Phí Phông - Chương 5: Bà Sen né

Sáng hôm sau tôi dậy sớm. Đạt còn ngủ cuộn trong chăn mỏng, tay vắt qua mặt như thể che ánh sáng lọt qua khe vách. Tôi xuống thang nhẹ chân. Dưới bếp,…

Nội dung chương

Sáng hôm sau tôi dậy sớm. Đạt còn ngủ cuộn trong chăn mỏng, tay vắt qua mặt như thể che ánh sáng lọt qua khe vách. Tôi xuống thang nhẹ chân. Dưới bếp, chú Phan đang nhóm lửa, khói củi mỡ thơm lừng quẩn trong gian nhà thấp.

“Chú Phan. Bản mình có thầy mo nào không?” Phan ngước lên, tay vẫn cầm que cời than. Ông không trả lời ngay, mắt nhìn tôi như cân nhắc. Rồi ông đặt que cời xuống, phủi tay vào ống quần.

“Có một bà then già. Bà Sen. Bảy mươi hai tuổi. Nhà sàn cuối bản, gần rừng tre đầu núi.”

“Bà ấy còn làm lễ được không?”

“Được. Nhưng ít người tới. Tháng Hai vừa rồi bả mới làm lẩu then ở nhà sàn cộng đồng.” Phan ngừng một chút. “Cậu định lên gặp bả?”

“Cháu muốn hỏi vài chuyện về tang ma mấy người chết.”

Phan im. Tay ông với lấy cái ấm nhôm đặt trên bếp, rót nước sôi vào chén sứ mẻ miệng, đẩy về phía tôi. Hơi nước bốc lên giữa hai chúng tôi như một tấm mành mỏng.

“Đem cho bả một gói chè với một chai rượu trắng. Đừng đem tiền.”

Tôi gật, hỏi thêm đường. Phan chỉ tay về phía cuối bản, nơi con đường đất men theo bờ suối Bạc rồi rẽ vào một lối mòn nhỏ hơn, khuất sau hai nhà sàn có hàng nhãn già.

Tôi xách ba lô, nhét vào gói chè khô mua từ thị trấn và chai rượu trắng chú Phan vừa đưa. Sương sớm còn dày, bám vào lá tre hai bên đường như mạng nhện ướt. Qua suối Bạc, tiếng nước chảy át hết mọi âm thanh khác. Qua hai nhà sàn. Con đường dốc nhẹ lên, đất đỏ lẫn đá vụn, rồi mở ra một khoảnh đất nhỏ.

Nhà sàn bà Sen thấp hơn nhà thường một bậc. Mái khau cút bằng gỗ già màu xám, vách liếp tre đan đã ngả màu thời gian. Không có sân rộng, chỉ có một khoảnh đất nện cỏ dại thưa và một cây mỡ cổ thụ đứng nghiêng bên hông nhà. Trên cây mỡ, tôi thấy một mảnh vải đỏ bạc màu buộc vào cành thấp - pha sặc, thứ vải người Thái buộc lên cây có ma trú. Tôi dừng một nhịp, nhìn mảnh vải bay nhẹ trong gió sớm.

Leo thang. Tiếng gỗ kẽo kẹt dưới chân tôi vang lên trong im lặng. Trên sàn, qua khe vách, tôi thấy một bóng người ngồi bất động.

“Cụ ơi, cháu xin phép vào.” Không ai trả lời. Tôi bước thêm một bậc, cúi đầu qua khung cửa thấp. Bà Sen ngồi trước khung dệt giữa sàn. Khung dệt thổ cẩm bằng gỗ, những sợi chỉ đen trắng căng song song, thoi dệt nằm im trên mặt vải dở dang. Bà mặc áo cóm chàm cũ, tóc trắng lẫn đen búi thấp sau gáy - không tằng cẩu, chỉ là một búi tóc đơn sơ của người goá. Hai bàn tay bà đặt trên khung dệt, những ngón tay nhăn nheo nhưng vẫn giữ được sự chính xác của người dệt lâu năm. Bà không quay đầu khi tôi bước vào.

“Cậu vào. ” Giọng bà khô. Không thân thiện, không thù địch. Chỉ là một sự thừa nhận tôi đang đứng đó. Tôi ngồi xuống sàn gỗ, đặt gói chè và chai rượu trước mặt, hai tay đưa lên ngang ngực theo lối chào người già Thái. “Cháu là Hoàng Đăng Khoa, y sĩ tỉnh lên khám đoàn.

Cháu nghe nói cụ là then già nhất bản, cháu xin được hỏi vài chuyện. ” Bà Sen không ngừng tay dệt. Thoi gỗ chạy qua chạy lại giữa những sợi chỉ, tiếng lách cách đều như nhịp thở. “Cụ hỏi đi. ” “Cháu muốn hỏi về lễ then ở bản mình.

Bao lâu tổ chức một lần ạ? Ai chủ trì? ” “Đầu năm âm có Xên Bản - cúng ma làng. Vài năm một lần có Xên Mường - cúng ma mường lớn hơn. Tôi chủ trì. ” Bà ngừng một nhịp, đẩy thoi qua. “Lẩu then của tôi thì tháng Hai âm vừa rồi đã làm.

Tôi tổ chức ở nhà sàn cộng đồng. ” Tôi gật, ghi nhớ. “Cụ là người duy nhất bản còn làm then chính phải không ạ? ” “Phải. ” “Trước cụ ai làm ạ? ” Bàn tay bà Sen khựng lại. Thoi dệt nằm im trên sợi chỉ ngang. Nửa giây. Rồi bà lại đẩy thoi tiếp tục, như thể khoảng dừng đó không tồn tại.

“Đã chết lâu rồi. Hỏi chuyện khác đi. ” Tôi nhìn quanh sàn nhà. Ánh sáng lọt qua khe vách thành những vệt dài song song trên sàn gỗ. Trên xà nhà, tôi thấy nhiều thứ treo lủng lẳng: vài bó lá khô đã ngả nâu, một chùm chuông đồng xỉn màu, một quả nhạc cũ của then đeo cổ khi múa.

Tất cả bám bụi nhưng không bị bỏ quên - cách sắp xếp có chủ ý của người vẫn còn dùng. Ở một góc khuất trên xà, lệch hẳn về phía đầu hồi phía đông, một sợi khăn piêu rách treo riêng. Màu đỏ thẫm của nó đã phai thành màu gỉ sắt, bụi bám dày trên từng sợi vải.

Nó không được xếp cùng những vật khác. Nó bị đặt riêng, như người ta đặt một thứ mình muốn giấu nhưng không nỡ vứt. Tôi không hỏi về sợi khăn. Tôi hỏi vu vơ chuyện khác. “Cụ có khoẻ không ạ? Cụ có cần cháu khám hay cho thuốc gì không?

” Bà Sen lần đầu tiên ngước mắt khỏi khung dệt. Đôi mắt bà đục màu mây trời, nhưng trong đục có một tia gì đó sắc - sự tỉnh táo của người biết nhiều hơn mình nói.

“Tôi bảy mươi hai tuổi. Đau lưng, nhức đầu, mất ngủ. Thuốc cụ không chữa được. ” Nói rồi bà đặt thoi dệt xuống, đứng dậy. Người bà nhỏ hơn tôi tưởng, lưng hơi còng, nhưng động tác đứng dậy vẫn dứt khoát. “Cụ xuống bếp tôi đun nước.

” Bà đi xuống cầu thang phía sau, chân bước nhẹ trên sàn gỗ. Tôi ngồi lại một mình trong gian nhà im ắng. Tiếng nước suối Bạc vọng lên từ xa, tiếng chim rừng lẻ loi ở đâu đó phía rừng tre. Tôi nhìn sợi khăn piêu rách trên xà, cố ghi nhớ vị trí của nó, màu của nó, cách nó treo lệch trong bóng tối đầu hồi.

Xuống thang. Tôi đứng ở chân nhà, nhìn lên đỉnh núi phía sau bản. Trên đó sương còn dày, che khuất mọi đường nét. Một cơn gió sớm thổi qua cây mỡ, mảnh pha sặc đỏ lay động như bàn tay ai vẫy nhẹ. Về quán Phan lúc gần trưa.

Tôi ngồi xuống cái ghế đẩu quen thuộc cạnh bếp, rót nước vào chén, kể với Phan chuyện lên nhà bà Sen. Tôi không kể chi tiết bà né tránh, không kể câu “hỏi chuyện khác đi”. Tôi chỉ nói về sợi khăn piêu.

“Trên xà nhà bà Sen có một sợi khăn piêu rách màu đỏ thẫm. Chú biết của ai không?” Phan im. Hai nhịp thở. Tay ông đặt chén trà xuống mặt bàn gỗ, quá nhẹ, như thể sợ vỡ.

“Khăn của một người không nói ra. Cậu đừng hỏi tôi tên. Tôi cũng không nên biết.” Ông quay đi, cầm chén ra bếp rửa. Tôi nghe tiếng nước chảy, tiếng chén va vào nhau nhè nhẹ. Tôi mở sổ tay, ghi nhanh vài dòng: Sen - biết tên bà then trước, không nói.

Phan - biết khăn của ai, không nói.

Cầm - chối có chuyện gì cũ.

Ba người, ba mức giấu khác nhau. Phan ngại danh dự. Sen ngại tội lỗi. Cầm ngại lộ. Tới bữa trưa, Phan đột ngột thay đổi thái độ. Ông xoa lưng, nhăn mặt, ngồi xuống ghế đối diện tôi.

“Hôm nay tôi đau lưng quá. Chắc ngồi dệt rổ hôm qua sai tư thế. Tôi gọi cháu Mây sang chăm tôi nửa giờ. Cậu ngồi trên gác có muốn xuống ăn cơm cùng không?” Tôi nhìn Phan. Ông không nhìn lại tôi, mắt nhìn xuống chén trà, nhưng khoé miệng ông giật nhẹ. Tôi hiểu. Đây không phải đau lưng. Đây là một vở kịch nhỏ, và Phan là đạo diễn già đang mời tôi làm khán giả kiêm diễn viên phụ.

“Có chứ. Cháu xuống.”

Một giờ chiều. Nắng xiên qua mái lá, đổ những vệt vàng loang lổ trên sàn quán. Tôi ngồi trên gác, nghe tiếng chân nhẹ ngoài sân. Lò Thị Mây bước vào.

Hôm nay cô mặc áo cóm trắng - khác với áo xanh đậm hôm khám đoàn. Vẫn tóc tết đuôi sam dài sau lưng, vẫn chiếc khăn piêu vắt qua vai. Da cô xanh nhợt dưới ánh nắng trưa, nhưng mắt vẫn sáng - thứ ánh sáng ẩm ướt của người hay thức đêm.

Cô cúi đầu chào Phan, rồi nhìn lên gác thấy tôi. Mắt cô dừng lại một thoáng, rồi lại cúi xuống.

“Bác đau chỗ nào để cháu xoa? ” Mây ngồi xuống sàn, lấy lọ dầu nóng từ tay Phan. Cô xoa dầu vào lòng bàn tay, rồi áp lên lưng ông qua lớp áo mỏng. Động tác quen thuộc - tôi biết cô đã làm việc này nhiều lần. Phan nhắm mắt, thỉnh thoảng ừ một tiếng nhỏ.

Tôi xuống thang, ngồi vào bàn ăn. Phan mở mắt, ra hiệu: “Lúc lên ăn cơm đi. Cơm nguội hết rồi kìa. ” Tôi bưng bát cơm nguội, gắp miếng trứng chiên. Mây vẫn ngồi dưới sàn với Phan. Tôi nghe tiếng cô hỏi nhỏ: “Bác uống thuốc chưa?

” - “Rồi. ” - “Bác ngủ được không? ” - “Ít. Như mọi hôm. ” Mười lăm phút sau, Phan đứng dậy, xoa lưng, nói lớn: “Đỡ rồi. Lúc lên ăn cơm đi, dưới này muỗi lắm. ” Rồi ông đi thẳng xuống bếp, để lại tôi và Mây trên sàn gác.

Mây ngồi xuống đối diện tôi. Cô cầm đũa, gắp một miếng rau luộc, ăn chậm. Không nhìn tôi. Tôi cũng ăn, không nói gì. Sự im lặng kéo dài giữa chúng tôi như một sợi chỉ căng ngang.

“Em sống một mình hay với ai?” Tôi hỏi.

Cô nhai xong miếng rau mới trả lời. “Một mình.”

“Không có anh chị em à?”

“Có một đứa em nuôi. Nó chết tháng Chạp năm ngoái.”

Tôi dừng đũa. Cô nói câu đó như nói về thời tiết - giọng đều đều, không run, không ngấn nước. Nhưng mắt cô nhìn xuống bát cơm, không chớp.

“Mẹ em thì sao?”

“Mé em chết lúc em mười một tuổi.”

“Còn ba?”

“Em không nhớ. Mé chưa kể.”

Tôi không hỏi thêm về gia đình. Tôi hỏi chuyện học. “Em học hết cấp mấy?”

“Hết lớp chín trường nội trú huyện. Em về dệt. Nuôi mình.” Cô ngước lên, lần đầu tiên nhìn thẳng vào mắt tôi trong bữa ăn. “Anh học y ở đâu?”

“Hà Nội. Rồi vào Sơn La làm.”

“Hà Nội xa không?”

Tôi suýt cười, nhưng nụ cười tắt giữa chừng. Cô hỏi thật. “Xa. Xe khách đi cả ngày.”

Mây gật nhẹ, lại cúi xuống bát cơm. Tôi không biết trong đầu cô đang nghĩ gì - có lẽ cô chưa từng ra khỏi huyện, có lẽ Hà Nội với cô là một cái tên không có hình hài.

“Em dệt giỏi lắm phải không? Hôm trước ông Cầm khen em.” Mây đặt đũa xuống. Mắt cô tối lại - một thoáng khó chịu lướt qua.

“Cầm không khen. Ổng nói cho em nghe. Tôi nghe quen rồi.”

Tôi ghi nhận. “Tôi” - không phải “cháu”. Mây dùng đại từ ngang hàng khi nói về Cầm, dù trước mặt ông ta cô vẫn lễ phép cúi đầu. Một khoảng cách, một sự phản kháng ngầm nào đó tôi chưa hiểu.

Cô đứng dậy. “Em phải về dệt. Khách Tuần Giáo đặt ba cái khăn.”

Tôi đứng dậy theo, định nói gì đó. Nhưng cô đã quay người đi về phía cầu thang. Bàn tay phải cô nắm lấy thanh thang gỗ.

Ánh nắng chiều xiên qua mái lá, rọi thẳng vào bàn tay ấy.

Tôi thấy: móng tay Mây cắt rất sát. Sát đến mức gần như không có viền trắng đầu móng. Đường cắt thẳng, mới - không phải móng tay ngắn tự nhiên của người làm nghề dệt. Dệt không cần cắt móng sát đến thế. Đây là một sự chủ động, một thói quen được lặp đi lặp lại mỗi vài ngày.

Cô xuống hết thang, bước qua sân. Bím tóc đuôi sam đung đưa sau lưng, rồi khuất sau hàng nhãn. Tôi đứng trên hiên gác, nhìn theo cho đến khi bóng cô tan vào nắng chiều.

Tối đó, tôi ngồi ghi sổ tay dưới ánh đèn dầu:

Mây - móng tay cắt sát thẳng. Không phải do nghề dệt. Có thể tự cắt vì lý do khác. Note.

Tôi chưa biết móng tay cắt sát có nghĩa gì. Tôi chỉ biết ghi nhớ. Như cách tôi đã ghi nhớ sợi khăn piêu rách trên xà nhà bà Sen, như cách tôi ghi nhớ câu “đã chết lâu rồi” bị cắt ngang, như cách tôi ghi nhớ câu “anh đừng ở đây lâu” mà Mây không nói ra hôm nay nhưng tôi biết nó đang chờ tôi ở đâu đó phía trước.

Đêm thứ năm ở Mường Trăng. Tôi nằm trên gác, nghe tiếng suối Bạc chảy xiết dưới chân đồi, và tự hỏi không biết bao nhiêu điều trong cái bản này đã “chết lâu rồi” nhưng vẫn chưa thực sự ra đi.

Chương khác

Xem thêm