm trở, rừng rậm bạt ngàn, dùng chiến thuật du kích khiến cường địch không dám khinh suất xâm phạm. Nước tuy không lớn nhưng chưa từng bị chinh phục. Mạng lưới tình báo của Đại Hoang đứng đầu thiên hạ, nghe đồn ngay cả trong tẩm cung của hoàng đế Đại Lưu cũng có tai mắt của họ. Người đời gọi đây là "Quốc gia Ám Xà".

Còn nằm ở chính giữa thiên hạ, tọa lạc trên vùng đồng bằng màu mỡ nhất và sở hữu con sông dài nhất, là nước Đại Văn.

Đại Văn lập triều từ hai trăm năm trước, vị vua khai quốc dùng nhân trị thiên hạ, trọng nông tang, hưng thủy lợi, mở học đường. Qua ba đời, quốc thế dần suy, nội ưu ngoại hoạn không dứt. Truyền đến đời vua thứ tư là Trảm Sơn mới xoay chuyển được càn khôn. Trảm Sơn là bậc hùng tài đại lược, trong dẹp đảng tranh, ngoài chống cường địch, thời kỳ ông trị vì quốc thái dân an, đưa Đại Văn lên đỉnh cao thịnh trị nhất từ khi lập quốc. Cương vực Đại Văn không phải rộng nhất, binh lực cũng chẳng phải mạnh nhất, nhưng trăm họ an cư lạc nghiệp, kho tàng đầy ắp, thương nhân các nước đổ về Văn Đô, kinh thành của Đại Văn, tạo nên cảnh phồn hoa đô hội đứng đầu thiên hạ.

Người đời đều nói: "Binh lực Đại Lưu bất khả xâm phạm, mưu kế Đại Hoang khôn lường, sự giàu có của Đại Văn không thể cướp đoạt."

Ba nước nhìn bề ngoài thì bình yên vô sự, nhưng thực chất bên trong sóng ngầm cuộn cuộn. Đại Lưu dòm ngó vùng đất màu mỡ của Đại Văn đã lâu, còn Đại Hoang lại thèm khát khoáng sản và ngựa quý ở phương bắc Đại Văn. Hai nước đều có toan tính riêng, chỉ vì quốc lực Đại Văn vẫn còn vững mạnh, cộng thêm các đời quân chủ đều giỏi thuật chế hành, ba nước mới duy trì được nền hòa bình mong manh.

Vị vua thứ tư của Đại Văn chính là Trảm Sơn.

Thời cha của Trảm Sơn, tức vị vua thứ ba Trảm Thiên còn tại vị, biên cảnh phía bắc từng bị thiết kỵ Đại Lưu xâm lược, mất liền ba thành. Trảm Thiên phái Hộ quốc Tướng quân đương thời là Tạ Nghĩa dẫn binh bắc chinh.

Tạ Nghĩa là thế hệ võ tướng đầu tiên của Tạ gia đi lính, xuất thân từ binh nghiệp, cả đời chinh chiến sa trường. Trận chiến ấy, ông tự mình dẫn ba vạn bộ binh đối đầu với tám vạn thiết kỵ Đại Lưu, dùng trận hình bộ binh tử thủ nơi cửa ải hiểm trở trong hẻm núi, kiên cường chống đỡ mười một đợt càn quét của kỵ binh địch. Cuối cùng, quân Đại Lưu cạn kiệt lương thảo, buộc phải rút lui. Tạ Nghĩa thừa cơ phản công, thu phục ba thành, đồng thời đẩy chiến tuyến vào sâu trong biên giới Đại Lưu trăm dặm. Đại Lưu buộc phải ký hòa ước dưới chân thành, suốt hai mươi năm không dám dòm ngó phương nam.

Trưởng tử của Tạ Nghĩa là Tạ Ngạo Thiên, từ năm mười lăm tuổi đã theo cha xuất chinh. Thiếu niên can đảm hơn người, xông pha trận mạc giết địch không chút e dè, nhiều lần dẫn tiểu đội tập kích quân nhu của Đại Lưu, lập nhiều chiến công, tướng sĩ trong quân đều gọi y là "Thiếu tướng quân". Trong trận bắc chinh, Tạ Ngạo Thiên tự tay chém chết kỵ tướng quân địch, nhưng lại không cứu được người cha bị tên bắn xuyên phổi.

Tạ Nghĩa trúng bảy mũi tên, quân y dốc hết sức mới giữ lại được một mạng cho ông, nhưng độc tiễn đã ngấm vào xương tủy, vết thương tái phát liên tục, kéo dài nửa năm rốt cuộc không qua khỏi.

Trước lúc lâm chung, Tạ Nghĩa chỉ nói với người con cả hai mươi tuổi đang túc trực bên giường một câu:

"Thay cha giữ vững bắc cảnh. Đừng để người Đại Lưu bước qua đây dù chỉ một bước."

Trảm Thiên cảm kích tấm lòng trung liệt của cả nhà họ Tạ, truy phong Tạ Nghĩa làm Vũ Lăng Hầu, thế tập võng thế. Tạ Ngạo Thiên kế thừa tước hầu ở tuổi hai mươi. Nhờ lập nhiều chiến công khi theo cha xuất chinh, uy tín trong quân đã vững, Trảm Thiên phá lệ bổ nhiệm y kế nhiệm chức Hộ quốc Tướng quân, tiếp quản binh quyền bắc cảnh.

Từ đó, Tạ Ngạo Thiên khắc sâu mối thù với Đại Lưu vào tận xương tủy. Cái chết của cha, vong hồn của một vạn tướng sĩ trận vong, nỗi nhục nhã khi thiết kỵ Đại Lưu chà đạp lên mảnh đất Đại Văn, tất cả những điều này trở thành lý do để y ngày ngày luyện binh, không dám lơ là một khắc. Y kế thừa phương pháp huấn luyện của cha, kết hợp với sự nghiên cứu của bản thân, ngày đêm thao luyện tại bắc cảnh, rèn giũa quân thủ thành Cự Thành thành một đội quân thép.

Ba năm sau khi Tạ Nghĩa qua đời, Trảm Thiên băng hà, Trảm Sơn mới hai mươi lăm tuổi lên ngôi hoàng đế, trở thành vị vua thứ tư của Đại Văn.

Khi ấy Tạ Ngạo Thiên hai mươi ba tuổi, đã có thể độc đương một phía ở bắc cảnh. Các lão thần trong triều đều lo lắng vị tân quân trẻ tuổi này liệu có gánh vác nổi giang sơn Đại Văn. Đặc biệt là ở phương bắc, Tạ Ngạo Thiên đang nắm giữ trọng binh. Tuy y là quốc cữu chí thân, nhưng xưa nay chuyện ngoại thích chuyên quyền nhiều không đếm xuể, trong triều không thiếu kẻ bàn tán sau lưng: "Vũ Lăng Hầu nắm binh quyền quá lớn, tân đế e rằng không trấn áp nổi."

Thế nhưng, đạo thánh chỉ đầu tiên sau khi đăng cơ của Trảm Sơn đã khiến tất cả mọi người tâm phục khẩu phục.

Ông không thu hồi binh quyền của Tạ Ngạo Thiên, ngược lại còn gia phong y làm "Trấn Bắc Đại Tướng Quân", cho phép y tự luyện binh, tự lo lương thảo tại Cự Thành, nhưng đi kèm một điều kiện: trưởng tử của Tạ Ngạo Thiên là Tạ Hằng phải ở lại kinh thành, danh nghĩa là bạn học của thái tử, thực chất là làm con tin.

Nước cờ này vừa thu phục được lòng tin của quốc cữu bằng cách trao cho y quyền lực lớn hơn, lại vừa kiềm chế được hành động của y vì con trai đang ở kinh thành, y sẽ không dám manh động. Các lão thần trong triều xem xong thánh chỉ liền gật đầu tán thưởng: "Tân quân tuy trẻ tuổi nhưng rất am hiểu thuật chế hành."

Tạ Ngạo Thiên nhận được thánh chỉ, không nói hai lời, đích thân đưa trưởng tử Tạ Hằng mới năm tuổi đến kinh thành, còn bản thân lập tức quay về bắc cảnh. Trong thư gửi Trảm Sơn, y chỉ viết đúng một câu:

"Thần đời này, nguyện nhìn theo hướng ngựa của bệ hạ mà tiến."

Trảm Sơn đọc xong thư, nói với đại thần bên cạnh: "Quốc cữu có lòng trung thành, trẫm tự nhiên phải tin tưởng. Nhưng quy củ không thể bỏ, thiên hạ này không phải của riêng một mình trẫm, mà là thiên hạ dưới sự giám sát của vạn vạn con mắt."

Đó chính là Trảm Sơn, một vị quân chủ vừa biết đặt lòng tin, lại vừa giỏi thuật chế hành.

Năm thứ hai sau khi đăng cơ, Trảm Sơn đã làm một việc chấn động triều dã.

Ông đích thân ban bố Cầu Hiền Lệnh, lệnh cho thiên hạ tiến cử những bậc tài học. Các châu phủ tiến cử hàng trăm người vào kinh ứng thí, Trảm Sơn tự mình ra đề, tự mình chấm bài. Người giành được vị trí thủ khoa cuối cùng là một thư sinh hàn môn mới hai mươi tám tuổi tên là Nghiêm Cẩn.

Nghiêm Cẩn xuất thân từ một ngôi làng nhỏ vùng sông nước Giang Nam, gia đình nhiều đời làm ruộng. Năm tuổi biết chữ, bảy tuổi làm thơ, mười tuổi đọc hết sách vở trong làng, mười hai tuổi đã được huyện lệnh địa phương phá lệ nhận vào huyện học. Người này thiên tư thông tuệ là điều không cần bàn cãi, nhưng đáng quý hơn cả là tính tình chính trực, đàm thoại bất phàm, khi luận bàn về đạo trị quốc thì mạch lạc rõ ràng, thấu tình đạt lý.

Trảm Sơn đọc xong bài sách luận của Nghiêm Cẩn liền đập bàn đứng dậy: "Người này là đại tài! Trẫm phải đích thân gặp hắn."

Ngày diện thánh, Trảm Sơn hỏi Nghiêm Cẩn ba câu hỏi:

"Nếu bắc cảnh lại bị xâm lược, khanh nghĩ nên chiến hay nên hòa?"

Nghiêm Cẩn đáp: "Không chiến không hòa, thủ trước công sau. Với sự giàu có của Đại Văn, chúng ta kéo dài được; với binh lực của Đại Văn, chúng ta giữ vững được. Đợi đến khi quân địch cạn lương, sĩ khí sa sút rồi mới phản công, đó mới là thượng sách."

"Nếu thánh chỉ của trẫm có sai sót, khanh sẽ làm thế nào?"

Nghiêm Cẩn đáp: "Thần sẽ thẳng thắn can gián. Nếu bệ hạ không nghe, thần sẽ can gián lần thứ ba. Nếu ba lần vẫn không nghe, thần xin từ quan về quê, quyết không làm kẻ nịnh thần."

"Nếu trẫm giết khanh thì sao?"

Nghiêm Cẩn ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt Trảm Sơn, bình tĩnh nói: "Bệ hạ nếu giết trung thần thẳng thắn can gián, thiên hạ sẽ không còn ai dám nói lời thật lòng. Đến lúc đó, bên cạnh bệ hạ toàn là lũ nịnh hót xun xoe, giang sơn Đại Văn sẽ lâm nguy."

Văn võ bá quan cả triều đều nín thở kinh hãi, từ trước đến nay chưa từng có ai dám nói với tân đế những lời như vậy.

Thế nhưng Trảm Sơn lại cười lớn, liên tiếp khen ba tiếng "Tốt". Ngay hôm đó, ông phong Nghiêm Cẩn làm Biên tu Hàn lâm viện, ba năm sau thăng làm Đại học sĩ, năm năm sau vào nội các bái tướng.

Ngày Nghiêm Cẩn bái tướng, y mới ba mươi ba tuổi, là vị tể tướng trẻ tuổi nhất từ khi lập quốc của Đại Văn.

Trong triều có kẻ không phục, cho rằng một đứa con nhà nông dựa vào cái gì mà một bước lên mây. Trảm Sơn liền nói một câu trong buổi thiết triều khiến tất cả phải câm miệng:

"Trẫm chọn tể tướng chỉ nhìn xem người đó có thực tài hay không, không nhìn họ gì, nhà ở đâu. Ai trong các ngươi tự thấy bài sách luận của mình viết tốt hơn Nghiêm Cẩn, cứ mang lên đây cho trẫm xem."

Không một ai lên tiếng.

Nghiêm Cẩn không phụ lòng tin của Trảm Sơn. Trong mười năm tại vị, y đã thúc đẩy ba quốc sách có ảnh hưởng sâu rộng:

Một là hưng thủy lợi. Đại Văn tuy giàu có nhưng phương bắc thường xuyên chịu cảnh hạn hán lũ lụt luân phiên. Nghiêm Cẩn đã chủ trì xây dựng ba con kênh lớn dẫn nước sông tưới tiêu cho ruộng đồng, giúp sản lượng lương thực của sáu châu phương bắc tăng gấp đôi.

Hai là cải cách khoa cử. Y bãi bỏ chế độ cũ chỉ thi thơ phú, tăng thêm ba môn thi thực vụ là sách luận, toán thuật và luật pháp, giúp những người thực sự có năng lực trị quốc có thể vào triều làm quan.

Ba là mở cửa giao thương biên cảnh. Y kiến nghị lập chợ phiên giao thương tại Cự Thành ở bắc cảnh, cho phép trăm họ ba nước thông thương. Đại Văn xuất khẩu tơ lụa, trà diệp; Đại Lưu bán da thú, ngựa chiến; Đại Hoang cung cấp dược liệu, hương liệu. Nhờ trao đổi hàng hóa qua lại, những vụ cọ xát nơi biên cảnh ngược lại còn giảm đi.

Ba quốc sách này giúp quốc lực Đại Văn trong mười năm đầu Trảm Sơn trị vì ngày một đi lên, trăm họ an cư lạc nghiệp, trong dân gian thậm chí còn lưu truyền một câu nói:

"Văn có Nghiêm Cẩn, võ có Tạ Ngạo Thiên, Đại Văn vô ưu."

Trảm Sơn nghe được lời này, cười nói với Nghiêm Cẩn: "Ái khanh, danh tiếng của trẫm đều bị khanh và Vũ Lăng Hầu che lấp hết rồi."

Nghiêm Cẩn nghiêm nét mặt đáp: "Bệ hạ nhân đức mới có đất cho thần tử dụng võ. Nếu bệ hạ là bạo quân, thần dù có năng lực đến mấy cũng vô dụng."

Trảm Sơn xua tay: "Được rồi được rồi, trẫm biết lòng trung thành của các khanh rồi, không cần ngày nào cũng bày tỏ."

Ngay lúc Trảm Sơn đang tuyển chọn hiền tài cho triều đình, một sự việc thay đổi cuộc đời ông đã âm thầm diễn ra.

Thời kỳ đầu khi mới đăng cơ, Trảm Sơn có một lần vi hành, tự xưng là "Sơn lão gia", dẫn theo hai thị vệ mặc thường phục. Tại một ngôi miếu đổ nát ở ngoại ô phía nam kinh thành, ông phát hiện ra một nam tử đang thoi thóp. Người đó khắp mình đầy máu, trên vai trái có một vết đao chém sâu thấy xương, nhưng ngay cả khi hôn mê, tay phải y vẫn nắm chặt thanh trường kiếm đến mức các khớp ngón tay trắng bệch.

Trảm Sơn lệnh cho thị vệ khiêng người này về một trạch viện bí mật trong thành. Đây là nơi dừng chân ông chuẩn bị từ trước khi lên ngôi, người ngoài không hề hay biết. Ông mời thái y đến cứu trị. Thái y xem qua vết thương xong sắc mặt vô cùng ngưng trọng, vết đao chém có tẩm độc, tuy độc tính không quá mạnh nhưng nếu chậm trễ chừng nửa canh giờ nữa thì tính mạng khó giữ.

Ba ngày sau, người đó tỉnh lại.

Y nhìn thấy Trảm Sơn ngồi bên giường, phản ứng đầu tiên là siết chặt kiếm. Nhưng ngay sau đó y nhận ra kiếm đã bị tịch thu, còn nam tử trẻ tuổi trước mắt mặc một bộ bố y bình thường, gương mặt ôn hòa, không có vẻ gì là nguy hiểm.

"Ngươi là ai?" Giọng người đó khản đặc.

"Ta là Sơn lão gia." Trảm Sơn rót cho y một chén nước, "Chỉ là một kẻ buôn bán nhỏ đi ngang qua thôi. Còn ngươi?"

Người đó im lặng hồi lâu mới thốt ra một chữ: "Bùi."

Y không nói gì thêm, chỉ xưng một cái họ.

Trảm Sơn không gặng hỏi. Theo ông, một người trọng thương thoi thóp có quyền giữ bí mật của riêng mình.

Trong nửa tháng tiếp theo, ngày nào Trảm Sơn cũng đến thăm người họ Bùi này. Ông sai người đưa cơm dâng thuốc nhưng không cử bất kỳ ai canh gác, vì không muốn đối phương có cảm giác bị giam lỏng.

Vết thương của người họ Bùi hồi phục rất nhanh, nhanh đến mức thái y cũng phải kinh ngạc. Nửa tháng sau, y đã có thể xuống giường đi lại. Y có vóc dáng cao ráo, gương mặt lạnh lùng, tuổi chừng ngoài ba mươi, giữa hai lông mày toát ra một luồng khí thế sắc bén bức người. Y đi lại không một tiếng động, giống như một con mèo di chuyển trong bóng tối.

Một ngày nọ, khi Trảm Sơn đang tản bộ trong viện, bỗng cảm thấy phía sau có người đi theo. Ông quay đầu lại nhìn, người họ Bùi đã đứng sau lưng ông từ lúc nào, cách chừng ba bước chân.

"Khinh công của ngươi rất tốt." Trảm Sơn cười nói.

"Không phải khinh công." Giọng điệu của người họ Bùi rất bình thản, "Là bộ pháp."

"Bộ pháp gì?"

"Bộ pháp giết người."

Trảm Sơn không hề sợ hãi. Ông nhìn vào mắt người họ Bùi, đôi mắt lạnh lẽo như nước khe núi mùa đông, không có hơi ấm, cũng chẳng có sợ hãi.

"Ngươi là ai?" Trảm Sơn hỏi. Đây là lần thứ hai ông hỏi câu này.

Lần này, người họ Bùi không im lặng nữa.

"Bùi Vô Thường." Y nói ra ba chữ, giọng trầm xuống, "Nhưng người trong giang hồ gọi ta là 'Kiếm Quỷ'."

Trảm Sơn sắc mặt không đổi, nhưng trong lòng lại chấn động. Kiếm Quỷ, ông từng nghe danh người này.

Giang hồ lưu truyền một câu nói: "Thiên hạ kiếm thuật đệ nhất, không hỏi môn phái không hỏi sư thừa, chỉ nhận một người, Kiếm Quỷ."

Nghe đồn người này xuất thân vô danh, không có sư thừa, không rõ lai lịch. Năm hai mươi tuổi, y đã dùng một bộ kiếm pháp tự sáng tạo càn quét giang hồ, từ nam chí bắc, đánh bại tất cả cao thủ thiên hạ. Kiếm pháp của y không có tên, người trong giang hồ dựa vào đặc điểm của nó mà gọi là "Ảnh Kiếm", xuất kiếm không tiếng động, thu kiếm không tăm hơi, đối thủ thường thua cuộc khi còn chưa kịp nhận thức được chuyện gì xảy ra.

But ba năm trước, Kiếm Quỷ đột nhiên biến mất khỏi giang hồ. Có người nói y đã bị giết, có người nói y đã quy ẩn, chẳng một ai rõ thực hư.

Giờ đây, sự thật đang phơi bày trước mặt chàng thanh niên tự xưng là "Sơn lão gia" này.

"Ai đã đả thương ngươi?" Trảm Sơn hỏi.

"Một người ta từng tin tưởng." Giọng y không chút gợn sóng, như thể đang kể câu chuyện của người khác, "Ta coi hắn là huynh đệ, hắn coi ta là đối thủ. Hắn hẹn ta tỷ thí kiếm thuật rồi hạ độc trong rượu. Kiếm chưa kịp đấu, ta trúng độc, hắn thừa cơ chém ta một đao."

Y chỉ vào vết sẹo trên vai trái.

"Tại sao?"

"Bởi vì ta thắng quá nhiều." Giọng điệu của y vẫn bình thản như cũ, "Kẻ thắng quá nhiều thì sẽ có người muốn thắng lại. Thắng không nổi thanh kiếm của ngươi, họ sẽ thắng con người ngươi."

Trảm Sơn im lặng hồi lâu.

"Sau khi vết thương lành hẳn, ngươi định đi đâu?"

"Không biết. Trở lại giang hồ, giết hắn."

"Sau đó thì sao?"

Người đó không nói gì. Y không biết sau đó sẽ thế nào. Giết chết kẻ đó xong, y vẫn chỉ có một mình. Một người không gốc rễ, không phương hướng, không có lý do để tồn tại.

"Ở lại chỗ ta đi." Trảm Sơn nói.

Người đó ngẩng đầu nhìn ông.

"Ta tuy chỉ là một kẻ buôn bán nhỏ," Trảm Sơn mỉm cười, "nhưng tai mắt và thế lực cũng có chút thông thiên. Ta cần một vài người, không phải những kẻ buôn bán đấu đá lẫn nhau, mà là những người thực sự biết chiến đấu, biết giết chóc, có thể ở trong bóng tối giúp ta làm những việc người khác không thể làm được."

"Ngươi muốn ta làm tay sai?"

"Không, là ám vệ. Không chỉ một mình ngươi. Ta muốn ngươi giúp ta thành lập một đội ám vệ, chỉ nghe mệnh lệnh của một mình ta, làm những việc người khác không làm được. Ngươi sẽ làm thủ lĩnh."

Người đó suy nghĩ rất lâu.

Y không phải là người dễ bị cảm động. Trong nửa đời trước của y, lòng tin đổi lấy sự phản bội, chân tình đổi lấy lưỡi đao. Y đã sớm không còn tin tưởng bất kỳ ai.

But Trảm Sơn thì khác.

Từ khoảnh khắc y tỉnh lại, Trảm Sơn chưa từng hỏi về lai lịch, võ công hay giá trị của y. Ông chỉ đến mỗi ngày để đưa một bát cháo, một chén nước, nói vài câu rồi đi. Suốt nửa tháng trời, ông chưa từng nói một câu kiểu như "ngươi nợ ta một mạng" hay "ngươi phải báo đáp ta".

Điều này khiến y cảm nhận được một thứ cảm giác đã mất đi từ lâu: được đối xử như một con người, chứ không phải một công cụ.

"Được." Y nói.

Chỉ một chữ duy nhất.

Trảm Sơn cười: "Ngươi ngay cả tên cũng không chịu nói cho ta biết, sau này ta gọi ngươi thế nào?"

Người đó im lặng một lát rồi nói: "Cái tên trước kia của ta đã chết cùng với giang hồ đó rồi. Từ hôm nay, ta không cần cái tên đó nữa."

"Vậy ngươi muốn gọi là gì?"

Y liếc nhìn ra ngoài cửa sổ, ánh trăng như nước, bóng cây loang lổ.

"Ảnh." Y nói, "Sau này ta chính là cái bóng."

Trảm Sơn suy nghĩ một chút rồi nói: "Ta muốn thành lập không chỉ một mình ngươi, mà là một đội ám vệ. Vì ngươi là người đầu tiên, nên gọi là Ảnh Nhất. Sau này có người thứ hai, thứ ba... cứ thế suy ra, Ảnh Nhị, Ảnh Tam, cho đến Ảnh Thập Tam."

"Ảnh Nhất." Y lẩm nhẩm một lần rồi gật đầu, "Được."

Sau khi Ảnh Nhất đồng ý, Trảm Sơn im lặng một lát, rồi đứng dậy chỉnh đốn y phục.

"Ảnh Nhất, có một việc ta phải nói cho ngươi biết." Giọng điệu của ông không còn tùy ý nữa, mà mang theo sự trầm ổn và uy nghiêm không tương xứng với tuổi tác, "Ta không phải Sơn lão gia nào cả. Ta tên Trảm Sơn, là quốc quân của Đại Văn."

Ảnh Nhất nhìn vào mắt ông. Đôi mắt vừa rồi còn mang theo nụ cười ôn hòa, lúc này lại sắc bén như hai lưỡi đao, kiên định, không thể nghi ngờ.

"Ngươi muốn lừa ta?" Tay Ảnh Nhất vô thức nắm chặt thành quyền.

"Nếu ta muốn lừa ngươi, ta đã không nói cho ngươi biết." Trảm Sơn bình tĩnh nói, "Ta cứu ngươi vì ngươi xứng đáng được cứu. Ta giữ ngươi lại vì ta cần ngươi. Nhưng ta sẽ không dùng sự lừa dối để đổi lấy lòng trung thành của một người. Bây giờ ngươi muốn đi, ta không cản."

Ảnh Nhất chăm chú nhìn ông rất lâu.

"Ngươi không sợ ta giết ngươi?"

"Ngươi sẽ không làm thế." Trảm Sơn nói, "Kiếm của ngươi dùng để giết người, nhưng không phải để giết ân nhân."

Nắm đấm của Ảnh Nhất từ từ buông lỏng.

"Được." Y lại nói ra chữ này, "Nhưng ta có một điều kiện."

"Nói đi."

"Đội ám vệ ngươi vừa nói chỉ làm những việc nên làm: giết tham quan, giết gian nịnh, giết những kẻ đáng giết. Không giết trung thần, không giết người vô tội, không giúp ngươi trừ khử dị kỷ. Làm được thì ta theo. Không làm được, ta đi."

Trảm Sơn gật đầu: "Một lời đã định."

Ba năm sau đó, Ảnh Nhất ở trong bóng tối đã thành lập cho Đại Văn một đội ám vệ chưa từng có: Lưu Quang Thập Tam Ảnh.

"Lưu Quang" lấy từ đặc điểm kiếm pháp của y: xuất kiếm như ánh sáng lưu chuyển, vụt sáng rồi biến mất. Thập Tam Ảnh chính là mười ba vị cao thủ tuyệt đỉnh.

Tiêu chuẩn chọn người của Ảnh Nhất vô cùng khắt khe: võ công phải thuộc hàng nhất lưu, nhưng quan trọng hơn cả là phải có lòng trung thành không thể lay chuyển.

Y mất ba năm để tìm kiếm mười hai người từ giang hồ, quân đội cho đến dân gian. Mười hai người này xuất thân khác nhau: có kiếm khách bị oan sai giết hại cả nhà, có tiêu sư bị diệt môn, có võ giả bị bán làm nô lệ... Điểm chung của họ là đều từng bị thế đạo này làm tổn thương sâu sắc, đều đã mất đi lòng tin vào cuộc đời.

Ảnh Nhất tìm đến từng người một, nói chuyện với từng người một. Y không nói những lời đao to búa lớn kiểu "trung quân báo quốc", y chỉ nói đúng một câu:

"Ngươi có hận thế đạo này không? Nếu hận, hãy đi theo ta. Ta cho ngươi một thanh đao, ngươi thay ta giết những kẻ đáng giết."

Mười hai con người, mười hai câu trả lời "Được".

Giống hệt như lúc Ảnh Nhất đồng ý với Trảm Sơn, chỉ một chữ duy nhất.

Sau khi Lưu Quang Thập Tam Ảnh được thành lập, họ chỉ nghe theo mệnh lệnh của một mình hoàng đế đương triều. Ngoài ra, bất kỳ ai, kể cả hoàng hậu, thái tử hay tể tướng, đều không có quyền điều động. Đây là thiết luật do Trảm Sơn định ra.

Ảnh Nhất quỳ một gối xuống đất, nói với Trảm Sơn: "Bệ hạ, Thập Tam Ảnh là đao của ngài. Chỉ cần là kẻ đáng giết, ngài chỉ cần phán một câu, dù chân trời góc bể, thần cũng quyết lấy mạng hắn. Thập Tam Ảnh không chỉ là đao, mà còn là khiên của ngài. Chúng thần ngày đêm hộ vệ quanh bệ hạ, nếu có kẻ nào mưu đồ bất chính với bệ hạ, Thập Tam Ảnh nguyện lấy mạng ra bảo vệ."

Trảm Sơn nhìn y, ánh mắt khẽ động: "Ảnh Nhất, ngươi đây là đem mạng sống của bản thân và mười hai người kia giao hết cho trẫm rồi."

Ảnh Nhất ngẩng đầu, ánh mắt trầm ổn: "Mạng của thần vốn là do bệ hạ cứu về. Từ ngày đó trở đi, cái mạng này đã không còn thuộc về thần nữa."

Trảm Sơn không nói thêm gì nữa. Ông đưa tay đỡ Ảnh Nhất dậy.

"Trẫm ghi nhớ rồi."

Lưu Quang Thập Tam Ảnh từ đó ẩn mình trong bóng tối, người đời không hề hay biết. Họ là thanh đao sắc bén nhất trong tay Trảm Sơn, là quân bài tẩy cuối cùng của Đại Văn, và cũng là phòng tuyến cuối cùng luôn túc trực sau lưng Trảm Sơn giữa đêm đen.

Nhưng ẩn mình trong bóng tối không có nghĩa là không tiếng động.

Những năm đầu sau khi Thập Tam Ảnh được thành lập, triều đình Đại Văn đã xảy ra một số thay đổi vi diệu: vài quan viên địa phương tham ô bạc cứu trợ thiên tai đã âm thầm bạo tử tại nhà vào một đêm khuya thanh vắng mà không ai hay biết, vết thương đều là một kiếm phong hầu, gọn gàng dứt khoát, không để lại dấu vết. Mấy băng cướp lớn hoành hành nơi biên cảnh nhiều năm, cấu kết buôn lậu với ngoại bang bỗng chốc người đi trại trống, toàn bộ thổ phỉ trong trại bị chém giết sạch trơn, không một ai sống sót. Một binh bộ thị lang nhận hối lộ của Đại Lưu, bán đứng quân tình, ngay trong đêm chuyển mật thư cho tế tác Đại Lưu thì bức thư đó đã xuất hiện trên án thư của Trảm Sơn, còn vị thị lang kia ngày hôm sau được phát hiện đã chết trong thư phòng, chén rượu độc trên tay vẫn chưa uống hết.

Những việc này, trong triều không ai biết do ai làm. Nhưng trên giang hồ, tin tức lan truyền rất nhanh.

Dần dần, giữa các tham quan ô lại của Đại Văn bắt đầu truyền tai nhau một câu nói:

*"Thiên hạ không có người Thập Tam Ảnh không giết được, cũng không có kẻ Thập Tam Ảnh không bắt được."*

Sau khi câu nói này truyền ra, hiệu quả còn tốt hơn những gì Trảm Sơn dự tính. Không phải vì Thập Tam Ảnh đã giết bao nhiêu người, mà là vì nỗi sợ hãi vô hình này. Người ta không biết khi nào họ đến, không biết họ ở đâu, thậm chí không biết họ trông như thế nào. Họ giống như những chiếc bóng, vô sở bất tại nhưng lại không thể tìm ra dấu vết.

Các tham quan của Đại Văn bắt đầu biết thu liễm. Không phải vì họ thức tỉnh lương tâm, mà là vì họ sợ. Những vị đại nhân ban ngày còn ngồi trên đường xét xử, ban đêm đã phải nơm nớp lo sợ, lần lượt âm thầm trả lại số bạc tham ô, lén lút nộp lại của hối lộ. Có người suốt đêm dâng sớ thỉnh tội, có người dứt khoát từ quan về quê.

Trộm cướp vùng biên giới cũng yên ắng đi nhiều. Những tên thủ lĩnh thổ phỉ từng xưng vương xưng bá một phương bỗng trở nên an phận thủ thường. Kẻ thì rửa tay gác kiếm, kẻ thì giải tán thuộc hạ, thậm chí có kẻ còn chủ động đến quan phủ tự thú, chỉ cầu được khoan hồng xử nhẹ.

Giới giang hồ đặt cho Lưu Quang Thập Tam Ảnh một cái tên khác: "Diêm Vương Thiếp".

Ý nói Thập Tam Ảnh ra tay cũng giống như Diêm Vương phát thiệp mời, một khi đã nhận được thì coi như một bàn chân đã bước vào điện Diêm La.

Bách tính tuy không biết đến sự tồn tại của Thập Tam Ảnh, nhưng họ cảm nhận được sự thay đổi. Quan địa phương không còn vơ vét sưu cao thuế nặng, thổ phỉ trên đường ít đi, giá cả ngoài chợ cũng ổn định hơn. Tiếng thơm trong dân gian đều âm thầm quy về cho đương kim thiên tử.

Trảm Sơn nghe được những lời đồn này liền nói với Ảnh Nhất: "Làm tốt lắm. Nhưng hãy nhớ, chức trách hàng đầu của Thập Tam Ảnh là bảo vệ trẫm chu toàn, việc giết người không được phép làm bại lộ hành tung của các ngươi."

Ảnh Nhất trả lời: "Thần hiểu rõ. Vì vậy mấy vị thị lang và quan viên kia đều do đích thân thần điều tra xác thực, chứng cứ như núi, sau khi xác nhận vạn vô nhất thất mới ra tay. Chúng thần chưa từng để lại bất kỳ kẻ sống sót hay dấu vết nào trong lúc làm nhiệm vụ."

Trảm Sơn gật đầu: "Tiếp tục đi."

Còn về phần Ảnh Nhất, Trảm Sơn đã có sắp xếp khác. Đợi thái tử lớn hơn một chút, ông sẽ để y đảm nhận chức võ sư Đông Cung, dạy dỗ võ nghệ cho thái tử.

Tâm tư của Trảm Sơn rất sâu sắc. Ảnh Nhất là người giang hồ, không nằm trong hệ thống triều đình, lại tuyệt đối trung thành với mình. Việc dạy thái tử thuật tự vệ không liên quan đến triều chính, sẽ không gây ra tranh cãi về việc ngoại thích can chính.

Nhưng chỉ có bản thân Trảm Sơn biết, việc ông để Ảnh Nhất dạy thái tử sau này không chỉ đơn thuần là vì võ công. Ông muốn thái tử học được một điều từ Ảnh Nhất: ý chí sinh tồn trong thế gian tàn khốc này.

Thế nhưng, bên dưới bề mặt thái bình thịnh thế ấy, có những thứ đang âm thầm thối rữa.

Trảm Sơn có một người cháu gọi bằng chú, tên là Trảm Chí Hào.

Cha của Trảm Chí Hào là Trảm Minh Viễn, trưởng tử của tiên đế Trảm Thiên, cũng chính là anh trai ruột cùng mẹ với Trảm Sơn. Trảm Minh Viễn từ nhỏ đã được lập làm thái tử, thiên tư thông minh, văn võ song toàn, thời niên thiếu cũng từng là vị trữ quân được triều dã ký thác kỳ vọng cao.

Thế nhưng, ngôi vị thái tử mang lại cho y không phải là sự kính sợ mà là sự bành trướng dã tâm.

Trong hai mươi năm ở Đông Cung, Trảm Minh Viễn ban đầu là tham ô bạc cứu trợ thiên tai, nhận hối lộ của quan viên địa phương, về sau càng lúc càng không kiêng nể gì, thậm chí còn dung túng cho thuộc hạ cưỡng đoạt ruộng đất của dân, đánh chết tá điền. Trảm Thiên ban đầu vì niệm tình cha con nên chỉ quở trách qua loa; nhưng sau đó sự việc ngày càng lớn, có mấy vị ngự sử chính trực liên danh đàn hặc thái tử "tham ô phạm pháp, coi mạng người như cỏ rác", kéo theo cả vụ án mạng của ba mươi bảy mạng người bị lật lại.

Trảm Thiên xem xong tấu chương, chỉ sau một đêm tóc đã bạc trắng.

Ông dùng ba ngày để điều tra xác thực, mỗi một tội trạng đều có chứng cứ rõ ràng, sắt đá như núi. Cuối cùng, Trảm Thiên gạt lệ hạ chỉ: phế thái tử Trảm Minh Viễn làm thứ dân, giam lỏng tại biệt viện hoàng thành, suốt đời không được bước ra ngoài.

Triều dã chấn động. Phế thái tử là việc lần đầu tiên xảy ra trong lịch sử hai trăm năm của Đại Văn.

Ba năm sau khi bị phế, Trảm Minh Viễn u uất mà chết khi mới bốn mươi mốt tuổi. Trước lúc lâm chung, y không gặp bất kỳ ai, chỉ dùng móng tay khắc lên tường tám chữ:

*"Thiên hạ có chủ, không phải tội của ta."*

Trảm Sơn khi ấy vẫn còn là thân vương, đã đến nhìn mặt anh trai lần cuối. Trảm Minh Viễn tựa vào góc tường, gầy gò chỉ còn da bọc xương, ánh mắt nhìn em trai không có hận thù, chỉ có một sự trống rỗng khôn tả.

"Nhị đệ," y gọi tên em trai lần cuối, "đệ nói xem, ta đã làm sai điều gì?"

Trảm Sơn không trả lời. Bởi vì ông biết, anh trai hỏi không phải để tìm một đáp án, mà là một sự thật bản thân y vĩnh viễn không thể chấp nhận: y đã sai ở mọi thứ.

Sau khi Trảm Minh Viễn qua đời, y để lại một đứa con trai tám tuổi, chính là Trảm Chí Hào.

Trảm Sơn nghĩ tình cháu trai mồ côi cha từ nhỏ nên đã đón vào hoàng cung nuôi dưỡng, phong làm An Viễn Hầu, ban cho phủ đệ ở kinh thành. Ý định của ông là giữ lại một huyết mạch cho anh trai, cũng coi như trọn nghĩa tình thủ túc.

Nhưng ông không ngờ rằng, tám chữ trước lúc lâm chung của Trảm Minh Viễn đã sớm qua miệng lão bộc trong biệt viện truyền vào tai Trảm Chí Hào khi ấy còn nhỏ tuổi.

"Thiên hạ có chủ, không phải tội của ta."

Trong quá trình trưởng thành của Trảm Chí Hào, tám chữ này bị y nghiền ngẫm đi nghiền ngẫm lại, cuối cùng biến thành một phiên bản khác:

"Thiên hạ vốn dĩ phải là của chúng ta, là Trảm Sơn đã cướp đi."

Trảm Chí Hào từ nhỏ đã được những người thuộc bộ hạ cũ của cha vây quanh chiều chuộng. Những người này có kẻ từng là thị vệ Đông Cung, có kẻ là môn khách năm xưa của Trảm Minh Viễn. Sau khi Trảm Minh Viễn chết, họ như cây đổ bầy khỉ tan, nhưng trong lòng vẫn luôn canh cánh việc tiên đế phế thái tử. Họ trút hết mọi oán hận lên người Trảm Chí Hào còn nhỏ tuổi, hết lần này đến lần khác nói với y:

"Cha của cháu bị oan."

"Thiên hạ này vốn dĩ phải là của cháu."

"Cái ghế chú của cháu đang ngồi đáng lẽ thuộc về cháu."

Trảm Chí Hào thiên tư không tệ, thông minh, lanh lợi, nhưng sự thông minh ấy đều dùng vào việc ngụy trang và tính toán. Y đánh bạc, uống rượu, chọi gà dắt chó, đứng đầu trong giới công tử bột ăn chơi ở kinh thành. Nhưng đó chỉ là lớp vỏ bọc của y. Trước mặt trưởng bối, y là đứa cháu ngoan ngoãn hiểu lễ nghĩa; trước mặt Trảm Sơn, y là người cháu cung thuận trung thành; ngoài phố chợ, y là vị hào khách vung tiền như rác, kết giao với đủ hạng người trong tam giáo cửu lưu.

Chẳng một ai hay biết, vị An Viễn Hầu suốt ngày cười đùa cợt nhả trong sòng bạc kia, mỗi đêm đều ngồi một mình trong thư phòng, nhìn bức họa Trảm Minh Viễn treo trên tường mà lặng người thẫn thờ.

Trảm Minh Viễn trong tranh vẫn mặc mãng bào thái tử, ý khí phong phát.

Trảm Chí Hào đối diện với bức họa nói: "Cha, con trai sẽ đoạt lại nó thay cha."

Trảm Sơn biết rõ tính khí của Trảm Chí Hào, nhưng nghĩ y là huyết mạch duy nhất anh trai để lại nên vẫn nuôi nấng tử tế, không cho y thực quyền cũng không làm khó y.

Trảm Sơn từng nói với Nghiêm Cẩn: "Chí Hào đứa trẻ này là di cô của Minh Viễn. Nó có bất tài vô dụng thế nào đi nữa thì vẫn là cháu của trẫm. Chỉ cần không cho nó binh quyền, không cho nó thực quyền, nó sẽ không lật nổi trời."

Nghiêm Cẩn gật đầu đồng ý, nhưng trong lòng lại mơ hồ cảm thấy bất an.

Y thường nói một câu: "Thù hận là chất dinh dưỡng tốt nhất. Ngươi càng đè nén nó, nó lại càng lớn nhanh."

Chỉ là Trảm Sơn quá mức nhân hậu, rốt cuộc không để tâm lời này.

Gió nổi lên từ đầu ngọn cỏ.

Tế tác của Đại Lưu và Đại Hoang đã sớm âm thầm thẩm thấu vào từng ngõ ngách của Văn Đô. Còn vị An Viễn Hầu Trảm Chí Hào được Trảm Sơn nuôi dưỡng ở kinh thành, kẻ tưởng chừng không lật nổi trời kia, đang ở trong bóng tối mài giũa thanh đao của mình.

Mũi đao hướng thẳng vào giang sơn Đại Văn, và cả ngai vàng của Trảm Sơn.

Chương khác

Xem thêm