Phí Phông - Chương 2: Mường Trăng đón khách
Xe ôm Honda Wave cũ chạy từ sáu giờ sáng. Tôi ngồi sau lưng Páo, ba lô y tế kẹp giữa hai chân, tay bám vào khung sắt sau yên. Đạt ngồi sau chiếc xe thứ…
Nội dung chương
Xe ôm Honda Wave cũ chạy từ sáu giờ sáng. Tôi ngồi sau lưng Páo, ba lô y tế kẹp giữa hai chân, tay bám vào khung sắt sau yên. Đạt ngồi sau chiếc xe thứ hai, mặt đã tái đi từ lúc qua khỏi trạm xăng cuối cùng của thị trấn.
Đường đất đỏ sỏi nhỏ, dốc liên tục. Hai bên đường tre nứa ken dày, ánh nắng sớm xuyên qua thành từng sọc vàng chạy dọc trên mặt đường. Tiếng chim cu rơm gù vọng từ sâu trong rừng tre, đều đặn như tiếng đồng hồ nước. Tôi đếm được bảy cây cầu gỗ bắc qua những con suối không tên, ván cầu kêu ọp ẹp dưới bánh xe, nước bên dưới chảy xiết màu trà đặc.
Sau một giờ, Đạt vỗ vai tài xế, xe tấp vào lề. Đạt nhảy xuống, chạy ra gốc mỡ già bụm miệng ói. Tôi xuống theo, đưa chai nước lọc mang từ thị trấn.
"Say xe. Chưa bao giờ em đi đường này." Đạt lau miệng, cười yếu.
Páo rút trong túi áo ra một nắm lá ngải tươi đã vò sẵn, đưa cho Đạt. "Ngửi cái này. Đỡ."
Đạt cầm nắm lá, ngửi. Mùi tinh dầu hắc xông lên mạnh, cậu nhăn mặt nhưng gật đầu. "Cảm ơn anh."
Tôi hỏi Páo: "Ông biết bản Mường Trăng chứ?"
Páo gật, mắt vẫn nhìn thẳng con đường phía trước. "Biết."
"Ông quen ai trong bản không?"
"Tôi chỉ chở khách." Páo đáp ngắn, giọng không thân thiện cũng không thô lỗ. Tay ông vặn ga nhẹ cho máy nổ đều.
Tôi hỏi thêm: "Ở đó dạo này có chuyện gì lạ không ông?"
Páo dừng ba nhịp. Tay trái ông buông côn, nắm lại trên đùi rồi thả ra. "Tôi chở khách thôi, anh." Ông quay mặt đi, nhìn xuống suối bên đường.
Tôi không hỏi nữa. Chúng tôi lên xe, tiếp tục hành trình. Páo không nói thêm câu nào suốt đoạn đường còn lại.
Đèo dốc bắt đầu dày hơn sau giờ thứ hai. Đường hẹp chỉ vừa một xe bán tải, bên phải là vách đá dựng đầy rêu xanh, bên trái là vực sâu lấp lóa bụi tre. Đạt ói thêm lần nữa gần một cây cầu gỗ nhỏ, lần này cậu không cười nữa, chỉ đứng thở dốc, môi tái nhợt. Páo lại đưa nắm lá ngải khác, lần này ông tự tay vò nát trong lòng bàn tay rồi dúi vào tay Đạt.
"Ráng. Sắp tới rồi."
Mười hai giờ trưa, chúng tôi tới đầu bản. Cây mỡ già đứng sừng sững bên đường, tán lá dày che mát cả một khoảng đất rộng. Sau lưng nó là suối Bạc chảy ngang, nước trong và chảy chậm, lòng suối toàn đá cuội trắng. Đoạn cong gần lối vào bản hơi sâu, nước dựng thành vực nhỏ màu xanh thẫm.
Một người đàn ông đứng đợi dưới gốc mỡ. Ông mặc áo chàm mới, vải còn giữ nếp gấp, quần đen ủi phẳng, chân đi giày da đen bóng. Trên cổ tay trái ông đeo một chiếc đồng hồ vàng dày, mặt số trắng. Ông cười rộng khi thấy chúng tôi xuống xe, nụ cười kéo dài từ lúc chúng tôi còn cách mười mét.
"Đoàn bác sĩ tỉnh lên! Bản tôi vinh dự quá!" Ông bước tới, hai tay chìa ra bắt cùng lúc tay tôi và Đạt. "Tôi là Lò Văn Cầm, tạo bản Mường Trăng. Gọi tôi là chú Cầm cũng được."
Giọng ông phát âm tiếng Kinh chuẩn, gần như không có âm sắc địa phương. Từ "tạo bản" ông nói nhẹ như người Hà Nội gốc, thanh điệu rành rọt từng chữ. Tôi lễ phép xưng cháu, không sửa từ "bác sĩ".
"Cháu là Hoàng Đăng Khoa, y sĩ Trung tâm Y tế dự phòng Sơn La. Đây là Phạm Văn Đạt, điều dưỡng."
Cầm bắt tay tôi lâu hơn bình thường một nhịp, mắt ông nhìn thẳng vào mắt tôi, vẫn cười. "Y sĩ, bác sĩ. Lên đây là quý hết. Bản tôi xa xôi quá, mấy năm nay ít đoàn y tế lên lắm."
Ông quay người dẫn đường vào bản. Páo và tài xế kia quay xe, không vào.
Đường bản là lối đất nện rộng chừng hai mét, hai bên là những ngôi nhà sàn bốn cột mái khau cút. Mái lá cọ xếp dày, vách gỗ nâu sậm. Tôi đếm sơ qua chừng vài chục nóc, các nhà cách nhau bởi hàng rào tre thưa. Suối Bạc chảy men theo rìa bản, tiếng nước róc rách vọng lên từ dưới dốc.
Dân bản đứng xa nhìn đoàn chúng tôi đi qua. Mấy bà già ngồi bên khung cửi ngước lên một thoáng rồi cúi xuống tiếp tục dệt. Hai bà khác đang nhóm bếp trước sàn vội rút vào trong khi chúng tôi còn cách vài chục bước. Trẻ con tụ thành đám nhỏ gần bụi tre, một đứa bé gái trạc sáu tuổi hát nghêu ngao điệu đồng dao gì đó. Tôi không nghe rõ lời, chỉ bắt được mấy từ cuối nhoè trong gió: "...trong hang". Khi tôi ngoái lại nhìn, đám trẻ đã chạy tản ra sau hàng rào.
Cầm vừa đi vừa chỉ tay giới thiệu: "Đây là nhà sàn cộng đồng, chỗ mai khám đoàn. Kia là miếu thờ bản, tháng hai vừa rồi làm Xên Bản xong. Còn nhà tôi ở cuối dốc kia, cái nhà sàn cột lim ấy."
Tôi nhìn theo tay ông. Nhà sàn Cầm to nhất bản, sáu cột gỗ lim sơn đen, mái ngói âm dương, bên hiên có đặt một bình ắc-quy lớn nối dây vào trong nhà. Cạnh bình ắc-quy là một chiếc máy lạnh cũ đã tróc sơn. Thứ duy nhất trong bản chạy điện lưới.
"Ông có máy nổ riêng ạ?"
"Máy nổ dầu. Tôi mua năm ngoái, để chạy tủ lạnh với cái máy lạnh cho mấy cháu nhỏ. Bản chưa có điện lưới." Cầm cười khiêm tốn, tay xoa nhẹ mặt đồng hồ vàng.
Chúng tôi dừng trước một căn nhà sàn thấp hơn, mái lá đơn sơ, bên hiên treo tấm biển gỗ chữ viết tay bằng mực đen: "Quán nước Phan."
"Đây rồi. Chỗ các bác sĩ ở."
Một người đàn ông trạc năm mươi tuổi ngồi xổm trên sàn, tay cầm ấm nhôm đang pha trà. Ông mặc áo bộ đội cũ bạc vai, quần ka-ki xắn gấu, chân đất. Da mặt rám nắng sậm, gò má cao, mắt sâu và khô. Ông ngước lên nhìn Cầm, gật một cái, không cười.
"Phan, đây là hai bác sĩ tỉnh lên khám cho bản. Tao gửi ở đây, mày lo chỗ ăn ngủ đàng hoàng."
Phan đứng dậy, tay vẫn cầm ấm trà. Ông nhìn tôi, nhìn Đạt, rồi gật thêm một cái nữa. "Mời hai anh lên sàn."
Cầm tự bước lên sàn trước, rót trà vào ba cái chén nhôm đặt sẵn trên mâm gỗ. Ông uống một ngụm, chép miệng: "Trà Phan pha ngon nhất bản đấy." Rồi quay sang tôi: "Giá thuê gác năm mươi nghìn một đêm. Cơm ba bữa tính riêng. Mai tám giờ sáng tôi tổ chức khám đoàn ở nhà sàn cộng đồng, dân bản sẽ tới đông đủ. Các bác sĩ nghỉ ngơi cho khỏe."
Ông đứng dậy, vỗ vai Phan một cái nhẹ, rồi bước xuống sàn. Khi Cầm khuất sau con dốc, Phan mới ngồi xuống, rót trà nóng vào hai chén sạch, đẩy về phía chúng tôi. Ông không nhìn theo hướng Cầm đi.
"Ở đây có gì lạ cứ hỏi tôi." Phan nói khẽ, mắt vẫn nhìn xuống ấm trà. "Đừng hỏi ổng."
Ông không giải thích thêm, đứng dậy, xách ấm xuống bếp dưới sàn.
Tôi và Đạt nhìn nhau. Đạt nhướn mày. Tôi khẽ lắc đầu. Chúng tôi uống trà trong im lặng, vị trà xanh đắng nhẹ, hậu ngọt nơi cuống họng. Trên trần quán, ngay phía trên cửa ra vào, tôi thấy một chùm tỏi tươi buộc dây gai, củ vẫn còn ướt, lớp vỏ lụa trắng ánh nhựa. Bên cạnh chùm tỏi là một bó lá khô tôi chưa thấy bao giờ, lá hình bầu dục dài, mép có răng cưa thưa, buộc bằng dây gai thành bó nhỏ. Sau này tôi mới biết đó là lá hổ bì.
Đạt thì thầm: "Ông này lạ anh nhỉ."
Tôi gật.
Phan trở lên, tay bưng mâm cơm. Cơm tẻ trắng, canh măng chua nấu xương, thịt heo kho mặn, rau cải mèo luộc xanh đen. Mùi măng chua dậy lên thơm nồng. Ông đặt mâm xuống giữa chiếu, đưa cho mỗi người một đôi đũa tre mộc.
"Hai anh ăn cơm. Tôi ăn dưới bếp rồi."
Đạt ăn được lưng bát thì buông đũa, mặt vẫn chưa hết mệt sau cơn say xe. Cậu xin phép lên gác nằm trước. Tôi ngồi ăn một mình, Phan ngồi bên hiên vê thuốc lào, thỉnh thoảng liếc vào mâm xem tôi có cần gì không.
"Chú Phan ở bản này lâu chưa ạ?"
"Cả đời." Phan rít một hơi thuốc, khói cuộn ra từ mũi. "Đi bộ đội ba năm xong về. Từ đó không đi đâu nữa."
"Bản mình có bao nhiêu hộ ạ?"
"Tám mươi hai nóc. Gần bốn trăm người."
"Dạo này bản có chuyện gì lạ không chú?"
Phan dừng tay vê thuốc, mắt nhìn ra con đường đất trước quán. "Anh ở đây bao lâu?"
"Một tuần, có thể hơn."
"Cẩn thận đêm." Phan đứng dậy, gõ tẩu thuốc vào cột sàn, tàn lửa rơi lấm tấm xuống đất. "Đêm bản tôi không yên."
Ông quay lưng đi xuống bếp, không nói thêm câu nào.
Tôi lên gác. Gác sàn thấp, mái lá sát đầu, chiếu cói trải trên ván gỗ mộc. Mùng vải trắng treo sẵn bốn góc, bóng đèn dây tóc 25 watt treo lủng lẳng giữa xà nhà. Đạt đã ngủ say, tiếng thở đều đều, một tay gác lên trán. Tôi ngồi xuống góc gác cạnh cửa sổ nhỏ, mở sổ tay công vụ ghi vắn tắt:
Ngày 3 tháng 5, 2026. Đến Mường Trăng lúc 12h trưa. Trưởng bản Lò Văn Cầm đón - niềm nở quá mức, phát âm tiếng Kinh chuẩn. Chủ quán Phan có vẻ bất hoà với trưởng bản. Chùm tỏi mới treo cửa + lá khô lạ - mê tín bản địa? Cần hỏi thêm. Đàn ông trẻ vắng mặt trên đường vào bản - có thể đi làm xa. Bốn cái chết, không ai khám tử thi. Đêm đầu nghe tiếng đàn tính từ thị trấn - cần xác định lại đêm nay có lặp lại không.
Chiều tôi xuống quán, ngồi uống trà với Phan. Ông ít nói, nhưng không khó chịu. Tôi hỏi về cây thuốc trong bản, về con đường lên núi, về mùa mưa năm nay đến sớm hay muộn. Phan trả lời đầy đủ, rành mạch, nhưng mắt ông luôn hướng ra ngoài đường, như đợi ai hoặc canh ai.
Chiều muộn, Phan rót cho tôi nửa chén rượu cẩm màu tím đục. "Anh uống cho ấm. Đêm trên này lạnh hơn dưới thị trấn."
Tôi nhấp một ngụm, vị rượu ngọt hơi chát, cồn nhẹ lan ấm xuống ngực. "Cảm ơn chú."
"Đoàn anh lên đây thật chỉ để khám bệnh thôi à?" Phan hỏi, giọng đều đều như nói chuyện thời tiết.
Tôi đặt chén rượu xuống. "Chú thấy có gì không phải bệnh sao?"
Phan im lặng. Ông rót thêm rượu vào chén tôi, chậm rãi. "Anh ở lại rồi sẽ rõ. Nhớ lời tôi: đừng hỏi Cầm."
Đêm. Đèn dầu dưới quán tắt lúc mười giờ. Tôi nằm trên gác, mắt mở nhìn xà nhà tối om. Đạt ngủ say bên cạnh, tiếng ngáy nhẹ đều đặn. Trời quang, ánh trăng sau rằm hai ngày vẫn còn căng tròn nhưng đã bắt đầu khuyết mờ bên phải, hắt qua khe vách thành những vệt sáng bạc mỏng trên sàn gỗ.
Tôi không uống seduxen đêm nay. Tôi muốn tỉnh.
Một giờ sáng. Tiếng côn trùng ngoài rừng tre ngừng bặt trong một khoảnh khắc. Rồi tôi nghe thấy.
Tiếng đàn tính.
Không phải từ ti-vi. Không phải mê. Tiếng đàn chầm chậm, trầm và khô, vọng lên từ hướng suối Bạc dưới chân bản. Từng nốt rời rạc, ngắt quãng, như ngón tay ai gầy guộc gảy trên dây đàn bạc. Âm thanh mỏng và xa, nhưng rõ đến từng tiếng ngân. Không phải sóng nhiễu. Không phải gió. Là đàn tính thật.
Tôi ngồi dậy, nép vào khe ván sàn nhìn xuống bản. Đèn dầu tất cả các nhà đã tắt từ lâu. Không nhà nào sáng. Không ai chơi đàn tính giờ này, ở một bản chỉ còn một bà then già bảy mươi hai tuổi.
Tiếng đàn kéo dài khoảng mười phút, rồi ngừng đột ngột như khi nó bắt đầu. Không có tiếng bước chân. Không có tiếng cửa đóng. Chỉ có tiếng suối chảy trở lại sau khoảng lặng.
Tôi ngồi đó một lúc lâu. Tay tôi với lấy cuốn sổ tay trong bóng tối, nắn nót ghi bằng bút bi không cần nhìn:
01h08 đêm 3 tháng 5. Đàn tính từ phía suối Bạc, hướng đông nam. Không xác định được nhà. Không ai thức. Không phải mê.
Tôi nằm xuống, mắt vẫn mở. Tim tôi đập chậm, nhưng không phải vì sợ. Là vì lần đầu trong đời, tôi tỉnh giấc giữa rừng vì một thứ tiếng không có ai chơi. Và tôi biết, sáng mai khi mặt trời lên, tôi sẽ không nhắc chuyện này với ai. Sẽ không hỏi Cầm. Sẽ không hỏi Phan. Tôi sẽ tự đi tìm.