Phí Phông - Chương 4: Hồ sơ ốm chết
Sáng mùng 5 tháng 5, tôi dậy từ năm giờ rưỡi, ngồi nhìn qua khe vách một lúc. Đạt vẫn ngủ, chăn mỏng đạp ra ngoài chiếu, tay gác lên ngực như ôm một cái…
Nội dung chương
Sáng mùng 5 tháng 5, tôi dậy từ năm giờ rưỡi, ngồi nhìn qua khe vách một lúc. Đạt vẫn ngủ, chăn mỏng đạp ra ngoài chiếu, tay gác lên ngực như ôm một cái ba lô vô hình. Tôi lấy trong túi vải một vỉ seduxen, đếm - còn mười hai viên. Uống nửa viên tối qua rồi, tôi chợt nghĩ giá mình không uống. Nhưng tối qua mưa rào lúc tám giờ, tiếng nước dội lá cọ nghe ồn ã như hàng trăm con chim vỗ cánh. Không có tiếng đàn tính thứ ba. Tôi ngủ ngon, và sáng ra lại thấy tiếc vì mình đã ngủ.
Tôi đánh thức Đạt, cả hai xuống quán rửa mặt bằng nước giếng sau bếp. Chú Phan đã dậy từ sớm, bắc một ấm nước sôi, để sẵn hai bát cháo hoa trên bàn gỗ nhỏ, cạnh đĩa muối vừng. Ông không hỏi gì, chỉ liếc tôi một cái khi tôi xách ba lô nhỏ lên.
“Cháu lên nhà trưởng bản xin ít giấy tờ,” tôi nói. “Sổ chấm công hay gì cũng được. Có khi sổ chấm công dễ hơn sổ khám bệnh. ” Phan vê thuốc lào, mắt nhìn ra con đường đất trước quán. “Ông Cầm giữ sổ. Ổng đưa thì có. Không đưa thì các anh hỏi khéo.
” Đạt uống một hơi hết nửa bát cháo, nhìn tôi. “Sổ chấm công thì liên quan gì đến bệnh ạ? ” “Người chết thì không chấm công nữa. Mình xem được tháng nào người ta ngừng ghi, là biết họ mất khi nào. Có khi còn biết thêm được họ có bệnh trước đó bao lâu.
Y tế công cộng mà, em. ” Đạt gật gù, nhưng tôi biết cậu vẫn chưa hiểu hết. Tôi cũng chưa hiểu hết. Tôi chỉ biết đây là cách duy nhất để bắt đầu một cuộc điều tra không có bệnh án, không có xét nghiệm, không có xác. Nhà Cầm nằm giữa bản, phía trên con dốc đất đỏ, có một cây mỡ già cành lá um tùm che mát cả sân.
Vợ Cầm đang ngồi bên hiên giã gạo, tiếng chày tay nện vào cối gỗ đều đặn như nhịp thở. Bà không ngước lên khi chúng tôi bước vào, chỉ khẽ đưa mắt ra hiệu phía trong nhà. Tôi và Đạt lên thang, cởi dép ngoài cửa. Cầm ngồi trên sàn cao, lưng tựa vào cột cái, trước mặt là một cái bàn gỗ lim thấp, bên trên bày ba chén trà và một phích nước nóng.
Ông mặc áo chàm sạch, tóc vuốt ngược, nhìn tôi bằng ánh mắt của người đã biết trước tôi đến để hỏi gì.
“Bác sĩ Khoa. Ngồi. ” Tôi và Đạt ngồi xuống chiếu cói đối diện. Tôi mở lời: “Thưa ông, cháu cần xem lại hồ sơ y tế của bản trong vòng năm năm gần đây. Nếu có sổ khám bệnh lưu tại bản, hoặc sổ ghi chép của trạm xá xã gửi lên thì càng tốt.
” Cầm nhấp một ngụm trà, chậm rãi đặt chén xuống. “Nhà tôi chỉ có sổ chấm công, sổ sinh đẻ thôi. Không có sổ bệnh. Bệnh thì nhỏ tự chữa, lớn xuống huyện, bản không ghi. ” Tôi không tỏ ra thất vọng. “Vậy ông cho cháu xin sổ chấm công ạ.
Cháu chỉ muốn xem ai nghỉ việc vào thời gian nào, để biết lúc họ bắt đầu ốm. ” Cầm nhìn tôi một lúc, mắt ông rất tĩnh. Rồi ông ngoái ra sau gọi vợ bằng tiếng Thái. Người đàn bà ngoài hiên đứng dậy, tay vẫn cầm chày, đi vào buồng trong lát sau trở ra với một cuốn sổ bìa nâu nhạt cũ kỹ, góc giấy quăn, mặt bìa bóng dầu tay.
Tôi đỡ lấy bằng hai tay. Ngoài bìa không có chữ, chỉ có một dòng mực tím viết tay nhỏ: “Công điểm 2022-2026”. Tôi lật từng trang. Mỗi tháng một bảng kẻ tay, ghi tên từng người, số công, ghi chú ngắn. Những cột cuối trang, mực đỏ gạch chéo lên tên một số người, bên cạnh đề “không công”.
Tôi dừng lại ở trang tháng Chạp năm 2025. Dòng thứ ba từ dưới lên: “Lò Văn Tâm - không công. ” Không có ngày chết. Không có lý do. Chỉ một dấu gạch chéo như một vết cứa. Tiếp theo: tháng Giêng 2026 - “Lò Văn Tỉnh. ” Tháng Hai - “Lò Văn Khoái.
” Tháng Ba - “Lò Văn Quang. ” Cả bốn tên đều có dấu gạch chéo cùng kiểu, cùng nét mực đỏ. Tôi nhìn kỹ hơn, thấy nét gạch ở tên Tâm hơi khác, như thể người ta ngần ngừ lâu hơn trước khi kéo mực.
“Thưa ông,” tôi ngước lên. “Mỗi người này chết bao lâu thì bị gạch tên khỏi sổ công? ” Cầm xoay xoay chén trà trong tay. “Khi chôn xong. ” “Vậy có ai ghi nguyên nhân chết ở đâu khác không ạ? Biên bản của trưởng bản chẳng hạn?
” “Bản tôi không ghi nguyên nhân chết. Chết là chết. ” Ông nói câu đó như đọc một quy định thành văn. Tôi không cãi. Tôi xin phép chụp ảnh bốn trang sổ. Cầm hơi ngần ngừ, mắt liếc về phía vợ ngoài sân, rồi gật. Tôi và Đạt đứng dậy cáo lui.
Ra đến cổng, Đạt thì thầm: “Ông này dặn dân kỹ quá anh nhỉ. ” Tôi không đáp. Tôi đang nghĩ về việc bốn người đàn ông trẻ chết trong bốn tháng mà không một ai trong bản hỏi “vì sao”. Trưa, chúng tôi bắt đầu đi từng nhà. Cầm sai một thanh niên đi cùng để “dẫn đường”, nhưng tôi biết ông cũng đi theo để canh.
Ông đi trước, chống gậy tre, lưng thẳng, bước chậm nhưng chắc. Nắng tháng năm ở độ cao này vẫn còn dịu, gió lùa qua rặng tre nghe như tiếng ai thở dài. Nhà đầu tiên là nhà của chú Phan - nơi Tâm ở trước khi chết. Thực ra Tâm ở cùng sàn với Phan, nhưng khi chúng tôi tới thì Phan đang trông quán, trong nhà không có ai.
Căn sàn thấp, vách nứa cũ, mái lá đã ngả màu đen bóng. Dưới gầm sàn, một con mèo mướp nằm ngủ, tai giật giật. Cầm dừng ở chân thang, không nói gì. Tôi hỏi, giọng bình thản: “Mẹ của Tâm đâu ạ? ” Cầm khựng một nhịp, mắt hơi nheo lại.
“Mẹ Tâm bỏ về Tuần Giáo lâu rồi. Hai người không cưới. Tâm ở với chú Phan từ nhỏ. ” Tôi giật mình. “Chú Phan là… ” “Cha sinh học của Tâm. Không cưới mẹ thằng bé. Chuyện này mười bảy năm rồi. ” Tôi im. Trước giờ Phan chưa từng nói Tâm là con ruột.
Tôi nhớ lại tối hôm qua, cách ông đặt chén rượu xuống bàn khi tôi nhắc tên Tâm, nhớ những giọt rượu sánh rung rinh không đổ. Thì ra không phải cháu. Là con. Tôi bước lên thang một mình, vào gian thờ. Trên bàn thờ nhỏ kê sát vách, một bát hương bốc khói trầm, một tấm ảnh thờ đen trắng chụp một thiếu niên gầy, gò má cao, mắt sáng, mặc áo sơ mi trắng sơ vin.
Dưới ảnh là một cái cặp lồng cơm cũ, trên nắp có khắc chữ “T”. Tôi chắp tay vái ba vái, rồi lặng lẽ lui ra. Tôi ghi vào sổ: Lò Văn Tâm, 17 tuổi, con sinh học Lò Văn Phan. Chết tháng 12/2025. Không có mẹ. Tiếp theo, chúng tôi tới nhà Lò Văn Tỉnh.
Ngôi nhà sàn nhỏ ở mé suối, có hàng rào tre gai thưa. Người ra đón là một phụ nữ trẻ, khoảng hai mươi tám tuổi, ôm một đứa bé gái chừng ba tuổi đang ngậm vú cao su. Chị mặc áo nâu cũ, tóc búi thấp sau gáy, mắt sưng đỏ như vừa khóc hoặc vừa mất ngủ từ lâu.
“Chị là vợ của anh Tỉnh?” tôi hỏi, cố giữ giọng nhẹ nhàng.
Chị gật. Đứa bé dụi mặt vào ngực mẹ, khẽ ọ ẹ. Tôi giới thiệu mình là y sĩ từ tỉnh xuống, hỏi thăm về bệnh tình của anh Tỉnh trước khi mất. Chị không mời vào nhà, chỉ đứng tựa cột hiên, tay vỗ về con.
“Anh ấy ốm vài ngày rồi đi,” chị nói. “Sốt nhẹ thôi, ho khan. Buổi sáng môi tím, mắt nhắm nghiền không mở ra được. Tôi gọi không thấy thưa. Đến ngày thứ tư thì không thở nữa. ” “Chị có cho anh ấy đi bệnh viện không? ” “Đường xuống huyện mùa đó sạt mất rồi.
Với lại… ” Chị ngập ngừng, mắt liếc về phía Cầm đang đứng dưới gốc mít cách đó chục mét. “… với lại ảnh bảo không cần. ” Tôi hỏi thêm về thức ăn, thuốc men. Chị lắc đầu. “Chỉ uống nước lá sì to nấu thôi. Bà Sen bảo uống cho hạ sốt.
” Tôi ghi vào sổ: sốt nhẹ + ho khan + môi tím + không mở được mắt. Loại trừ sốt xuất huyết. Loại trừ cúm A. Triệu chứng thần kinh trung ương hoặc cơ hô hấp bị ức chế từ từ - nhưng không có lý do nhiễm trùng rõ ràng. Nhà thứ ba là của Lò Văn Khoái, một người đàn ông ba mươi lăm tuổi, ở cùng ba mẹ già.
Căn nhà nằm khuất sau vườn chuối, vách đất trát rơm, mái ngói âm dương đầy rêu. Hai ông bà ngồi trên sàn, mỗi người một miếng trầu đỏ, nhìn chúng tôi bằng đôi mắt đục mờ của những người đã khóc cạn nước. Ba Khoái - lưng còng, hàm răng đen nhánh nước trầu - chậm rãi nói: “Khoái nhà tôi làm rừng.
Hồi cuối tháng Giêng nó đi rừng về, kêu mệt. Sốt. Ăn không vô. Nằm năm ngày rồi đi. ” Mẹ Khoái ngồi bên, tay run run vấn thêm miếng trầu mới, khóc không thành tiếng, nước mắt chảy xuống hai rãnh má nhăn nheo. Tôi hỏi có ai khám không - ba lắc đầu.
“Gần Tết, đường khó. Có đưa xuống cũng không kịp. ” Tôi hỏi về triệu chứng cuối cùng. Ông cụ nhìn ra sân, mắt xa xăm. “Nó không mở mắt được hai ngày cuối. Da thì căng ra, như sắp rách. ” Tôi và Đạt nhìn nhau. Da căng. Mắt không mở.
Môi tím. Những từ đó lặp lại như một điệp khúc mà không ai trong bản nhận ra sự trùng hợp chết người. Chiều xuống, Cầm cáo lui, nói có việc phải về họp tổ dân phố gì đó. Ông đi khuất sau hàng tre, chúng tôi còn một nhà cuối cùng - nhà cha của Lò Văn Quang.
Ngôi nhà nằm tách biệt gần suối Bạc, lợp lá cọ, hiên thấp, trước sân có một cây nhãn cổ thụ tán xoè rộng. Người đàn ông ra đón tầm ba mươi lăm tuổi, gầy, mặc áo cộc tay đã sờn, mắt đỏ hoe, râu thưa lởm chởm. Tôi nhận ra ngay đây là em ruột của chú Phan, vì cái cách ông ta đứng - lưng hơi khòm, vai trái nhô cao hơn vai phải, giống hệt Phan.
“Chú là cha của Quang?” tôi hỏi.
Ông gật, mời chúng tôi vào ngồi. Trong nhà sạch sẽ nhưng trống trải. Bàn thờ Quang đặt một tấm ảnh màu rọi ngoài trời, một thanh niên hai mươi tư tuổi, cười tươi, răng đều, vai vạm vỡ. Tôi chắp tay vái, Đạt làm theo.
“Chú cho cháu hỏi, Quang chết thế nào ạ?” Người đàn ông ngồi xuống, tay vân vê tà áo. Ông không nhìn Cầm (dù Cầm đã đi rồi), vẫn hạ giọng như sợ ai nghe thấy: “Nó không phải ốm thường đâu. Nó nằm mười hai ngày. Ngày cuối không ai mở mắt nó ra được. Cả cái bản này không ai mở được.” Ông chạm lưỡi vào môi khô, giọng đặc lại: “Da nó căng dính vô xương. Môi nứt ra. Tôi phải lấy giẻ nhúng nước mà thấm cho nó. Nó chết khô như cá phơi nắng quá lửa.” Đạt tái mặt. Tôi thấy tay cậu run nhẹ trên đầu gối.
“Chú có nói chuyện này với chú Phan không?” tôi hỏi.
“Anh tôi nó biết. Nó không nói tại tôi. Nó bảo để yên.” Tôi đứng lên, cảm ơn, bước ra ngoài. Nắng cuối ngày đổ dài qua tán nhãn, vàng như mật ong, nhưng tôi thấy lạnh. Buổi tối, tôi và Đạt về quán Phan. Chú Phan đang đun ấm nước, ngó lên thấy tôi, mắt hỏi. Tôi gật nhẹ, ngồi xuống cái ghế đẩu kê sát bếp củi.
“Chú Phan. Cháu vừa từ nhà cha Quang về.” Phan không nói gì. Ông rót cho tôi một chén rượu cẩm đầy, đẩy nhẹ qua mặt bàn. Chén sứ mẻ miệng, men rạn chân chim màu đen. Tôi nhấp một ngụm, vị ngọt chát lan xuống họng.
“Chú giấu cháu Tâm là con ruột của chú.” Phan im lặng. Rồi ông đứng dậy, mở cái hộp gỗ nhỏ trên kệ bếp, lấy ra một cuốn sổ tay bìa vải xanh đã bạc màu. Ông đặt xuống trước mặt tôi, tay run.
“Tôi ghi lại hết. Mỗi đứa một trang. Anh đọc đi, rồi muốn hỏi gì thì hỏi. ” Tôi mở cuốn sổ. Trang đầu tiên, chữ viết tay run run, mực xanh lem vài chỗ: *“Tháng Chạp, 2025. Tâm - con tôi. Đêm trước chết nó dậy uống nước lúc nửa đêm.
Nó nói ‘ba ơi con nghe có người khóc trong nhà mình’. Sáng ra mệt. Ba ngày sau không dậy nữa. ” Tôi lật sang trang thứ hai, tên Tỉnh, trang thứ ba tên Khoái, trang thứ tư dành cho Quang. Dòng chữ ở trang Quang làm tôi dừng lại lâu nhất: “Quang trước lúc chết nói với cha nó: ‘ba ơi có ai cào con trong đêm’.
Cha nó không tin. Tôi tin. ”* Tôi ngước lên. Mắt Phan đỏ, nhưng khô. Ông không khóc. Ông không phân bua. Ông chỉ ngồi đó, hai bàn tay đặt trên đầu gối, mười ngón đan vào nhau thật chặt.
“Chú à.” Tôi gấp cuốn sổ lại, giọng trầm xuống. “Tháng Hai bản mình định mời thầy lớn ở Văn Chấn về cúng, đúng không?” Phan gật.
“Ai cản?”
“Cầm. Ổng cản. Không cho góp tiền. Bản nghe ổng.”
“Thầy lớn đó là ai?”
“Thầy mo Lò Văn Phong, ở Mường Lò. Già lắm rồi, nhưng bắt được nhiều loại ma lắm. Hồi xưa người ta đồn thầy bắt được ma cọp, ma rừng, ma chết oan… Chỉ cần thầy đến là ma chạy.”
Tôi không nói gì nữa. Tôi ghi vào sổ tay công vụ: Lò Văn Phong, thầy mo Mường Lò. Cầm cản bản mời. Cần xác minh sau. Rồi tôi hỏi thêm một câu, vu vơ: “Ở bản mình, có ai chơi đàn tính không chú?”
Phan nhìn tôi, mắt tối sầm. “Bà Sen thì chơi, nhưng bả không chơi đêm.”
“Sao chú biết cháu hỏi ban đêm?”
“Vì tôi cũng nghe.”
Ông đứng dậy, xách ấm nước đi ra bếp, không nói thêm gì.
Mười giờ đêm. Đạt và tôi ngồi trên gác. Đèn dầu đã tắt, chỉ còn ánh trăng khuyết bên phải rọi vào khe vách. Tôi đang ghi nốt vài dòng thì âm thanh ấy lại vang lên.
Tiếng đàn tính. Lần này rõ hơn bất kỳ đêm nào trước. Từng nốt ngân lên từ phía suối Bạc, chỗ đoạn cong vực Trăng. Không giống tiếng đàn của người tập, càng không giống loa đài. Là tiếng đàn có hồn, có lực ở đầu ngón tay, có những cú nhấn nhá mà chỉ người chơi lâu năm mới làm được.
Tôi đứng dậy, vớ lấy đèn pin trong ba lô. “Tôi xuống xem.”
Đạt nắm lấy cổ tay tôi, chặt đến mức tôi giật mình. “Anh Khoa. Đừng.”
“Buông ra. Anh chỉ xuống tới bờ suối.”
“Đêm nay tối lắm, rừng tre dày, anh lạc đường thì ai tìm? Với lại…” Đạt hạ giọng, mắt cậu nhìn thẳng vào mắt tôi, một ánh nhìn mà tôi chưa từng thấy ở thằng em đồng nghiệp mít ướt này. “Em không tin tiếng đó là người.”
“Em sợ ma à?”
Đạt không cười. Cậu nói rất khẽ: “Em sợ anh.”
Tôi đứng im. Tiếng đàn vẫn vọng lên, lần này nghe rõ tiếng ngân buông dây - một âm rung rất nhẹ, rồi một nốt trầm chậm rãi như người ta chạm vào sợi dây sau cùng.
Tôi ngồi xuống, để Đạt rút tay lại. Cả hai không ai nói gì nữa. Tiếng đàn kéo dài thêm mười lăm phút - tôi nhìn đồng hồ, đúng hai mươi hai giờ ba mươi bảy phút thì dứt. Sự im lặng trở lại nặng nề như một tấm chăn ướt phủ lên cả bản Mường Trăng.
Cuốn sổ tay mở ra trên đầu gối. Tôi viết bằng bút bi không cần nhìn:
Đêm thứ ba. Đàn tính từ 22h22 đến 22h37. Hướng vực Trăng. Không tới được. Đạt cản. Có thể là quyết định đúng. Có thể là không.
Nằm xuống chiếu, tôi nhắm mắt, nhưng tai vẫn dỏng lên nghe tiếng suối Bạc chảy xiết dưới chân đồi. Trong đầu cứ lặp đi lặp lại câu nói của thằng nhỏ Tâm vào đêm trước khi nó chết: “Con nghe có người khóc trong nhà mình.” Và câu của Quang: “Có ai cào con trong đêm.”
Không ốm. Không giống bệnh truyền nhiễm. Là một thứ gì đó đang cào vào người sống ban đêm, để lại trên da những vết căng khô, rồi rút đi để lại một xác người như con cá phơi nắng quá lửa.
Tôi chưa biết đó là gì. Chỉ biết rằng sáng mai, tôi sẽ không hỏi Cầm. Cũng sẽ không hỏi Phan. Tôi sẽ tự lần lên phía suối Bạc - nơi tiếng đàn vừa cất lên từ một thứ mà thằng em tôi bảo “không phải người”.