Quỷ Cẩu - Chương 4: Con Chó Mù Dưới Gầm Cầu Thang
Ánh sáng ban mai rọi qua những khe ván gỗ mục nát trên vách tường, rắc từng vệt bụi vàng lơ lửng xuống nền gạch tàu đỏ thẫm. Tiếng còi xe máy từ trục…
Nội dung chương
Ánh sáng ban mai rọi qua những khe ván gỗ mục nát trên vách tường, rắc từng vệt bụi vàng lơ lửng xuống nền gạch tàu đỏ thẫm. Tiếng còi xe máy từ trục đường Bạch Đằng vọng vào con hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa, xen lẫn tiếng rao lanh lảnh của người bán xôi bắp và tiếng kim loại lách cách từ xe thu mua ve chai đầu ngõ. Đô thị Sài Gòn cựa mình thức giấc, ồn ã và xô bồ, tạm thời xua đi màn sương ẩm ướt quẩn quanh căn nhà cổ suốt đêm dài.
Tôi ngồi bất động trên chiếc ghế gỗ trắc ở bàn trà, hai mắt cay xè vì một đêm thức trắng. Tách trà nguội ngắt đóng một lớp váng mỏng nổi lềnh bềnh trên mặt nước chát xít. Mồ hôi lạnh sau lưng đã khô từ lâu, để lại cảm giác dính dớp khó chịu trên da thịt.
Tôi nhìn xuống bàn tay mình. Những khớp ngón tay vẫn còn co cứng lại sau chuỗi giờ phút kinh hoàng vừa trải qua.
Cái bóng trắng đứng thẳng trên nóc nhà lúc ba giờ sáng. Chiếc nón mê rách tơi tả. Lưỡi dao bầu sắc lạnh ngậm ngang miệng. Và vết khấc mới tinh cứa sâu vào bậc cầu thang gỗ nơi con Khánh Hầu nằm ngủ.
Tất cả những hình ảnh đó quay cuồng trong đầu tôi, giằng xé giữa hai luồng suy nghĩ đối nghịch. Lý trí của một thanh niên hai mươi tám tuổi làm nghề thiết kế, tiếp xúc với máy tính và công nghệ mỗi ngày, bảo rằng đó chỉ là ảo giác sinh ra từ chứng mất ngủ triền miên và sự hoảng loạn thần kinh. Nhưng xúc giác của tôi, tiếng thở ướt át phả qua kẽ ngói và vết cắt sâu hoắm trên thớ gỗ thao lao kia lại là bằng chứng trần trụi không thể chối cãi.
Tôi hít một hơi dài, chống hai tay xuống mặt bàn đứng dậy. Tiếng khớp xương kêu rắc rắc khô khốc. Ban ngày đã tới, ánh mặt trời chiếu rọi khắp nơi mang lại cho tôi chút can đảm sót lại. Tôi cần phải đối mặt với thực tế. Tôi cần phải tận mắt kiểm tra lại con Khánh Hầu dưới ánh sáng mặt trời.
Tôi bước chầm chậm về phía gầm cầu thang.
Góc tối ẩm thấp ấy vào ban ngày trông bớt phần u ám hơn đêm qua, dù mùi ẩm mốc của gỗ ngâm nước và mùi bao tải mục vẫn bốc lên nồng nặc. Trên chiếc bao ba gai rách tơi bời, con Khánh Hầu vẫn nằm co ro ở đó.
Nghe tiếng bước chân của tôi nện trên nền gạch, con vật khẽ động đậy. Nó không nhảy dựng lên sủa ầm ĩ như những con chó giữ nhà thông thường. Nó nâng đầu lên một cách chậm chạp, từng chuyển động đều toát ra vẻ rệu rã của một sinh vật đã đi đến những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời.
"Khánh Hầu," tôi cất tiếng gọi.
Con chó già ngẩng mặt lên hướng về phía tôi. Dưới luồng ánh sáng ban ngày rọi thẳng từ cửa chính vào, diện mạo của nó phơi bày rõ mồn một. Hai tròng mắt của nó đục ngầu một màu xám tro của chứng đục thủy tinh thể giai đoạn cuối, hoàn toàn mất đi thị lực. Lớp màng mờ xỉn phủ kín con ngươi, không phản chiếu lấy một tia sáng nào. Cái mũi của nó có màu đỏ hồng nhạt thếch khác thường, khô ráp và nứt nẻ thành từng rãnh nhỏ. Lông quanh mõm nó rụng trơ trụi, để lộ lớp da nhăn nheo lấm tấm những đốm đồi mồi đen sẫm.
Nó chống hai chân trước xuống mặt sàn, run rẩy nhấc phần thân trước lên. Toàn bộ khung xương sườn gầy guộc của nó nhô hẳn lên dưới lớp da bọc xương. Bốn chân nó run bần bật, đứng không vững trên nền gạch trơn. Chân sau bên trái của nó dường như bị tật từ lâu, quẹo hẳn sang một bên, khiến mỗi bước di chuyển của nó đều khập khiễng, nặng nhọc.
Con chó bước ra khỏi gầm cầu thang chừng nửa mét rồi dừng lại, cái đầu gục xuống sát đất, chiếc đuôi cụt ngủn khẽ ngoe nguẩy vài nhịp yếu ớt nhằm biểu thị sự thuần phục đối với tôi.
Tôi ngồi thụp xuống trước mặt nó, giữ một khoảng cách chừng hai sải tay. Tim tôi đập chậm lại, lồng ngực vơi bớt đi gánh nặng ngột ngạt.
Trước mắt tôi rõ ràng chỉ là một con chó già lụ khụ, mù lòa, tàn tật và sắp chết. Làm sao một con vật với bốn cẳng chân run rẩy, đứng trên mặt đất bằng phẳng còn chẳng vững này lại có thể trèo lên nóc nhà dốc đứng? Làm sao nó có thể đứng thẳng bằng hai chân sau giữa đỉnh đòn dông lộng gió, đầu đội nón mê và miệng ngậm dao bầu?
Ý nghĩ đó bỗng nhiên trở nên phi lý đến nực cười.
Tôi đứng dậy, đi xuống gian bếp phía sau. Trên chiếc bàn chạn cũ kỹ còn nửa bát cơm nguội khô cứng từ trưa hôm qua. Tôi lấy chiếc muỗng nhôm xới cơm ra chiếc đĩa nhựa, chan thêm chút nước canh rau ngót nguội ngắt còn sót lại trong nồi nhôm để làm mềm hạt cơm.
Cầm đĩa cơm quay trở lại phòng khách, tôi đặt nó xuống trước mặt con chó già.
"Ăn đi mày."
Khánh Hầu hạ thấp mõm xuống, hít hà mùi thức ăn bằng cái mũi đỏ hồng khô nẻ. Nó bắt đầu liếm láp từng hạt cơm nguội một cách chậm chạp. Chiếc lưỡi màu hồng nhạt của nó quét nhẹ trên mặt đĩa, phát ra những tiếng sột soạt khô khốc. Nó ăn rất ngoan ngoãn, không hề có bất kỳ biểu hiện hung dữ hay gầm gừ nào của một loài ác thú.
Tôi đưa mắt nhìn sang mép bậc cầu thang gỗ bên cạnh chỗ nó nằm.
Vết cứa sắc lẹm đêm qua vẫn còn nằm nguyên ở đó. Thớ gỗ lộ ra màu đỏ sẫm dưới ánh mặt trời. Tôi đưa ngón tay trỏ chạm nhẹ vào rãnh cứa. Vết cắt sâu chừng nửa đốt ngón tay, thành vết thẳng băng và dứt khoát.
Nhìn kỹ lại cấu trúc của căn nhà, tôi tự trấn an bản thân rằng đây có thể là dấu vết do một chiếc đục hay lưỡi cưa của thợ mộc để lại từ mấy chục năm trước, hoặc là dấu vết trong lúc ông nội tôi dọn dẹp đồ nghề đào huyệt vô tình va quẹt vào mà bấy lâu nay tôi không để ý. Đêm qua, trong cơn hoảng loạn tột độ, ánh đèn pin chập chờn đã phóng đại sự nghi hoặc trong tôi lên gấp trăm lần.
Tôi thở phào một hơi dài, cảm thấy cả cơ thể nhẹ nhõm đi phần nào. Đêm qua hẳn là một chuỗi ác mộng tồi tệ do tác động của sự cô độc và căn nhà cổ quạnh quẽ này gây ra.
Tôi quyết định không để bản thân chìm đắm vào những suy nghĩ ma quái đó nữa. Tôi cần phải làm việc. Việc đầu tiên tôi phải hoàn thành hôm nay là dọn dẹp gian thờ họ Lê ở chính giữa căn nhà. Đã sáu tháng kể từ ngày ông nội Lê Văn Thừa mất tích bí ẩn, bàn thờ tổ tiên đóng một lớp bụi dày, bát hương lạnh lẽo không có lấy một nén nhang ấm cúng.
Tôi xắn tay áo lên quá khuỷu, đi lấy một chiếc xô nhựa múc đầy nước giếng khoan, mang theo chiếc khăn lau bằng vải xô cũ và một chiếc chổi đót.
Gian thờ nằm ở vị trí trang trọng nhất của ngôi nhà một trăm năm tuổi. Bốn cột gỗ mun lớn đen bóng đứng sừng sững nâng đỡ toàn bộ hệ thống vì kèo chạm trổ hoa văn rồng phượng tinh xảo. Bàn thờ chính làm bằng gỗ mít sơn son thếp vàng, nhưng qua thời gian dài ẩm thấp, lớp sơn son đã nứt nẻ bong tróc từng mảng lớn, để lộ cốt gỗ xám xịt bên trong. Phía trên hương án đặt ba chiếc bát hương bằng gốm da chu lươn lớn, tàn nhang trắng đục rụng đầy xung quanh chân đế.
Tôi bắt đầu công việc bằng việc dùng chổi đót quét sạch lớp mạng nhện giăng kín trên các hoành phi câu đối. Những dòng chữ Hán thếp vàng mang nội dung giáo huấn con cháu về đạo hiếu và cội nguồn tổ tiên dần hiện ra dưới lớp bụi đen. Khi quét đến bức di ảnh của cụ cố trên bàn thờ, tôi dừng tay lại, cẩn thận dùng khăn ẩm lau sạch mặt kính bám đầy muội khói.
Bàn thờ dòng họ Lê này có một điểm rất kỳ lạ mà từ nhỏ tôi đã thắc mắc nhưng chưa bao giờ dám hỏi ông nội.
Trên hương án chỉ thờ bài vị của đàn ông mang họ Lê qua nhiều đời. Hoàn toàn không có bất kỳ một bức di ảnh hay bài vị nào của phụ nữ. Bà nội tôi mất khi tôi còn chưa chào đời, nhưng ông Thừa chưa từng đặt di ảnh của bà lên bàn thờ này. Mẹ tôi qua đời trong một vụ tai nạn giao thông khi tôi lên năm tuổi, bài vị của mẹ cũng được gửi vào một ngôi chùa nhỏ ở quận Gò Vấp chứ không được mang về căn nhà tổ này.
Mỗi lần tôi gặng hỏi, ông nội đều chỉ im lặng, ánh mắt lạnh tanh nhìn ra khoảnh khắc hoàng hôn buông xuống con hẻm, buông đúng một câu cộc lốc: "Đàn bà họ Lê bạc mệnh, không gánh nổi linh khí của gian thờ này."
Lúc đó tôi còn quá nhỏ để hiểu hết hàm ý u ám đằng sau câu nói của ông. Bây giờ đứng một mình giữa gian nhà vắng, nhìn những dòng chữ khắc tên các bậc tiền nhân nam giới chết trẻ trong dòng họ, tôi bỗng cảm thấy một luồng ớn lạnh chạy dọc sống lưng.
Tôi nhúng khăn vào xô nước, vắt khô rồi cúi xuống lau chùi phần chân bàn thờ chạm nổi hình hổ phù dữ tợn.
Đúng lúc mặt tôi ghé sát xuống khoảng không gian bên dưới gầm hương án, một mùi hôi thối xộc thẳng vào mũi.
Mùi hương trầm ngào ngạt của những que nhang tôi vừa thắp lúc sáng không tài nào lấn át nổi luồng khí tanh nồng đang bốc lên từ phía sau bàn thờ. Đó là thứ mùi ẩm mốc trộn lẫn với mùi đất ướt thối rữa, ngai ngái và nồng nặc như mùi xác súc vật chết lâu ngày dưới cống rãnh. Mùi tử khí nồng đậm đến mức khiến cổ họng tôi lập tức co thắt lại, cảm giác buồn nôn trào ngược lên tận cuống họng.
Tôi bịt mũi lùi lại hai bước, ho sặc sụa.
"Khẹc... Khẹc..."
Mùi thối này không xuất phát từ thức ăn ôi thiu hay chuột chết thông thường. Nó mang theo một vị lạnh lẽo, tanh tưởi của đất sâu chôn cất người chết, thứ mùi mà những người từng đi bốc mộ hay cải táng mới có thể cảm nhận rõ ràng.
Tôi đưa mắt tìm kiếm nguồn gốc của mùi hôi.
Kê sát ngay phía sau gian thờ, chiếm trọn một góc lớn bên tay phải, là chiếc sập gụ khổng lồ.
Chiếc sập làm bằng gỗ gõ đỏ nguyên khối, bốn chân sập to như cột đình uốn cong hình chân quỳ, chạm trổ hoa văn vân mây sắc sảo. Chiếc sập này đã ở đây suốt cả thế kỷ, là nơi ông nội tôi thường ngồi tiếp khách, uống trà và ngủ nghỉ suốt những năm tháng cuối đời. Suốt sáu tháng ông mất tích, tôi chỉ phủ lên mặt sập một tấm vải bạt mỏng để chắn bụi mà chưa từng chạm vào hay dịch chuyển nó.
Mùi hôi thối tanh tưởi kia dường như phát ra từ chính khoảng trống hẹp giữa lưng chiếc sập gụ và bức vách gỗ phía sau.
Tôi tiến lại gần mép sập gụ. Lớp bụi dày trên mặt sập bám chặt lấy bề mặt ván, tạo thành một lớp màng xám xịt. Bên dưới gầm sập tối om om, ánh sáng ban ngày chỉ lọt vào được một khoảng ngắn chừng hai mươi phân.
Chắc chắn có con chuột cống hay con mèo hoang nào đó chui vào chết kẹt bên dưới gầm sập mà không ra được. Với thời tiết nóng ẩm của Sài Gòn, chỉ cần ba ngày là xác động vật sẽ rữa nát và bốc mùi kinh hoàng như thế này.
Tôi không thể sống chung với thứ mùi tử khí này được. Nếu không dọn sạch nó, cả ngôi nhà sẽ biến thành một nấm mồ ngột ngạt.
Tôi đặt chiếc xô nước sang một bên, cởi bỏ đôi dép lào đang đi dưới chân. Để dịch chuyển được một khối gỗ gõ đỏ nặng hàng trăm ký như thế này bằng sức của một người là điều vô cùng khó khăn, nhưng tôi không còn lựa chọn nào khác.
Tôi bước vòng sang phía cạnh bên của chiếc sập, hạ thấp người xuống, hai tay bám chặt vào mép gỗ dày cộm. Bề mặt gỗ lạnh buốt dù bên ngoài trời đã bắt đầu oi bức. Tôi dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể vào đôi chân, nghiến chặt răng, dùng hết sức bình sinh đẩy mạnh chiếc sập về phía trước.
"Ké...é...t!"
Tiếng gỗ nặng ma sát trên nền gạch tàu vang lên một chuỗi âm thanh chói tai, rợn người. Chiếc sập dịch chuyển được chừng năm phân thì khựng lại, nặng trịch như một tảng đá ngàn cân cắm rễ sâu vào lòng đất.
Bụi mù từ các khe hở bốc lên mù mịt, bay vào mắt mũi khiến tôi phải nhắm nghiền mắt lại, ho khù khụ.
Tôi điều chỉnh lại tư thế, hít sâu một hơi rồi lấy đà đẩy thêm một lần nữa. Lần này, tôi dùng vai tỳ thẳng vào cạnh sập, chân đạp mạnh xuống sàn gạch.
"Rắc... Ầm!"
Chiếc sập gụ trượt dài sang một bên chừng nửa mét, làm lộ ra toàn bộ khoảng sàn nhà bị che khuất suốt mấy chục năm qua.
Mùi tử khí tanh nồng lập tức bùng lên dữ dội, đặc quánh như một bức tường vô hình đổ sập vào mặt tôi. Tôi phải giơ vạt áo lên bịt chặt mũi miệng, lùi vội ra sau ba bước để tránh cơn buồn nôn đang dâng lên cuồn cuộn.
Dưới góc gầm cầu thang, con Khánh Hầu bỗng nhiên dừng việc liếm láp đĩa cơm nguội. Nó ngẩng phắt chiếc đầu gầy guộc lên, hai mắt mù đục hướng thẳng về phía chiếc sập vừa bị đẩy lệch. Toàn bộ cơ thể già nua của nó run rẩy dữ dội hơn, cổ họng phát ra những tiếng gầm gừ trầm đục, nghẹn ngào như đang cảnh báo một mối nguy hiểm chết người.
Tôi không để ý đến phản ứng của con chó. Cơn tò mò xen lẫn kinh ngạc đã lấn át toàn bộ nỗi sợ hãi trong tôi.
Tôi cầm chiếc chổi đót, bước lại gần khoảng sàn vừa lộ ra sau chiếc sập gụ.
Tại vị trí trung tâm nơi chiếc sập từng ngự trị, lớp gạch tàu màu đỏ đã biến mất.
Thay vào đó là một mảng sàn được ghép bằng những thanh gỗ lim đen nhánh, dày cộm, kích thước khoảng một mét vuông. Những thanh gỗ này được đóng ghép cẩn thận, phẳng lì với mặt sàn gạch xung quanh, nhưng qua thời gian dài bị sức nặng của chiếc sập đè nén, lớp bụi bẩn và cáu ghét đã phủ kín các đường ghép nối, khiến nó trông như một mảng sàn bình thường nếu chỉ nhìn lướt qua.
Tôi bước một chân lên mảng sàn gỗ lim để quét lớp bụi bặm sang một bên.
"Cục... kịch!"
Ngay khi bàn chân tôi vừa chạm xuống mép của tấm ván thứ ba, thanh gỗ bỗng nhiên bập bênh dưới sức nặng của tôi. Một tiếng kim loại rỉ sét va đập lanh lảnh vang lên từ dưới độ sâu hun hút của lòng đất, truyền qua thớ gỗ lên tận gan bàn chân tôi.
Tôi giật nảy mình, vội vàng rút chân lại.
Tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực. Tôi quỳ sụp xuống nền gạch, dùng ống tay áo gạt phăng lớp bụi đất đen ngòm bám trên bề mặt mảng gỗ.
Bên dưới lớp bụi, một tay nắm bằng sắt hình bán nguyệt hoen gỉ hiện ra, nằm chìm trong một hốc gỗ được đục đẽo tinh xảo. Xung quanh bốn cạnh của mảng gỗ lim là những đường rãnh cắt sắc gọn, tách biệt hoàn toàn mảng ván này ra khỏi hệ thống sàn nhà.
Đây là một cánh cửa sập. Một nắp hầm bí mật được giấu kín dưới chân sập gụ của ông nội tôi suốt ngót nghét cả thế kỷ.
Bên cạnh chiếc tay nắm sắt, một sợi xích to bản bằng thép đen ngòm, xù xì những mảng gỉ sét đỏ quạnh được luồn qua một chiếc khuyên sắt chôn chặt vào móng nhà bê tông. Sợi xích quấn chặt ba vòng quanh chốt cửa nắp hầm, khóa lại bằng một chiếc ổ khóa đồng kiểu cổ to bằng nắm tay người lớn.
Trên thân ổ khóa bám đầy một lớp dầu luyn đen đặc trộn lẫn với đất đỏ mịn màng, loại đất chỉ có ở những vùng gò đồi nghĩa địa xa xôi ngoài vùng ven thành phố.
Hơi lạnh từ các khe hở quanh nắp hầm phả lên buốt giá, mang theo mùi của đất sâu, mùi của vải liệm mục rữa và sự ẩm ướt nghẹt thở của một nấm mồ chưa từng thấy ánh mặt trời.
Tôi quỳ bất động bên cạnh sợi xích hoen gỉ, mắt dán chặt vào ổ khóa đồng đen ngòm.
Bên dưới căn nhà cổ trăm năm này, ngay dưới chỗ ông tôi từng nằm ngủ mỗi đêm, có một lối đi dẫn sâu vào lòng đất đen tối.