Phí Phông - Chương 1: Pha Đin mưa chiều
Sương sớm Sơn La dày như khói, tôi đứng bên cửa sổ xe khách nhìn ra bến. Những bóng người áo mỏng chạy lúp xúp qua ánh đèn vàng, tiếng bô xe nổ lục bục…
Nội dung chương
Sương sớm Sơn La dày như khói, tôi đứng bên cửa sổ xe khách nhìn ra bến. Những bóng người áo mỏng chạy lúp xúp qua ánh đèn vàng, tiếng bô xe nổ lục bục phía sau. Đạt kéo vali kêu lạch cạch bên cạnh, miệng lẩm nhẩm câu quen thuộc.
"Đoàn mình là đoàn y tế dự phòng, không phải điều tra hình sự đâu nhé."
Đạt nói vậy lần thứ ba kể từ lúc rời cổng Trung tâm. Tôi không trả lời. Cậu ta 27 tuổi, điều dưỡng, lần đầu lên huyện xa. Trong cuộc họp hôm trước, bác sĩ Hòa gằn giọng "đợt y tế lưu động quan trọng", nhưng cả hai đều biết thực chất là đi xác minh bốn cái chết không rõ nguyên nhân ở một bản Thái đen heo hút. Tôi cầm sổ tay kiểm lại đồ nghề: ống nghe Littmann cũ, máy đo huyết áp Omron, hộp dao đa năng chưa dùng lần nào. Gói seduxen 0.5 tôi nhét trong ngăn nhỏ balô, Đạt không biết.
Xe khách giường nằm hiệu cũ, biển "Sơn La - Tuần Giáo - Điện Biên Phủ" bong tróc vài chữ. Tôi trèo lên giường trên, đầu kê vào ô cửa sổ nhỏ. Xe lăn bánh lúc 6 giờ. Sương vẫn bám ngoài kính như lớp màng trắng đục.
Những đồi chè thấp dần sau lưng. Tôi nhắm mắt một lúc. Trong đầu còn văng vẳng câu cuối của Hòa: "Cố gắng một tuần, có gì báo tôi." Một tuần với bốn người chết không hề khám tử thi. Tôi mở sổ tay ghi ngày 2 tháng 5 năm 2026, gạch dưới chữ "Mường Trăng".
Đường đèo bắt đầu sau 9 giờ. Nắng nhẹ rồi tắt hẳn khi xe leo dốc. Mây giăng ngang mặt núi, đầu cua liên tục. Tôi nghe tiếng máy rú lên từng hồi. Hành khách phía sau xì xào tiếng Thái. Đạt nằm dưới, mặt nhợt dần. Qua một khúc cua hẹp, bánh xe trượt nhẹ trên mặt đường ướt, cả chiếc xe chao qua bên phải. Có người hét nhỏ. Tài xế chửi tục một câu tiếng Thái, tay lái ghì cứng. Tôi bám vào thành giường, nhìn ra cửa kính.
Bên ngoài, mưa rào đổ ập xuống lưng chừng đèo Pha Đin. Những vách đá dựng đứng, xa xa thung lũng trắng xóa. Tôi thấy mình như đang đi vào một nơi không có đường lui. Mưa quất vào cửa kính, tiếng lộp bộp dồn dập. Tôi nhìn tay mình, ngón cái ấn vào lòng bàn tay, một thói quen từ hồi nhỏ mỗi khi lo lắng.
Tôi nhớ ba tôi.
Mười tám năm trước, ông nằm trên giường bệnh, ho ra đờm hồng lẫn bọt nhỏ. Tôi mười hai tuổi, ngồi bên không biết làm gì. Mẹ khóc ngoài hành lang. Ba tôi chết vì xơ phổi, một căn bệnh mà nếu đưa đi viện sớm hơn có lẽ đã khác. Lúc đó tôi chỉ biết đứng nhìn. Lần này tôi tự dặn mình: không để ai chết thêm nữa. Tôi siết nhẹ nắm tay. Hối hận cũ không phai, nó chỉ lặn xuống, chờ những lúc như thế này để trồi lên.
"Anh Khoa, anh có gừng không?"
Giọng Đạt cắt ngang. Cậu ta buồn nôn, mặt cắt không còn giọt máu. Tôi mở balô lấy gói gừng khô, đưa một miếng cho Đạt. Cậu ta nhai, thở ra chậm. Xe bắt đầu đổ dốc. Mưa giảm. Thấp thoáng phía dưới, lòng chảo Tuần Giáo hiện ra, những thửa ruộng bậc thang vàng úa, vài nóc nhà sàn nhỏ lấm tấm giữa cây xanh.
Một cảm giác nhẹ nhõm thoáng qua. Tôi cất gói gừng, không nói gì. Đạt cũng im.
Xe đỗ bến Tuần Giáo lúc 4 giờ chiều. Mưa còn lác đác. Bến xe nhỏ, vài chiếc xe ôm đứng chụm dưới mái hiên tôn. Tôi và Đạt xách đồ xuống, mùi đất ướt trộn với mùi củi đốt từ đâu đó. Tôi hỏi thăm đường đến bệnh viện huyện, một người chạy xe ôm chỉ tay về phía cuối phố.
Bệnh viện huyện Tuần Giáo nằm trên một quả đồi thấp. Khu nhà chính cũ, mái lợp proximang, sơn vàng bong tróc. Chúng tôi vào phòng trực, tìm bác sĩ Quân. Ông ấy khoảng 60 tuổi, người Kinh, dáng gầy, mắt trũng sâu sau cặp kính dày. Ông mặc áo blouse trắng đã ngả màu cháo lòng, tay áo xắn cao. Trên bàn làm việc, tôi để ý có một quả phật thủ khô và một chùm tỏi nhỏ treo dưới gầm bàn. Hơi lạ, nhưng tôi không hỏi.
Bác sĩ Quân đứng dậy bắt tay, bàn tay lạnh và khô. Ông lôi từ ngăn tủ ra một cặp hồ sơ mỏng, bìa giấy kraft ố vàng. Đưa cho tôi.
"Của bản Mường Trăng đây. Ba ca."
Tôi mở ra xem nhanh. Ba tờ giấy A4 gấp đôi, mỗi tờ ghi một cái tên: Lò Văn Tâm, 17 tuổi; Lò Văn Tỉnh, 29 tuổi; Lò Văn Khoái, 35 tuổi; Lò Văn Quang, 24 tuổi. Phía dưới mỗi tên là ngày chết, dòng "nguyên nhân" ghi nguệch ngoạc hai chữ "ốm chết". Góc phải mỗi tờ đều có dấu mực đỏ "không khám tử thi", chữ ký của chính Quân bên cạnh.
Tôi ngước lên. "Vì sao không khám ạ?"
Quân tránh ánh mắt tôi, nhìn ra cửa sổ. Ông thở ra một hơi dài. "Bản trên đó xa lắm. Đường đất, mưa to là ngập suối không qua được. Mỗi lần tôi cử người lên, hoặc tự mình đi, thì lại ốm nửa năm. Năm ngoái một y sĩ lên một chuyến, về sốt rét ba tuần. Mấy năm nay tôi không lên nữa."
Ông ngừng một lát, tay gõ nhẹ lên tập hồ sơ. "Với lại... có vài tin đồn. Đàn ông trẻ chết liên tục, chỉ trong mấy tháng. Dân bản bảo vía gì đó. Tôi không tin mấy chuyện ấy. Cậu lên xác minh đi. Có gì cần tôi giúp, gọi tôi." Ông đưa tôi một mảnh giấy ghi số điện thoại di động.
Tôi cầm mảnh giấy, cảm ơn. Nhìn lại tập hồ sơ, tự hỏi làm sao ba người đàn ông trẻ khỏe lại "ốm chết" gần như cùng một kiểu mà không có nổi một dòng mô tả triệu chứng. Ốm gì mà ruột gan không dấu vết, đến mức người ta không dám khám? Tôi gập hồ sơ bỏ vào cặp.
Trước khi ra về, tôi hỏi thêm: "Bản Mường Trăng có trạm y tế không ạ?"
Quân lắc đầu. "Trạm xã ở dưới kia, cách hai tiếng đi bộ. Dân ở đó tự chữa bằng lá rừng với nhờ bà then."
"Một bà then thôi ạ?"
"Ừ, bà Sen. Già lắm rồi. Còn thì... thôi, cậu lên sẽ rõ."
Tôi không hỏi thêm. Chúng tôi chào Quân rồi ra về, trời vẫn lất phất mưa.
Quán phở duy nhất thị trấn nằm cuối con dốc nhỏ, biển hiệu "Phở Bắc cô Mai" viết tay trên tấm gỗ mỏng. Chúng tôi vào lúc 5 giờ chiều. Quán vắng, vài bộ bàn ghế nhựa, nồi nước dùng sôi lăn tăn trên bếp than. Mùi quế và hồi thoảng nhẹ.
Cô Mai, chủ quán, khoảng 45 tuổi, người Kinh, giọng gốc Hà Nội nhưng pha lẫn tiếng địa phương. Cô bưng ra hai bát phở bò, nước dùng hơi nhạt nhưng nóng. Đạt ăn được nửa bát thì để đũa, mặt vẫn chưa hồng hẳn sau cơn say xe. Tôi ăn hết, uống thêm bát nước trà cô Mai rót mời.
Cô Mai đứng bên quầy, lau bát, hỏi vu vơ: "Đoàn các anh đi đâu thế?"
"Lên Mường Trăng khám đoàn ạ." Tôi đáp.
Tay cô Mai khựng lại một nhịp. Chiếc bát trong tay cô dừng giữa chừng, rồi lại được úp xuống rổ inox. Cô quay đi, mặt hơi xám lại dưới ánh đèn neon. "Lên Mường Trăng hả? Cẩn thận đường. Mưa to là ngập suối không qua được."
Nói xong, cô bê rổ bát ra phía sau, không hỏi gì thêm. Tôi nhìn theo dáng cô khuất sau tấm rèm vải. Trong đầu ghi lại: bác sĩ Quân có chùm tỏi dưới gầm bàn, cô chủ quán khựng tay khi nghe tên bản. Cả hai đều biết điều gì đó, và đều không muốn nói.
Đạt cười khẽ, lau miệng: "Chắc dân ở đây mê tín thật anh nhỉ."
Tôi không cười. Tôi gập sổ tay lại, đứng dậy trả tiền.
Nhà nghỉ Sơn Lâm nằm đối diện bến xe, một dãy phòng nhỏ xây gạch trần, cửa sắt kéo. Phòng đôi 250 nghìn, ti-vi màn hình cong cũ, máy lạnh kêu ro ro. Tôi tắm qua rồi ngồi xuống giường, mở sổ tay ghi lại những gì có được: hồ sơ mỏng, không khám tử thi, tin đồn vía, phản ứng của Quân và cô Mai.
22 giờ. Đạt đã ngủ say, tiếng ngáy nhẹ phía giường bên. Tôi bật ti-vi, chương trình ca nhạc miền núi phát lại, giọng nữ cao vút qua loa rè. Tôi với tay định tắt thì đột ngột một tiếng đàn tính chạy chầm chậm, lệch tông hẳn so với bài hát đang phát. Tiếng đàn rời rạc, như ai đó gảy từ rất xa, âm thanh mỏng và khô, lọt qua tiếng loa rè.
Tôi ngồi thẳng dậy. Tay bấm nút tắt. Màn hình đen ngòm. Tôi lắng tai. Tiếng đàn vẫn còn, rất khẽ, thoáng qua như sợi khói trong đầu. Không phải từ ti-vi. Tôi bước đến cửa sổ, kéo rèm. Bên ngoài chỉ có cột đèn đường vàng, vài con thiêu thân bay loạn xạ. Mưa đã tạnh, mặt đường ướt phản chiếu ánh đèn.
Tôi lẩm bẩm "sóng nhiễu", rồi với tay lấy gói seduxen. Uống nửa viên. Nằm xuống giường, kéo chăn lên ngực. Mắt nhắm nhưng đầu vẫn quay quay với tiếng đàn tính ban nãy. Nó không giống bất cứ thứ gì tôi từng nghe. Không phải nhạc hiệu, không phải quảng cáo.
Lần đầu trong đời, tôi nằm mơ thấy tiếng đàn tính trên đèo Pha Đin. Những ngón tay gầy guộc gảy trên dây đàn bằng bạc, tiếng vọng qua sương, qua mưa, qua những vách núi không người. Trong mơ, tôi thấy bóng một người đàn bà mặc áo cóm đứng quay lưng, tóc tết dài phủ xuống thắt lưng. Tôi gọi nhưng bà không quay lại.