Thần Giữ Của Núi Bạch Thạch - Chương 1: Buổi sáng ngày mười hai tháng ba, núi Bạch Thạch thức dậy bằng một tiếng rít dài của máy xúc.
Đinh Văn Hùng đã lái máy xúc mười một năm, từ những công trình ven biển lên đến các mỏ than lộ thiên ở Quảng Ninh, chưa có buổi sáng nào khiến gáy anh…
Nội dung chương
Đinh Văn Hùng đã lái máy xúc mười một năm, từ những công trình ven biển lên đến các mỏ than lộ thiên ở Quảng Ninh, chưa có buổi sáng nào khiến gáy anh lạnh như buổi sáng này. Lưỡi gầu thép đang cào vào sườn đồi để mở mặt bằng cho khu nhà điều hành của Bạch Thạch Resort thì bỗng khựng lại, như có ai đó từ dưới lòng đất nắm chặt lấy nó. Máy rung lên, đồng hồ áp suất nhảy vọt, rồi một tiếng "cạch" khô khốc vang lên từ dưới lớp đất đỏ.
Hùng tắt máy. Im lặng đổ xuống công trường như một tấm vải ướt.
- Xuống xem coi, anh Hùng! - Tiếng ông Bảy Thìn, cai thầu, vọng từ lán tạm bên dưới. - Cái gì mà cứng dữ vậy?
Hùng nhảy khỏi cabin, chân đạp lên đất đỏ còn ướt sương. Anh lấy xẻng, cào nhẹ lớp đất quanh chỗ lưỡi gầu vừa chạm. Đất rơi xuống, để lộ một mảng cong màu xám tro, nhẵn như da trâu, cong vút thành hình vòm. Anh cào thêm. Mảng vòm hiện ra rõ hơn, xếp bằng những viên gạch lớn, mỗi viên dài gần hai gang tay, mặt gạch khắc những đường vân sóng mờ.
Ông Bảy leo lên, thở hổn hển.
- Gạch... gạch vồ! - Ông Bảy thì thào, mắt mở to. - Trời đất, cái này là gạch vồ thời xưa đó anh Hùng!
Hùng không rành khảo cổ, nhưng anh biết gạch vồ. Cha anh từng làm thợ nề ở Cẩm Phả, kể rằng gạch vồ là thứ gạch nung to bản của người xưa, xây thành quách, xây mộ, xây những thứ phải đứng vững hàng trăm năm. Vòm gạch trước mặt anh không phải mộ thường. Nó lớn, đường cong chuẩn đến mức đáng sợ, và càng cào đất ra, vòm càng hiện rõ, chạy sâu vào lòng đồi như một cái miệng đang há.
- Gọi cho giám đốc Phát chưa? - Hùng hỏi.
- Gọi rồi. Ông ấy đang trên đường từ Hạ Long lên. - Ông Bảy lau mồ hôi. - Ông ấy dặn: không ai được động thêm vào, chờ ông ấy tới.
Nhưng công trường thì không chờ được. Mười mấy công nhân xúm lại, người cầm điện thoại chụp, người lấy tay sờ vào mặt gạch. Một anh thợ trẻ tên Tèo còn gõ gõ vào vòm gạch, cười hềnh hệch:
- Coi chừng có vàng đó mấy anh!
Không ai cười theo. Gió từ trong vòm gạch thổi ra, mang theo một mùi lạ. Hùng ngửi thấy đầu tiên. Mùi ấy ngọt, hơi hắc, giống mùi thuốc bắc mà mẹ anh hay sắc mỗi khi anh ốm, nhưng đậm hơn, già hơn, như mùi của thứ gì đó đã nằm trong lòng đất rất lâu rồi bỗng được đánh thức.
- Mấy anh có ngửi thấy gì không? - Hùng hỏi.
Mọi người im lặng ngửi. Rồi Tèo lên tiếng, giọng nhỏ hẳn:
- Mùi... mùi sâm?
Đúng lúc đó, từ khe nứt giữa hai viên gạch vồ, một làn khói trắng mỏng bốc lên. Không phải khói đen của máy móc, không phải hơi nước. Khói trắng, cuộn nhẹ như sợi chỉ, và mùi sâm theo đó đậm đặc lên, xộc vào mũi, vào cổ họng, khiến mấy người ho sặc.
- Tránh ra! Tránh ra hết! - Ông Bảy quát, xua mọi người lùi lại. - Không được thở gần!
Nhưng đã muộn. Khói vẫn bốc, mùi sâm lan ra khắp công trường, len vào lán tạm, vào cả những tán cây rừng quanh đó. Chim trên cây im bặt. Một con chó của đội bảo vệ đang sủa bỗng cụp đuôi, rên ư ử rồi chui tọt xuống gầm lán.
Hùng đứng chết trân. Anh thấy làn khói trắng cuộn thành hình, thoắt như bàn tay, thoắt như mái tóc dài, rồi tan ra. Trong một thoáng, anh ngỡ mình nghe thấy tiếng gì đó, rất khẽ, như tiếng ai đó thở dài từ sâu trong lòng đồi. Anh lắc đầu, tự nhủ là gió.
Hùng lái máy xúc đã mười một năm. Anh từng đào trúng đủ thứ dưới lòng đất Quảng Ninh: vỏ bom cũ, hầm lò than sập từ thời Pháp, có lần còn đào trúng cả một bộ hài cốt liệt sĩ với tấm thẻ nhôm đã mờ chữ. Lần nào anh cũng thấy lạnh gáy, nhưng lần nào cũng qua. Đất dưới chân anh là đất của cha anh, của ông anh, những người thợ mỏ đã đổ mồ hôi xuống từng tấc đất này. Anh chưa bao giờ sợ đất. Vậy mà sáng nay, đứng trước vòm gạch cong vút kia, anh thấy hai bàn tay mình run.
- Anh Hùng, anh coi kìa! - Tèo ré lên.
Hùng nhìn theo tay Tèo chỉ. Trên mặt vòm gạch, ngay chỗ lưỡi gầu cào trúng, có một vết nứt mới, mảnh như sợi tóc, chạy dọc theo đường vữa giữa hai viên gạch. Từ vết nứt ấy, làn khói trắng bốc ra đậm hơn, và mùi sâm nồng đến mức Hùng phải đưa tay lên che mũi. Nhưng lạ lùng thay, mùi ấy không khiến anh khó chịu. Nó khiến anh nhớ đến mẹ. Mẹ anh mỗi độ trở trời lại sắc sâm cho cha uống, mùi thuốc bắc ấm nóng lan khắp gian bếp nhỏ. Mùi này cũng vậy, ấm, nhưng ấm theo cách của thứ gì đó đã chờ đợi quá lâu trong bóng tối, đến mức hơi ấm cũng biến thành nỗi buồn.
Ông Bảy lẩm bẩm khấn vái, tay lần tràng hạt đeo ở cổ tay. Mấy anh công nhân lớn tuổi hơn thì thầm với nhau:
- Đất này có chủ rồi...
- Chủ gì? Chủ đầu tư chứ chủ gì.
- Không phải. Ý tao là chủ... kia kìa.
Người kia hất hàm về phía vòm gạch, không dám nói hết câu. Hùng nghe mà gai ốc nổi khắp cánh tay. Anh quát:
- Thôi, giải tán! Về lán hết đi! Chờ giám đốc lên rồi tính!
Đám đông tản dần, nhưng không ai đi xa. Họ đứng thành từng nhóm nhỏ dưới bóng cây, mắt vẫn dán vào vòm gạch. Con chó của đội bảo vệ vẫn nằm bẹp dưới gầm lán, thỉnh thoảng lại rên lên một tiếng ư ử, như thể nó thấy được thứ mà mắt người không thấy.
Ba mươi phút sau, chiếc xe bán tải màu đen của Trần Đức Phát lao lên con đường đất đỏ, bụi bay mù mịt. Phát bước xuống, năm mươi lăm tuổi, áo sơ mi trắng ủi phẳng phiu không một nếp nhăn dù vừa đi đường rừng. Đôi mắt ông ta quét một vòng công trường, dừng lại ở vòm gạch, rồi ở làn khói trắng vẫn đang bốc lên mỏng như tơ.
Khuôn mặt ông ta không hề ngạc nhiên.
Hùng để ý điều đó. Một chủ đầu tư bình thường thấy công trình của mình đào trúng di tích cổ phải hốt hoảng, lo tiến độ, lo tiền bạc. Nhưng Phát chỉ đứng nhìn, hai tay chắp sau lưng, ánh mắt... Hùng không tìm được từ đúng. Ánh mắt ấy giống như người đi rừng lâu ngày bỗng thấy dấu chân con mồi mình tìm kiếm bấy lâu.
- Ai cho phép đào tiếp? - Phát hỏi, giọng đều đều.
- Dạ không ai đào thêm, thưa giám đốc. - Ông Bảy vội đáp. - Chỉ cào sơ lớp đất mặt thôi.
- Tốt. - Phát bước lại gần vòm gạch, cúi xuống ngửi. Mùi sâm xộc vào mũi ông ta. Đôi mắt ông ta sáng lên một cái, rất nhanh, rồi tắt. - Ông Bảy, cho người rào lại khu vực này, bán kính năm mươi mét. Không ai được vào. Gọi cho Sở Văn hóa, báo phát hiện di tích, đề nghị cử chuyên gia xuống khảo sát khẩn.
- Dạ, nhưng tiến độ...
- Tiến độ tính sau. - Phát ngắt lời, rồi quay sang Hùng. - Anh là người lái máy?
- Dạ, em.
- Kể lại cho tôi nghe, từ đầu. Không sót chi tiết nào. Nhất là cái mùi này. Anh ngửi thấy đầu tiên lúc nào?
Hùng kể. Phát nghe chăm chú đến lạ, thỉnh thoảng gật đầu, thỉnh thoảng hỏi vặn lại một chi tiết nhỏ: khói bốc từ khe nào, cao bao nhiêu, tan nhanh hay chậm. Khi Hùng kể đến đoạn thấy khói cuộn thành hình như bàn tay, Phát khựng lại.
- Anh chắc chứ?
- Em... em không chắc, thưa giám đốc. Có thể em hoa mắt.
Phát không nói gì thêm. Ông ta lấy điện thoại ra, chụp mấy tấm ảnh vòm gạch, rồi gọi một cuộc điện thoại. Hùng đứng gần nên nghe loáng thoáng:
- ...ừ, đúng như trong bản chép tay... vòm gạch vồ... khói mùi sâm... ừ, tôi biết phải làm gì...
Phát cúp máy, quay lại, bắt gặp ánh mắt Hùng đang nhìn mình. Trong một giây, mặt ông ta đanh lại. Rồi ông ta cười, vỗ vai Hùng:
- Anh làm tốt lắm. Tháng này thưởng thêm. Giờ thì cho anh em nghỉ sớm, ai về lán nấy.
Chiều hôm đó, công trường vắng tanh. Mọi người rút về lán tạm, nhưng không ai ngủ được. Mùi sâm vẫn còn, nhạt hơn nhưng dai dẳng, bám vào quần áo, vào tóc, vào cả giấc ngủ chập chờn.
Hùng nằm trên võng, mắt mở trừng trừng nhìn mái tôn. Anh cứ nghĩ mãi về ánh mắt của Phát lúc nhìn vòm gạch. Và câu nói trong điện thoại: "đúng như trong bản chép tay". Bản chép tay nào? Một chủ đầu tư resort biết gì về vòm gạch cổ mà lại có bản chép tay?
Gió đêm thổi qua khe lán, mang theo mùi sâm thoang thoảng. Ở phía sườn đồi, vòm gạch vồ nằm im lìm trong bóng tối, làn khói trắng đã tắt từ chiều, nhưng Hùng có cảm giác nó vẫn đang thở. Chậm rãi. Kiên nhẫn. Như thể nó đã chờ đợi rất lâu, và cuối cùng cũng có người đánh thức.
Anh trở mình, nhớ lại lời cha dặn hồi anh mới vào nghề: "Đất có linh, con ạ. Đào trúng cái gì lạ thì thắp nén nhang, xin phép rồi hãy làm tiếp. Đừng bao giờ nghĩ mình là chủ của đất." Hồi đó anh cười, cho là mê tín. Mười một năm cầm lái máy xúc, anh đã quên mất lời dặn ấy. Đến tối nay, nằm nghe mùi sâm len qua khe ván, anh mới thấy lời cha như có ai gõ vào trán mình từng chữ một.
Trong lán bên cạnh, tiếng ông Bảy trở mình sột soạt, rồi tiếng lần tràng hạt lách cách. Cả lán không ai ngủ. Mười mấy con người, mười mấy đôi mắt mở trừng trừng trong bóng tối, cùng nghĩ về một vòm gạch và một mùi hương không thuộc về núi rừng này.
Anh không biết rằng, cách đó không xa, trong căn phòng làm việc tạm của công trường, Trần Đức Phát đang ngồi trước một chiếc két sắt nhỏ, tay vuốt ve một cuốn sổ da đã ố vàng. Ông ta mở ra, đọc đi đọc lại một trang giấy, môi mấp máy những con chữ viết tay đã nhòe mực:
"Hầm vàng dưới chân núi Bạch Thạch... cửa vòm gạch vồ... trinh nữ ngậm sâm giữ của..."
Ngoài kia, sương đêm bắt đầu giăng trên sườn đồi. Và từ trong lòng đất, rất khẽ, rất khẽ, có tiếng xích sắt khua lên một nhịp, rồi im bặt.
Không ai nghe thấy. Đêm đó, chưa ai nghe thấy gì cả.
Chương khác
- Chương 2: Đinh Văn Hùng không ngủ được suốt đêm. Sáng mười ba tháng ba, anh dậy từ lúc trời còn chưa sáng hẳn, mặt mày phờ phạc, hai mắt trũng sâu. Mùi sâm đêm qua vẫn còn vương trong lán, nhạt như hơi thở của ai đó vừa đi qua.
- Chương 3: Đêm mười bốn tháng ba, cả lán công trường Bạch Thạch cùng mơ một giấc mơ.
- Chương 4: Trần Ngọc Anh nhận được điện thoại của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh vào lúc bảy giờ sáng ngày mười lăm tháng ba, khi cô đang chuẩn bị bài giảng cho sinh viên thực tập ở Viện Khảo cổ.