Quỷ Cẩu - Chương 1: Di Sản Của Kẻ Đào Huyệt

Hẻm 21 đường Bùi Hữu Nghĩa nằm nép mình bên hông chợ Bà Chiểu, sâu hun hút và chằng chịt như một mớ rễ cây mục chôn dưới lòng đất Sài Gòn. Tôi kéo lê…

Nội dung chương

Hẻm 21 đường Bùi Hữu Nghĩa nằm nép mình bên hông chợ Bà Chiểu, sâu hun hút và chằng chịt như một mớ rễ cây mục chôn dưới lòng đất Sài Gòn. Tôi kéo lê chiếc vali nứt góc trên nền xi măng lồi lõm, bánh xe cao su rít lên từng hồi chói tai xé rách cái oi nồng của buổi xế chiều. Ở đây, mùi cống rãnh ứ đọng quẩn quanh lấy mùi nhang trầm từ những bàn thờ Thiên gắn tạm bợ trước hiên nhà, tạo nên một thứ không khí ngột ngạt đến khó thở.

Tôi dừng chân trước cánh cổng sắt rỉ sét loang lổ màu sơn xanh cũ kỹ. Bên kia bờ rào xi măng phủ đầy rêu đen là căn nhà cổ ba gian lợp mái ngói âm dương đã tồn tại hơn một thế kỷ của dòng họ Lê. Khi những người xung quanh đều đã đập bỏ nhà xưa để lên tầng đúc bê tông san sát, căn nhà của ông nội tôi vẫn trơ trọi nằm đó, lọt thỏm giữa bốn bề vách tường cao vút của các khối nhà phố hiện đại. Mái ngói rêu phong sụp xuống ở vài góc, đòn tay bằng gỗ căm xe đen thẫm lộ ra ngoài trời như bộ xương sườn của một con thú khổng lồ chết rũ.

Sáu tháng trước, ông nội tôi - ông Lê Văn Thừa - đột ngột biến mất.

Công an phường tìm kiếm suốt hai tuần quanh khu vực Thị Nghè, Bình Triệu rồi mở rộng ra tận nghĩa trang Lái Thiêu nhưng bặt vô âm tín. Không thư từ, không dấu vết cạy phá, đồ đạc trong nhà nguyên vẹn, chiếc xe Cub cánh én của ông vẫn dựng ngay ngắn cạnh hồ nước mưa. Người ta đồn ông lẩm cẩm bỏ đi lạc, cũng có kẻ rỉ tai nhau rằng cái nghiệp đào huyệt suốt bốn mươi năm của ông cuối cùng đã bắt ông phải trả lời bằng mạng sống. Tôi làm nghề thiết kế tự do, sống trọ rày đây mai đó ở mạn Tân Bình, vốn chẳng bận tâm mấy chuyện dị đoan. Nhưng khi ủy ban gọi lên ký giấy bàn giao căn nhà thừa kế do họ hàng chẳng còn ai đoái hoài, tôi đành dọn về. Ở Sài Gòn tấc đất tấc vàng, có một chỗ che mưa che nắng rộng rãi mà không tốn tiền thuê hàng tháng đã là một món hời lớn.

Cánh cổng rỉ sét rên lên kèn kẹt khi tôi đẩy mạnh chốt cài. Sân gạch tàu đỏ au giờ đây đã nứt toác, cỏ may và ngải dại mọc cao ngang đầu gối. Giữa khoảnh sân hoang phế đó, một bóng trắng đục bất thần nhổm dậy từ góc gốc cây mai già.

Đó là Khánh Hầu.

Con chó già của ông nội.

Nó đã ở đây từ khi tôi còn là một đứa nhóc bảy tuổi chạy lăng xăng quanh những chiếc quan tài gỗ ép ông nội đóng dở ngoài sân sau. Hai mươi năm trôi qua, một con chó thông thường lẽ ra đã chết từ lâu, nhưng Khánh Hầu vẫn sống. Bộ lông của nó trắng muốt từ đầu đến đuôi, không lẫn một sợi lông màu nào khác, thứ màu trắng đục nhờ nhờ giống như tấm vải liệm lâu ngày bị mốc meo. Nhưng điều dị thường nhất ở nó là chiếc mũi mang màu đỏ ửng như cục thịt tươi, ẩm ướt và phập phồng liên tục. Hai hốc mắt nó đục ngầu một lớp màng trắng xám của chứng mù lòa tuổi già, khóe mắt đóng ghèn khô quánh đen sì.

"Khánh Hầu, mày còn nhớ tao không?"

Tôi khẽ gọi, đặt chiếc vali xuống nền gạch, bước chậm rãi về phía nó.

Con chó không sủa, cũng không vẫy đuôi. Nó chầm chậm xoay đầu về phía phát ra tiếng động, chiếc mũi đỏ ửng hếch lên không trung hít hà từng luồng gió rười rượi. Đôi tai dài rũ rượi của nó giật khẽ. Khi tôi chỉ còn cách nó chừng ba bước chân, Khánh Hầu đột ngột lùi lại một bước, hai chân trước chùng xuống, phát ra một chuỗi âm thanh gầm gừ nghẹn ứ nơi cuống họng, trầm đục và khô khốc như tiếng hai mảnh gỗ mục cọ xát vào nhau. Nó không nhận ra tôi, hoặc giả, nó đang cảnh giác với bất kỳ sinh vật sống nào bước qua cánh cổng sắt này.

Tôi thở dài, rút gói xôi mặn mua ở đầu hẻm, bóc lớp lá chuối rồi ném nửa miếng chả lụa về phía nó. Miếng thịt rơi cộp xuống nền gạch ngay trước mũi con thú. Con chó khựng lại, đầu mũi đỏ hồng run rẩy ngửi ngửi, nhưng tuyệt nhiên không cúi xuống ăn. Đôi mắt mù lòa của nó vẫn trừng trừng hướng về khoảng không vô định ngang ngực tôi, lạnh lẽo và ma quái.

Không thèm để ý đến con vật già nua gàn dở nữa, tôi bước lên bậc thềm tam cấp, cắm chìa khóa đồng nặng trịch vào ổ khóa cửa chính. Ổ khóa đóng bụi dày đặc, phải vặn đi vặn lại mấy lần chốt cửa mới chịu nhả ra kèm theo một tiếng cách khô khốc. Cánh cửa gỗ lim dày cộp mở ra, phả thẳng vào mặt tôi một mùi ẩm mốc nồng nặc quyện với mùi dầu cù là, mùi gỗ mục và thứ hương khói âm u đã nguội ngắt từ nhiều tháng trước.

Bên trong căn nhà tối om dù trời bên ngoài vẫn còn le lói chút nắng chiều. Trần nhà cao vút với những hàng rui mè bằng gỗ đen nhánh đỡ lấy lớp ngói cổ. Gian giữa đặt một bộ bàn ghế trắc trổ hoa văn rồng phượng phủ bụi xám xịt. Trên bức tường chính diện, bàn thờ gia tiên chiếm trọn nửa gian phòng. Tấm ảnh chân dung của ông nội tôi - chụp vào dịp mừng thọ bảy mươi tuổi - đặt chơ vơ cạnh lư hương đồng đã cắm đầy chân nhang tàn lụi. Trong bức ảnh đen trắng đã ố vàng các góc, đôi mắt ông trũng sâu nhìn thẳng ra cửa, vẻ mặt nghiêm nghị pha chút khắc khổ của một người cả đời chỉ bầu bạn với đất cát và xác chết.

Tôi bật công tắc điện gắn cạnh cột cái. Đèn huỳnh quang chớp nháy ba bốn lần kèm tiếng vo ve khó chịu trước khi tỏa ra thứ ánh sáng trắng nhờ nhợt, lạnh lẽo.

Mọi thứ trong nhà dường như vẫn giữ nguyên vị trí từ ngày ông biến mất. Trên chiếc bàn dài cạnh cửa sổ hướng ra giếng trời, chiếc bình thủy rỉ sét đặt cạnh ấm trà gốm Lái Thiêu cạn đáy. Cạnh đó là chiếc nón lá rách bươm mất cả vành, nan tre gãy chĩa ra ngoài như những chiếc xương sườn tưa tủa, trên chóp nón ám một lớp bồ hóng đen kịt. Tôi nhớ mang máng ông nội thường đội chiếc nón mê này mỗi khi có người trong xóm chạy sang nhờ ông đi đào huyệt cất mả. Dưới chân bàn, một con dao bầu bản rộng, mũi nhọn hoắt dùng để xắn đất sét, lưỡi dao đã bị mài mòn vẹt một góc nằm lăn lóc bên cạnh đôi ủng cao su cáu bẩn.

Căn nhà lạnh buốt. Cái lạnh không đến từ máy điều hòa hay gió trời, mà ngấm ngầm bốc lên từ lớp gạch bông cũ kỹ dưới sàn, thấm qua đế giày rồi chạy dọc lên sống lưng.

Tôi kéo vali vào căn buồng nhỏ phía sau bàn thờ - nơi trước đây từng là phòng ngủ của ông nội. Căn phòng chỉ kê một chiếc giường gõ đỏ, một chiếc tủ áo hai cánh bằng gỗ ép đã bong tróc lớp véc-ni và một chiếc bàn con kê sát cửa sổ con chấn song sắt nhìn thẳng ra khoảng sân sau hẹp té. Tôi mở tung cánh cửa sổ bằng gỗ để đón chút gió, nhưng luồng gió thổi vào chỉ mang theo hơi ẩm mèm của bờ tường gạch rêu phong đối diện.

Bên ngoài, trời sụp tối rất nhanh. Tiếng chuông chùa Vạn Phước cách đó vài con hẻm buông từng hồi chậm rãi, ngân dài rồi tan biến vào tiếng xe cộ rầm rì ngoài đường lớn Phan Đăng Lưu. Tôi lấy cây chổi đót dựng ở góc nhà, bắt đầu quét dọn lớp bụi bặm đóng kết trên sàn gác và mặt bàn. Tiếng chổi sột soạt trên nền gỗ nghe đơn độc đến lạ lùng.

Bỗng nhiên, từ dưới sân trước vọng lên một tiếng động lạ.

"Khẹc... ặc..."

Đó là tiếng rên gừ của Khánh Hầu. Âm thanh không giống tiếng chó sủa người lạ, mà nghe như một cổ họng đang bị bóp nghẹt, rặn ra từng cơn thở dốc run rẩy.

Tôi bước vội ra thềm nhà. Trời đã tối hẳn, ngọn đèn đường ngoài ngõ hắt vào sân những vệt sáng vàng vọt, tù mù. Con chó trắng muốt đang đứng trơ trọi giữa sân, thân hình gầy trơ xương sườn của nó run lên bần bật. Kỳ lạ thay, nó không hướng mặt ra phía cổng sắt, mà đang ngửa hẳn đầu lên trời, đôi mắt kéo màng đục ngầu hướng thẳng lên chóp mái ngói âm dương của căn nhà cổ.

"Khánh Hầu! Đi vào!" Tôi gắt khẽ, bước xuống một bậc thềm.

Con chó hoàn toàn phớt lờ tiếng tôi gọi. Nó bắt đầu bước đi. Bốn cái chân khẳng khiu, khớp xương kêu lách cách khô khốc đưa thân mình nó di chuyển thành một vòng tròn quanh gốc cây mai già. Nó đi từng bước chậm chạp, đầu vẫn ngửa ngược lên trời, chiếc mũi đỏ hồng phập phồng hít thở điên cuồng thứ mùi vị vô hình nào đó lơ lửng trên mái ngói. Rồi bất thình lình, nó dừng lại, há to mõm phát ra một tiếng tru dài.

"Áo... o... o... u...!"

Tiếng tru thảm thiết, rợn người xé toạc màn đêm tĩnh mịch của con hẻm sâu. Tiếng tru không trầm đục như tiếng chó thường ngày, mà lanh lảnh, the thé, u uất giống như tiếng gào khóc của một đứa trẻ bị bỏ rơi dưới đáy giếng sâu. Âm thanh dội vào những vách tường bê tông cao ngất ngưởng xung quanh, dội ngược lại lòng sân, xoáy thẳng vào màng nhĩ tôi khiến từng sợi lông tơ trên cánh tay dựng đứng.

Từ căn nhà ba tầng bên cạnh, một cánh cửa sổ bật mở đánh rầm. Giọng một người đàn bà the thé chửi xới:

"Cái thứ chó chết bầm! Nửa đêm nửa hôm tru tréo hoài vậy hả? Ông Thừa đi rồi sao không dắt nó đi luôn cho rảnh nợ!"

Cánh cửa sổ đóng sầm lại. Xóm hẻm lại chìm vào sự im lặng ngột ngạt.

Tôi bực bội bước nhanh tới, nắm lấy lớp da cổ chùng nhão của Khánh Hầu lôi mạnh: "Mày im ngay đi! Muốn người ta đập chết mày không?"

Lớp lông của nó lạnh ngắt như thể vừa vớt lên từ một tảng băng. Khi tay tôi chạm vào gáy nó, toàn thân con chó giật nảy một cái dữ dội. Nó quay ngoắt đầu lại, hàm răng vàng ố khè ra một luồng khí tanh tưởi xộc thẳng vào mũi tôi. Đó là mùi bùn sình thối rữa, lẫn lộn mùi tanh của thịt ôi thiu và thứ mùi ngai ngái khó tả - thứ mùi mà sau này tôi mới biết, chính là mùi đất ẩm sâu dưới ba mét huyệt mộ.

Tôi giật thót tay lại. Con chó lảo đảo lùi vào bóng tối dưới gầm sàn hiên nhà, chui tọt vào trong đống ván mục chất đống từ lâu, chỉ để lộ hai đốm mắt mờ đục phát ra ánh lân tinh xam xám nhìn chòng chọc vào tôi.

Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt, quay trở vào nhà rồi cài chặt then cửa gỗ. Khóa xích sắt cẩn thận xong, tôi mới thở phào một hơi, tự cười giễu sự nhát gan của mình. Chẳng qua chỉ là một con chó già bị mù và mắc chứng loạn thần kinh khi chủ nhân đột ngột biến mất, có gì mà phải sợ hãi.

Tôi bật chiếc máy tính xách tay đặt trên bàn ăn ở gian giữa, cắm tai nghe vào tai để bắt đầu làm việc. Bản thiết kế bìa sách cho một khách hàng xuất bản đang đến hạn chót, tôi cần phải tập trung hoàn thành trong đêm nay để sáng mai gửi file. Ánh sáng xanh le lói từ màn hình vi tính hắt lên khuôn mặt tôi, hòa cùng tiếng gõ phím lách cách đều đặn xua tan đi phần nào sự quạnh quẽ của gian nhà cổ.

Mười một giờ đêm. Rồi mười hai giờ đêm.

Không gian xung quanh hoàn toàn im bặt, chỉ còn tiếng quạt trần quay lờ đờ trên đỉnh đầu, cánh quạt bằng sắt rỉ phát ra tiếng cót két theo chu kỳ tròn trịa.

Đến khoảng một giờ sáng, mắt tôi bắt đầu cay xè. Cổ họng khô khốc vì khát, tôi tháo tai nghe ra, đứng dậy định bước xuống gian bếp phía sau để tìm nước uống. Ngay khi chiếc tai nghe vừa rời khỏi tai, một sự tĩnh mịch tuyệt đối ập xuống, đè nặng lên màng nhĩ tôi như một khối chì.

Gió bên ngoài đã ngừng thổi từ lúc nào. Không một tiếng còi xe từ đường lớn vọng vào, không một tiếng dế kêu trong bụi cỏ ngoài sân. Cả con hẻm 21 như vừa bị cắt đứt khỏi thế giới bên ngoài, cô lập trong một vòm chân không lạnh lẽo.

Tôi bước qua gian buồng ngủ, định bụng đi thẳng xuống bếp thì bước chân tôi khựng lại ngay trước khung cửa sổ phòng ngủ.

Từ ngoài sân sau, một mùi tanh nồng nặc bốc lên. Mùi tanh ngây ngấy, ngọt lờ lợ như máu tươi để lâu ngày trong phòng kín.

Tôi áp trán vào thanh song sắt lạnh toát của cửa sổ nhìn ra. Đêm nay trăng thượng huyền, một nửa vành trăng cong vút như lưỡi liềm treo lơ lửng trên khoảng trời hẹp giữa các tòa nhà. Ánh trăng bàng bạc rọi xuống khoảng sân sau ngập rác lá cây.

Dưới nền đất ẩm ướt sát mép chân tường, bóng một con vật màu trắng đang lúi húi làm gì đó.

Là Khánh Hầu.

Nó đã mò từ sân trước ra sân sau bằng cách nào khi tôi đã khóa chặt các cửa ngách?

Tôi nheo mắt nhìn kỹ hơn qua bóng tối nhờ nhờ. Con chó đang đứng bằng bốn chân, chiếc mõm đỏ hồng cắm sâu xuống một hố đất nhỏ cạnh bờ tường gạch. Nó cào bới điên cuồng. Hai chân trước thoăn thoắt hất đất cát ra hai bên, móng vuốt cọ vào những mảnh sành vỡ phát ra tiếng lạo xạo ghê tai.

Rồi nó dừng lại.

Cái đầu trắng toát của nó từ từ ngẩng lên khỏi miệng hố. Giữa hai hàm răng lởm chởm của nó đang ngoạm chặt một vật dài màu xám đen. Dưới ánh trăng mờ, tôi nhận ra đó là một mẩu xương đã khô quắt, dính đầy bùn đất đen sì.

Khánh Hầu không nhai khúc xương đó. Nó ngậm ngang miệng, rồi chầm chậm xoay người lại đối diện với cửa sổ phòng tôi.

Khoảng cách chỉ chừng năm mét. Đôi mắt mù lòa của nó dường như nhìn xuyên qua bóng tối, xuyên qua chấn song sắt để ghim thẳng vào hai mắt tôi.

Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc từ gót chân lên tận đỉnh đầu tôi. Con chó không hề cử động, đứng sững như một bức tượng đá trắng đục giữa sân sau hoang phế, miệng ngậm khúc xương khô, bất động suốt cả một phút đồng hồ.

"Khánh Hầu..." Tôi thì thầm, giọng nói run rẩy tắc nghẽn trong cuống họng.

Như nghe thấy tiếng tôi, con chó bỗng nhiên nghiêng đầu sang một bên. Một bên khóe mép nó kéo xếch lên, để lộ hàng răng nanh nhọn hoắt dính đầy đất cát. Cử động cơ mặt kỳ quái ấy khiến khuôn mặt con thú trông giống hệt như đang nhoẻn một nụ cười giễu cợt đầy ác ý.

Rồi nó quay lưng, lững thững tha khúc xương đi vòng qua góc tường, biến mất vào bóng tối sâu thẳm của lối đi hẹp dẫn ra sân trước.

Tôi đứng chôn chân tại chỗ, mồ hôi lạnh toát ra ướt đầm lưng áo. Chiếc đồng hồ quả lắc cũ kỹ treo ở góc gian nhà chính bất thần giật mình điểm từng tiếng chuông nặng nề, ngân dài trong đêm vắng.

Bính. Boong.

Hai giờ sáng.

Tôi cố gắng trấn an bản thân rằng chó bới xương trong vườn là chuyện bình thường ở những căn nhà cổ có đất cát lâu năm. Có thể là xương gia súc gia cầm do người ta chôn từ thời nào không biết. Tôi bước nhanh xuống bếp, vặn vòi nước rửa mặt liên tục bằng nước lạnh để xua đi cảm giác ớn lạnh kỳ quặc đang bám riết lấy tâm trí. Nước máy chảy ra vàng khè, tanh mùi sắt gỉ, càng làm cho cảm giác nôn nao trong bụng dâng cao.

Không còn tâm trạng nào để làm việc tiếp, tôi quay lại phòng khách tắt máy tính, khóa chốt cửa buồng ngủ rồi leo lên chiếc giường gõ đỏ của ông nội. Chiếc chiếu cói trải trên mặt giát giường kêu cọt kẹt theo từng cử động của tôi. Tôi kéo tấm chăn mỏng đắp ngang ngực, mắt nhìn chằm chằm lên trần nhà bằng gỗ đen bóng phía trên.

Trong bóng tối dày đặc, các đòn tay và rui mè đan xen vào nhau tạo thành những hình thù kỳ dị, uốn lượn như những con rắn khổng lồ đang bò ngoằn ngoèo trên nóc nhà.

Tôi nhắm mắt lại, cố dỗ giấc ngủ bằng cách đếm nhịp thở của chính mình. Sự mệt mỏi sau một ngày dọn dẹp nặng nhọc dần kéo mi mắt tôi trĩu xuống. Giấc ngủ chập chờn kéo đến mang theo những hình ảnh rời rạc: khuôn mặt khắc khổ của ông nội đứng bên cạnh những miệng huyệt sâu hút, chiếc xẻng sắt cắm phập vào nền đất sét đỏ quạch, và cái bóng trắng muốt của con chó già lang thang vô định giữa một bãi tha ma bạt ngàn bia mộ không tên.

Trong cơn mơ màng nửa tỉnh nửa mê, tai tôi bỗng bắt được một âm thanh lạ.

"Lách cách... lách cách..."

Tiếng động rất nhỏ, nhưng rõ mồn một. Nó không phát ra từ mặt đất, cũng không phải từ các căn phòng xung quanh.

Nó vang lên từ ngay trên đỉnh đầu tôi.

Trên mái ngói.

Tôi mở bừng mắt, nín thở nằm im lắng nghe. Toàn bộ cơ thể tôi đông cứng lại dưới tấm chăn mỏng.

Tiếng động lại vang lên, lần này rõ ràng hơn, dồn dập hơn. Đó là tiếng móng vuốt của một con thú bốn chân đang bước đi trên mái ngói âm dương trơn trượt. Tiếng móng nhọn bấm vào ngói kêu cồm cộp, từng bước, từng bước một, di chuyển chậm rãi từ góc hiên sau tiến dần về phía đỉnh nóc nhà.

Mái ngói căn nhà này dốc đứng và đã mục nát, người lớn bước lên chắc chắn sẽ làm bể ngói rơi xuống ngay. Nhưng sinh vật trên mái nhà di chuyển cực kỳ nhẹ nhàng, nhịp nhàng và chắc chắn một cách bất thường.

Rồi tiếng bước chân dừng lại ngay trên vị trí chiếc giường tôi đang nằm.

Một sự im lặng ngột ngạt bao trùm trong vài giây ngắn ngủi.

Bỗng nhiên, một âm thanh khác vang lên khiến máu trong người tôi như đông cứng lại.

"Rột... roạt..."

Tiếng kim loại sắc nhọn kéo lê trên bề mặt nhám xì của lớp ngói cổ. Âm thanh rợn người ấy cứ kéo dài ra, chậm chạp, như thể có ai đó đang cầm một lưỡi dao bén ngót miết thật mạnh dọc theo đòn dông của mái nhà.

Chiếc đồng hồ quả lắc dưới nhà dưới gõ nhịp khô khốc.

Một tiếng. Hai tiếng. Ba tiếng.

Đúng ba giờ sáng.

Ngay khoảnh khắc tiếng chuông thứ ba vừa dứt, một tiếng thở phì phò nặng nhọc, đục ngầu và ướt át vang lên từ khe hở của lớp ngói âm dương ngay trên đầu tôi, phả xuống không gian căn buồng kín một luồng tử khí tanh tưởi đến rợn gáy.

Chương khác

Xem thêm