Quỷ Cẩu - Chương 5: Cuốn Sổ Tay Dưới Tấc Đất

Hơi lạnh bốc lên từ khe nắp hầm buốt ngắt, luồn qua kẽ ngón tay tôi khi tôi chạm vào sợi xích sắt. Thứ mùi tanh tưởi dưới lòng đất xộc thẳng vào cánh…

Nội dung chương

Hơi lạnh bốc lên từ khe nắp hầm buốt ngắt, luồn qua kẽ ngón tay tôi khi tôi chạm vào sợi xích sắt. Thứ mùi tanh tưởi dưới lòng đất xộc thẳng vào cánh mũi, hệt như mùi nước đọng đáy giếng hoang trộn lẫn với bùn non và rễ cây thối rữa. Tôi quỳ gối trên nền gạch tàu bám đầy bụi đỏ, hai đầu gối nhức buốt vì tỳ quá lâu xuống mặt sàn cứng.

Ổ khóa đồng to bản nằm im lìm giữa vòng xích, bên trên phủ một lớp đất đỏ mịn màng bám chặt vào từng đường ren kim loại. Loại đất ấy dẻo quánh, mang sắc đỏ thẫm của vùng gò đồi nghĩa địa ven thành phố chứ chẳng thể nào là lớp bùn cát của khu hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa. Tôi dùng đầu ngón tay cạo nhẹ, lớp đất khô bong ra từng mảng vụn, để lộ thân khóa đồng khắc chìm hình một con hổ ngậm kiếm đã mòn nhẵn.

Tôi đứng dậy, quay người bước nhanh về phía chái bếp sau nhà. Trong chiếc hòm sắt rỉ sét đựng đồ nghề sửa ống nước của ông nội, tôi tìm thấy một cây xà beng ngắn dài chừng nửa mét và một chiếc búa đinh nặng trịch. Tiếng bước chân của tôi nện cộc cộc trên sàn gạch vắng lặng. Dưới gầm cầu thang, con Khánh Hầu vẫn nằm bẹp dí trên chiếc bao tải rách, nhưng hai cái tai cụp của nó dựng đứng lên, chiếc mũi đỏ hồng phập phồng liên hồi hướng về phía gian thờ. Đôi mắt mù đục xám xịt của nó nhìn trân trân vào khoảng không trước mặt, bốn chân co quắp run lên bần bật từng chập.

Tôi không nhìn nó nữa. Mối nghi ngờ bùng cháy trong lồng ngực thôi thúc tôi phải mở toang nắp hầm này ra bằng mọi giá.

Trở lại trước sập gụ, tôi chèn mũi nhọn của cây xà beng vào giữa hai mắt xích thép đang siết chặt lấy chốt nắp hầm. Kim loại chạm nhau kêu tanh tách. Tôi lấy đà, ghì hai tay đè mạnh đuôi xà beng xuống sàn gạch.

"Rắc!"

Một mắt xích rỉ sét bị lực bẩy uốn cong nhưng vẫn chưa đứt hẳn. Tôi vơ lấy chiếc búa đinh, nghiến răng nện thẳng ba nhát liên tiếp vào phần chốt khóa đã mục nát.

"Keng! Keng! Choang!"

Tiếng búa đập xé toạc không gian tĩnh mịch của căn nhà cổ trăm năm. Chấn động mạnh làm lớp bụi vôi từ xà gồ trên trần rụng lả tả xuống tóc, xuống vai tôi. Ổ khóa đồng vỡ toác làm đôi, văng ra mép chân sập gụ. Sợi xích thép tuột khỏi chốt sắt, rơi rổn rảng xuống tấm ván gỗ lim đen nhánh.

Tôi vứt chiếc búa sang một bên, đưa hai tay nắm lấy chiếc quai sắt hình bán nguyệt gắn chìm trên nắp hầm. Tấm gỗ lim dày cộm nặng ước chừng bốn, năm chục ký. Tôi dồn trọng lượng xuống đôi gót chân, thở hắt ra một hơi dài rồi dùng hết sức bình sinh giật mạnh nắp hầm ngược lên phía sau.

"Ầm!"

Cánh cửa sập bật mở toang, đổ vật ra mặt sàn gạch tàu, làm bắn tung tóe những hạt bụi đen ngòm tích tụ suốt mấy mươi năm.

Một luồng khí lạnh ngắt kèm theo mùi ẩm mốc nồng nặc lập tức thốc ngược lên mặt tôi. Đó là mùi của đất sâu bị chôn chặt không thấy ánh mặt trời, quyện với mùi dầu hỏa, mùi rỉ sét kim loại và một mùi tanh tao khó tả xộc thẳng vào cuống họng khiến tôi phải nghiêng đầu nôn khan một tiếng.

Tôi bật chiếc đèn pin cầm tay, hạ thấp người soi xuống miệng hầm.

Bên dưới là một khoảng không gian đen ngòm rộng chừng mười lăm mét vuông, sâu khoảng hai mét so với mặt sàn tầng trệt. Một chiếc cầu thang bằng xi măng xám xịt gồm bảy bậc dốc đứng dẫn thẳng xuống lòng đất. Các bậc thang đóng rêu xanh trơn trượt, hai bên vách tường xây bằng gạch thẻ đã bong tróc từng mảng lớn, để lộ ra những đường mạch vữa mủn nát như cát vụn.

Dưới góc chân cầu thang, con Khánh Hầu bỗng buông ra một tiếng rên rỉ uất nghẹn từ đáy cổ họng. Nó không sủa, chỉ có tiếng thở dốc phì phò đứt quãng và tiếng móng chân cào sột soạt trên lớp bao gai ẩm ướt.

Tôi hít một hơi thật sâu, nắm chặt cây xà beng ở tay phải, tay trái cầm đèn pin rồi đặt bước chân đầu tiên xuống bậc thang xi măng.

Không khí ngột ngạt bao trùm lấy tôi theo từng bậc thang đi xuống. Độ ẩm dưới lòng đất dính ráp vào da thịt, lạnh thấu qua lớp áo phông mỏng manh. Khi hai bàn chân tôi chạm hẳn vào nền đất nện cứng quắc dưới đáy hầm, một cảm giác rợn gáy chạy dọc từ thắt lưng lên tận đỉnh đầu.

Tôi lia chùm sáng đèn pin quét một vòng quanh căn hầm ngầm.

Bốn bức tường gạch loang lổ những vệt nấm mốc trắng xóa. Giữa gian hầm kê một chiếc bàn gỗ tạp đã mục rỗng chân, mặt bàn đóng một lớp bụi dày đến nửa lóng tay. Trên vách tường đối diện chiếc bàn, ánh sáng đèn pin chiếu rọi vào một cảnh tượng khiến chân tôi như chôn chặt xuống nền đất lạnh.

Hàng chục chiếc cuốc, xẻng bọc thép được xếp ngay ngắn dựa dọc theo chân tường. Những lưỡi xẻng đều là loại thép dày chuyên dụng, đầu xẻng mài vát nhọn hoắt nhưng mép kim loại đã mẻ lởm chởm do va chạm với đá ngầm và rễ cây lớn. Trên từng lưỡi cuốc, lưỡi xẻng, lớp đất đỏ quánh vẫn còn bám chặt khô cứng, ken dày thành từng tảng dày cộp. Bên cạnh đống xẻng là năm cây xà beng dài bằng sắt phi hai mươi lăm, hai đầu uốn cong hình lưỡi cày, đầu nhọn trầy xước bóng loáng những vệt cọ xát với nắp bê tông.

Trên góc vách bên phải, mấy cuộn dây thừng bện bằng sợi gai dầu to bằng bắp tay nằm cuộn tròn trên sạp gỗ mục, các đầu dây tước ra xơ xác và bám đầy vụn vải xô xám xịt. Bên cạnh là ba chiếc đèn măng-sông kiểu cổ vỏ sắt đã rỉ sét lỗ chỗ, cùng một đống bao tải dứa màu xanh rách nát vứt ngổn ngang dưới góc tường.

Tôi bước lại gần một lưỡi xẻng, cúi người dùng ngón tay quệt thử lớp đất bám trên mặt thép. Đất đỏ bazan khô khốc, tanh nồng mùi rễ cây mục và mùi khoáng chất của những huyệt mộ sâu dưới tầng đất ngậm nước.

Từ nhỏ đến lớn, ba tôi và họ hàng trong gia tộc luôn nói rằng ông nội Lê Văn Thừa từng làm nghề bốc thuốc nam và đi coi bói dạo khắp các tỉnh miền Tây rồi mới dạt về Sài Gòn mua lại căn nhà cổ này. Ai cũng bảo những chuyến đi biền biệt thâu đêm suốt sáng của ông là để tìm cây thuốc quý trên các gò đồi, hoặc sang các vùng lăng mộ cổ để tìm địa cuộc phong thủy cho người ta. Không một ai trong gia đình nhắc đến đống công cụ đào bới nặng nề này. Người bốc thuốc cứu người chẳng đời nào cần đến những lưỡi xẻng mẻ cong queo, những thanh xà beng vấy máu rỉ sét và hàng đống bao tải dứa nồng nặc mùi mốc meo như thế này.

Chùm sáng của chiếc đèn pin trượt dần lên phía trên vách tường gạch mục.

Ở ngay giữa khoảng tường cao ngang tầm mắt người lớn, một chiếc đinh sắt to bản cắm sâu vào mạch vữa.

Treo trên chiếc đinh ấy là một chiếc nón lá rách bươm.

Vành nón bung gãy gần hết, chỉ còn trơ lại những nan tre xơ xác đan chéo vào nhau. Toàn bộ chóp nón nứt toác, các lớp lá cọ phủ bên ngoài đã mủn nát, ngả sang màu xám ngoét của nấm mốc và khói ám lâu ngày. Quai nón làm bằng một dải vải tang xô màu trắng ngả vàng, thắt nút lỏng lẻo treo lơ lửng giữa vách tường lạnh lẽo.

Đó là một chiếc nón mê.

Hình dáng và kích thước của nó giống hệt như chiếc nón rách nát mà tôi đã nhìn thấy trên đầu cái bóng trắng đứng trên đòn dông nóc nhà lúc ba giờ sáng.

Cơn ớn lạnh chạy rần rần dưới da thịt khiến các sợi lông tơ trên cánh tay tôi dựng đứng lên. Tôi lùi lại một bước, lồng ngực đập thình thịch những nhịp gấp gáp nghẹt thở. Căn hầm này không đơn thuần là nơi chứa đồ cũ của một ông lão neo đơn. Nó là một mật thất được thiết kế kín kẽ ngay dưới lòng bàn thờ tổ tiên họ Lê, nơi chôn giấu những bí mật rợn người mà ông nội tôi đã mang theo suốt cả một đời người.

Dưới chân chiếc nón mê rách rưới, trên mặt chiếc bàn gỗ tạp phủ bụi, có một chiếc tráp bằng gỗ mun đen bóng nằm im lìm. Chiếc tráp không khóa, nắp gỗ hé mở một khe hẹp chừng nửa đốt ngón tay.

Tôi bước lại gần chiếc bàn, tiếng đất nện lạo xạo dưới đế giày cao su vang lên rợn người trong không gian kín mít. Tôi đặt cây xà beng xuống mặt bàn rồi giơ bàn tay run rẩy chạm vào nắp tráp gỗ mun. Bản lề đồng phát ra tiếng rít khô khốc khi tôi nhấc hẳn nắp hộp lên.

Bên trong tráp không có vàng bạc hay giấy tờ nhà đất.

Chỉ còn một cuốn sổ tay khổ hẹp bằng bàn tay, bìa bọc da bò màu nâu sẫm đã sờn rách bốn góc, bị ẩm mốc ăn lẹm từng mảng lớn. Bên cạnh cuốn sổ là một cây bút máy ngòi kim tinh mạ vàng đã cạn kiệt mực và một con dao bấm nhọn hoắt cán bọc sừng trâu.

Tôi với tay nhấc cuốn sổ bìa da ra khỏi đáy tráp. Bìa da lạnh ngắt và ẩm ướt như da của một loài bò sát. Tôi lật nhẹ trang bìa đầu tiên.

Chất giấy dó ngả sang màu vàng vượn bốc lên mùi ẩm mục nồng nặc. Trên trang giấy đầu tiên, nét chữ viết tay bằng mực Tàu đen nhánh hiện ra ngay ngắn, dứt khoát nhưng sắc cạnh đến rợn người. Đó chính là nét chữ của ông nội tôi - nét chữ nghiêng nghiêng sắc lẹm mà tôi từng thấy trên những tờ gia phả họ Lê treo trên gian thờ chính.

Dòng chữ đầu tiên ghi năm một ngàn chín trăm bảy mươi tám.

Tôi lật tiếp sang trang thứ hai. Trước mắt tôi không phải là những phương thuốc bốc lá cây hay những bài vị thuốc bắc trị chứng phong thấp, đau lưng mà ba tôi vẫn thường kể lại bằng giọng tôn kính.

Từng trang, từng trang giấy dày đặc những dòng nhật ký ghi chép cặn kẽ ngày, giờ, địa điểm và sơ đồ chi tiết của hàng trăm ngôi mộ.

"Ngày mười bốn tháng bảy năm Kỷ Mùi. Gò Mả Vôi, Lái Thiêu. Đào mả đất của lái buôn người Tiều. Đào sâu một sải tay lúc một giờ sáng. Nắp ván mục, lấy được ba chiếc vòng ngọc phỉ thúy, hai xâu tiền đồng thời Càn Long. Trả nợ tiền gạo."

"Đêm hăm chín tháng chạp năm Canh Thân. Đất nghĩa trang Bình Hưng Hòa, khu mộ gió không người thăm nom. Đào lúc trời chuyển mưa dầm ba giờ sáng. Ván lim còn nguyên, phá nắp quan tài bằng xà beng thép. Người chết mang hàm răng vàng bọc bạc. Đục lấy bốn chiếc răng nanh. Thuốc phiện hết, tay run không cầm nổi cán xẻng."

"Ngày mùng sáu tháng sáu năm Quý Hợi. Khu gò cao miếu Cây Da. Đào trộm mộ táng ba năm của cô gái trẻ chết trôi sông. Nước ngập ngang ống chân, xác chưa rữa hết. Lấy đôi hoa tai vàng tây gắn đá đỏ."

Từng dòng chữ viết bằng mực Tàu sắc lẹm như những nhát xẻng xới tung tâm trí tôi. Tôi đứng chết lặng giữa căn hầm tăm tối, hai bàn tay run lẩy bẩy làm cuốn sổ va đập lách tách vào các khớp ngón tay.

Ông nội tôi không phải là thầy thuốc nam. Ông nội tôi không phải là người coi bói dạo đi tích đức cho đời.

Suốt gần bốn mươi năm của nửa đời trước, ông tôi là một kẻ đào mả trộm. Ông đã cầm những chiếc xẻng thép, những cây xà beng này đi xới tung những nấm mồ vô danh giữa đêm hôm khuất bóng, cạy nắp quan tài, cướp đoạt đồ tùy táng của những oan hồn nằm dưới tấc đất lạnh để kiếm sống và nuôi dưỡng gia đình. Căn nhà cổ trăm năm ở hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa này, những cây cột gỗ lim đen bóng, chiếc sập gụ đắt tiền và sự ấm êm của dòng họ Lê suốt mấy thập kỷ qua đều được dựng xây từ những đồng tiền nhơ bẩn moi lên từ các xác chết mục rữa.

Tôi cắn chặt môi đến mức nếm được vị tanh nồng của máu, ngón tay run rẩy lật nhanh qua từng trang sổ ố vàng. Càng về những trang sau, nét chữ của ông nội càng trở nên run rẩy, xộc xệch và hoảng loạn.

Mực Tàu đen dần biến mất, thay vào đó là những vệt mực máy màu tím nhòe nhoẹt bởi những giọt nước mắt hoặc mồ hôi rơi xuống mặt giấy.

Tôi lật đến phần cuối cùng của cuốn sổ, nơi những trang giấy bị vo nhàu rồi vuốt phẳng lại một cách vụng về. Ngày tháng ghi trên đầu trang là ngày mười lăm tháng mười năm hai ngàn linh ba - đúng hai mươi năm trước, năm con Khánh Hầu được mang về căn nhà này.

Nét chữ trên trang giấy này cào xước mặt giấy đến rách toạc:

"Nghiệp báo đã đến cửa rồi. Trời không tha cho dòng giống họ Lê nữa."

"Đêm mười bốn tháng mười, tại gò đất hoang ven sông Sài Gòn vùng An Phú Đông. Tao cùng hai thằng bạn đào huyệt đụng phải một ngôi mộ vô danh không bia cọc, chôn sâu ba mét dưới gốc cây me mục. Vừa nạy nắp ván thiên, mùi máu tươi xộc lên tanh nồng chứ không có mùi thối rữa của tử thi. Bên trong không có vàng ngọc, chỉ có một bộ xương người chết co quắp, hai bàn tay bị đóng đinh sắt gỉ xuyên qua khớp xương."

"Dưới đáy ván lót quan tài, một con chó con lông trắng muốt như tuyết, cái mũi đỏ hồng như miếng thịt tươi vừa lọt lòng mẹ nằm co ro trên lớp vải liệm đỏ lòm. Nó sinh ra đúng vào giờ Thìn, mắt chưa mở nhưng miệng đã ngậm chặt một chiếc mẩu xương ngón tay người chết."

"Hai thằng bạn đào huyệt cùng tao đã hộc máu chết tươi ngay trên miệng huyệt trong vòng bảy ngày sau đó. Một thằng trượt chân ngã gãy cổ dưới cống nước, một thằng tự lấy dao bầu cắt đứt cuống họng giữa chợ."

"Tao biết tao đã đào trúng mả oan của kẻ bị nguyền rủa. Con súc sinh lông trắng mũi đỏ sinh vào giờ Thìn trong đáy huyệt chính là Quỷ Cẩu. Oan hồn người chết đã mượn xác nó để theo tao về tận cửa nhà. Nghiệp đào mả đoạt của đã vận vào máu tủy, dòng họ Lê từ đời này trở đi sẽ mắc phải đại họa tuyệt tự. Đàn ông trong nhà sẽ đau ốm, chết bất đắc kỳ tử hoặc lục đục tương tàn chém giết lẫn nhau cho đến khi không còn một mống nối dõi."

"Tao không dám giết nó. Giết Quỷ Cẩu thì cả nhà chết ngay tức khắc. Tao phải đem nó về nuôi bằng cơm cúng và nước tro bếp, đặt tên là Khánh Hầu để ngày đêm cầu xin oan hồn tha mạng. Nhưng nó không già đi, nó chỉ đợi ngày tao kiệt sức để đoạt mạng cả nhà."

Những trang giấy tiếp theo chi chít những dòng chữ viết đè lên nhau, mực đỏ son quệt ngang dọc như những vết rạch rợn người:

"Tao đã thấy nó trèo lên đòn dông nóc nhà. Đêm rằm nào nó cũng đội chiếc nón mê rách của người chết, ngậm con dao bầu mài sắc nhìn xuống giường tao. Nó đang đợi thằng Khải lớn lên. Máu thịt của dòng họ Lê phải đền mạng cho từng tấc đất tao đã xới."

"Khải ơi, nếu con đọc được cuốn sổ này thì ông nội đã không còn trên cõi đời nữa. Ông phải tự mình rời khỏi căn nhà này, tự đem thân mình đi chôn sống ở một nơi thật xa để cắt đứt sợi dây oan nghiệt của Quỷ Cẩu. Nhưng con phải cẩn thận... Nó vẫn ở lại căn nhà này. Nó chưa ăn đủ mạng người họ Lê thì nó sẽ không bao giờ buông tha..."

Trang giấy cuối cùng kết thúc đột ngột bằng một vệt máu khô đen thẫm kéo dài từ góc trang sách xuống mép dưới, không còn thêm một lời trăn trối nào nữa.

Bàn tay tôi run lẩy bẩy buông rơi cuốn sổ da xuống mặt bàn gỗ tạp mục nát.

"Bịch!"

Tiếng rơi nặng trịch vang lên giữa căn hầm tăm tối. Tai tôi ù đi như có hàng ngàn con ve sầu đang gào thét bên trong màng nhĩ. Toàn bộ những ký ức tuổi thơ êm đềm về người ông nội hiền từ, mẫu mực, người luôn ngồi bên ấm trà sen kể chuyện nhân nghĩa bỗng chốc vỡ vụn thành trăm ngàn mảnh gai nhọn cào xé tâm can tôi.

Người đàn ông ấy là một kẻ đào trộm mả.

Và con chó già mù lòa nằm dưới gầm cầu thang - con vật mà tôi vừa cho ăn cơm nguội chiều nay - chính là con quỷ sinh ra từ đáy huyệt mộ của người chết hai mươi năm trước.

Một tiếng cào xột xoạt sắc lẹm bỗng nhiên vang lên từ phía trên đỉnh đầu tôi.

Tiếng động không phát ra từ dưới căn hầm này.

Nó phát ra từ miệng hầm vừa mở toang trên gian thờ tầng trệt. Tiếng móng chân cào lách cách trên nền gạch tàu đỏ quạnh, chầm chậm tiến từng bước về phía miệng nắp hầm mở rộng.

Tôi ngước mắt nhìn lên.

Chùm sáng đèn pin quét ngược lên cầu thang bảy bậc.

Tại bậc thang trên cùng, dưới ánh sáng vàng vọt hắt ngược từ lòng đất, chiếc đầu gầy guộc của con Khánh Hầu đang thò ra ngoài mép sàn gỗ lim. Hai hốc mắt mờ đục xám xịt của nó cúi gập xuống, trừng trừng nhìn thẳng vào tôi nơi đáy hầm sâu buốt.

Và trên khóe miệng nhăn nheo đỏ hồng của nó, một giọt nước dãi sủi bọt trắng xóa đang chầm chậm nhỏ xuống từng giọt, rớt lộp độp trên bậc thang xi măng lạnh ngắt.

Chương khác

Xem thêm