Quỷ Cẩu - Chương 3: Chiếc Nón Mê Và Con Dao Bầu

Gió đêm từ con hẻm sâu luồn qua khe chớp gỗ rít lên từng hồi u uất. Tôi đứng chôn chân bên bệ cửa sổ, hai bàn tay bấu chặt vào gờ gỗ mục đến mức móng tay…

Nội dung chương

Gió đêm từ con hẻm sâu luồn qua khe chớp gỗ rít lên từng hồi u uất. Tôi đứng chôn chân bên bệ cửa sổ, hai bàn tay bấu chặt vào gờ gỗ mục đến mức móng tay ghim sâu vào lớp dăm dằm buốt nhói. Cảm giác đau đớn thể xác ấy kéo tôi về với thực tại, nhưng cái lạnh đang bóp nghẹt lồng ngực thì không cách nào xua đi được.

Hơn hai mươi ngày mất ngủ triền miên khiến đầu óc tôi luôn ở trạng thái căng như dây đàn. Mỗi khi nhắm mắt lại, những mảng màu đồ họa cùng tiếng chuông báo hạn nộp bản vẽ lại nhảy múa loạn xạ trong đầu. Tôi tự nhủ rằng mắt mình đang bị hoa, hoặc giả thần kinh suy nhược quá độ đã tạo ra một ảo ảnh quái đản từ những bóng cây và lớp ngói xô lệch trên nóc nhà.

Có thể đó là một kẻ trộm. Một gã đàn ông lẻn vào từ phía những rặng chuối sau đình miếu, trèo lên mái nhà để tìm đường đột nhập qua giếng trời. Khu hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa này vốn phức tạp, dân tứ xứ tụ về buôn bán quanh chợ Bà Chiểu đông đúc, trộm cắp leo nóc nhà không phải chuyện hiếm gặp. Kẻ đó có thể đang mặc một chiếc áo mưa ni-lông màu trắng đục, đứng thẳng người để dò xét địa hình trước khi cạy ngói chui xuống.

Tôi cố bám víu vào lời giải thích hợp lý ấy. Ngực tôi phập phồng, mắt vẫn dán chặt vào khe hở nhỏ xíu giữa hai nan chớp gỗ.

Nhưng cái bóng trắng đứng trên đỉnh đòn dông không hề có đường nét của một con người.

Nó không cử động theo cách của kẻ trộm rình mò. Đôi chân sau của nó dài ngoằng, cắm chặt móng vuốt vào hai mép ngói âm dương rêu phong, tạo thành một góc đứng vững chãi đến mức quái đản. Tấm lưng của nó thẳng đứng, phủ một lớp lông xù dày cộp, trắng bệch dưới ánh đèn đường vàng vọt hắt lên từ đầu ngõ. Lớp lông ấy ướt rượt sương đêm, bết lại thành từng cụm nhọn hoắt như những chiếc gai nhím.

Gió bỗng nhiên ngừng bặt. Cả con hẻm cổ chìm vào một thứ im lặng ngột ngạt đến phát điên.

Rồi, sinh vật trên nóc nhà bắt đầu chuyển động.

Nó không quay cả thân mình lại. Đôi chân sau vẫn cắm phập vào sống ngói, hai cẳng trước buông thõng xuống hai bên sườn như hai cánh tay dị dạng của một đứa trẻ khẳng khiu. Cổ của nó vặn dần sang một bên. Từng đốt xương cổ chuyển dịch chậm chạp, phát ra những tiếng lục cục khô khốc vọng qua màn đêm tĩnh mịch, hệt như tiếng củi khô bị bẻ gãy từng đoạn dưới chân bàn thờ.

Đầu nó xoay trọn một nửa vòng tròn, hướng thẳng mặt về phía khung cửa sổ buồng ngủ của tôi.

Toàn bộ máu trong người tôi dồn ngược lên thái dương, hai tai lùng bùng một tràng âm thanh chói gắt. Tôi ngạt thở, hai hàm răng va vào nhau lập cập không tài nào khống chế nổi.

Đó là đầu của một con chó.

Trên đỉnh chiếc đầu sọ nhọn hoắt ấy chụp một chiếc nón lá rách nát đến tàn tạ. Từng mảnh nan tre bung ra, chĩa tua tủa vào không trung như những ngón tay khô gầy của người chết. Chóp nón bị thủng một lỗ lớn, để lộ chỏm lông trắng bết dính máu bầm khô đen bên dưới. Chiếc nón mê rách rưới nghiêng hẳn sang một bên tai chó, dập dềnh theo từng nhịp thở nặng nề của con thú vật.

Hai hàm răng sắc nhọn của nó cắn chặt một vật bằng kim loại to bản.

Đó là một con dao bầu.

Lưỡi dao thép bản rộng hoen ố những vệt gỉ sét sẫm màu, nhưng phần lưỡi cắt lại được mài sắc ngọt, sáng loáng dưới thứ ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn đường. Con thú ngậm ngang cán gỗ quấn dây kẽm của dao bầu, đầu mũi dao hơi chúc xuống, phản chiếu một tia sáng lạnh lẽo ghim thẳng vào mắt tôi qua khe nan chớp.

Nước dãi đục ngầu từ khóe miệng nhọn hoắt của nó nhỏ từng giọt đặc quánh xuống sườn mái ngói. Mỗi giọt chất lỏng rơi xuống mái tôn nhà bên cạnh đều vang lên một tiếng "tách" rợn người, nặng trịch tựa như giọt máu tươi vừa rỏ ra từ một vết thương hở miệng.

Kinh hoàng nhất là đôi mắt của nó.

Đôi mắt con vật không mang màu nâu đục lờ đờ của loài chó già thông thường. Hai hốc mắt sâu hoắm rực lên hai đốm đỏ au, đỏ rực như hai hòn than đang cháy rừng rực trong lò thiêu. Ánh mắt ấy sắc lẹm, mang một vẻ tàn độc và thù hận vô bờ bến, xuyên thủng qua bóng đêm, ghim chặt lấy khuôn mặt tôi phía sau khung chớp gỗ.

Nó biết tôi đang đứng ở đây. Nó biết tôi đang nhìn nó qua khe hở này.

Hai chân tôi nhũn ra, mất hết cảm giác. Tôi muốn giật lùi lại, muốn ngã nhào xuống sàn gỗ để trốn chạy khỏi cái nhìn khủng khiếp ấy, nhưng toàn bộ cơ bắp đã đông cứng lại thành một khối đá. Một luồng hơi lạnh từ nóc nhà tràn xuống, bao bọc lấy khung cửa, kéo theo mùi tanh tưởi của bùn ao thối rữa quyện lẫn mùi thịt thối lâu ngày.

Mép môi con quái vật bỗng giật giật. Hai mép thịt tróc vảy kéo xếch lên phía hai bên tai, để lộ những chiếc răng nanh trắng ởn kẹp chặt lấy thân dao sắt.

Nó đang cười. Một nụ cười nhạo báng, độc ác của một loài ác quỷ vừa tìm thấy kẻ thế mạng.

Mắt tôi cay xè vì nhìn trừng trừng vào bóng tối quá lâu mà không dám chớp. Trong cơn hoảng loạn tột độ, một giọt mồ hôi lạnh chảy dài từ trán xuống mi mắt, làm cay rát nhãn cầu. Theo phản xạ tự nhiên của cơ thể, tôi khẽ chớp mắt một cái để xua đi sự nhức nhối.

Khoảng tối mịt mờ vừa lướt qua trong một cái nháy mắt.

Khi tôi mở to mắt ra nhìn lại, đỉnh đòn dông đã trống trơn.

Bóng trắng khổng lồ đội nón mê, ngậm dao bầu biến mất tăm. Không có tiếng ngói xô xát, không có tiếng móng vuốt cào trên bề mặt nhám, cũng chẳng có tiếng nhảy xuống đất.

Chỉ còn lớp sương đêm đục ngầu lờ lững trôi ngang qua những hàng ngói máng âm dương phủ đầy rêu xanh. Con dao bầu biến mất, chiếc nón mê rách bươm biến mất, và hai đốm lửa đỏ ngầu cũng lặn vào bóng tối như chưa từng xuất hiện trên cõi đời này.

Gió đêm lại thổi qua, lay động tàu lá sake bên ngoài bờ tường kêu xào xạc. Tiếng còi xe máy từ trục đường Phan Đăng Lưu xa xa vọng lại đứt quãng, chứng minh thế giới ngoài kia vẫn đang vận hành bình thường.

Tôi thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực co rút lại đau điếng. Hai đầu gối lập tức quỵ xuống sàn gỗ, toàn thân tôi run rẩy dữ dội. Hai bàn tay tôi chống xuống sàn nhà ướt đẫm mồ hôi lạnh, nhịp tim đập dồn dập đến mức tôi tưởng chừng xương sườn sắp gãy vụn.

"Chó đội nón mê..."

Cái tên ấy bất thần dội lại trong trí nhớ tôi, sắc nhọn như một nhát dao chém ngang qua đầu.

Hồi tôi còn là một đứa trẻ mười tuổi chạy nhảy ở gian nhà trước, trong những đêm mưa rả rích bên ấm trà mạn, ông nội tôi - ông Lê Văn Thừa - từng trầm ngâm kể cho những người phu đào huyệt già nghe về thứ truyền thuyết rùng rợn này. Ông bảo, ở những vùng đất cổ, có những con chó nuôi lâu năm trong nhà bỗng sinh ra dị tật: lông trắng toát từ đầu đến đuôi, bốn chân có móng sắc, mũi đỏ hồng như miếng thịt tươi, sinh đúng vào giờ Thìn. Khi căn nhà vướng phải đại hạn hoặc chủ nhà mang nghiệp chướng sâu nặng với người cõi âm, con chó ấy sẽ hóa thành Quỷ Cẩu.

Đêm đêm, nó trèo lên đòn dông nóc nhà, đứng thẳng bằng hai chân sau như người sống, đầu đội nón mê rách, mõm ngậm dao nhọn quay về hướng cửa chính mà tru trỉa. Đêm nào Quỷ Cẩu xuất hiện trên nóc nhà, thì đêm ấy ngôi nhà bắt đầu đếm ngược đến ngày tuyệt tự. Người trong nhà sẽ lần lượt lâm bệnh hiểm nghèo, hóa điên hóa dại, lục đục tranh giành rồi đâm chém lẫn nhau cho đến khi dòng họ không còn một mống nào sống sót.

Hồi đó, tôi chỉ coi lời ông kể là chuyện dọa trẻ con quấy khóc ban đêm. Làm sao có thể tin một con vật bốn chân lại biết đứng thẳng, biết đội nón lá và ngậm dao bầu leo lên mái ngói dốc đứng?

Nhưng hình ảnh quái dị vừa rồi vẫn còn in hằn nguyên vẹn trên võng mạc tôi. Con thú ấy to lớn gấp đôi một con chó bình thường, cái nón mê nan tre chĩa ngược, con dao sắt loang lổ vết hoen ố, và hai con mắt đỏ au như máu.

"Không thể nào... Đó chỉ là ảo giác. Mày mất ngủ quá lâu rồi, Khải. Mày sắp phát điên vì mấy cái bản vẽ chết tiệt đó rồi..."

Tôi lẩm bẩm một mình, giọng nói run rẩy lạc đi giữa căn buồng gỗ hoang lạnh. Tôi cố vin vào sự tỉnh táo mong manh của một thanh niên sống giữa thành phố hoa lệ thời hiện đại. Một gã thiết kế đồ họa 28 tuổi không thể để bản thân bị một câu chuyện ma dân gian dọa cho mất trí.

Nhưng nếu nó là thật thì sao?

Nếu cái bóng trắng trên nóc nhà lúc nãy chính là con Khánh Hầu?

Một luồng khí lạnh chạy dọc từ xương cụt lên tận gáy. Khánh Hầu là con chó của ông nội tôi. Nó đã sống trong căn nhà này suốt hai mươi năm ròng, một độ tuổi quá dài cho một con chó cỏ thông thường. Lông nó trắng muốt. Mũi nó đỏ au. Và ban nãy, chính mắt tôi thấy nó bới một khúc xương người ở khoảng sân sau nhà.

Tôi cắn chặt môi dưới cho đến khi nếm thấy vị mằn mặn của máu. Tôi phải tận mắt kiểm tra. Nếu không bước xuống nhà dưới để xác minh xem con chó già đang ở đâu, đêm nay tôi sẽ phát điên trong căn phòng này. Nỗi sợ mơ hồ sẽ gặm nhấm tôi từng chút một cho đến khi trời sáng.

Tôi gượng đứng dậy, hai chân vẫn còn bủn rủn. Tôi vươn tay chộp lấy chiếc đèn pin vỏ nhôm cũ kỹ để trên đầu giường, loại đèn pin dùng ba viên pin đại mà ông nội để lại trong ngăn kéo. Tôi bấm công tắc, một luồng ánh sáng vàng vọt quét ngang qua căn buồng tối, chiếu sáng những cột gỗ lim đen bóng và những vết nứt nẻ trên tường vôi.

Tôi mở chốt cửa buồng ngủ. Tiếng then gỗ cọ vào ổ trượt phát ra âm thanh ken két chói tai giữa đêm khuya.

Hành lang gác lửng tối om. Không khí bên ngoài buồng ngủ lạnh buốt hơn hẳn, mang theo thứ mùi ẩm mốc đặc trưng của một căn nhà cả trăm năm tuổi không có hơi đàn bà chăm sóc. Tôi bám tay vào lan can gỗ mun, soi đèn pin dò dẫm từng bước về phía cầu thang dẫn xuống tầng trệt.

Cầu thang gỗ này rất dốc, mỗi bậc thang đều hẹp và nhẵn thín vì dấu chân của bao thế hệ đi lại. Tôi bước nhẹ nhất có thể, nhưng lớp ván gỗ già cỗi vẫn phát ra những tiếng răng rắc trầm đục dưới mỗi bước chân tôi.

"Kẽo kẹt... kẽo kẹt..."

Âm thanh ấy vang vọng trong không gian trống trải của gian nhà chính, nghe như tiếng bước chân của một kẻ vô hình đang bám sát ngay sau lưng tôi. Tôi bất giác quay ngoắt đèn pin lại phía sau. Chỉ có khoảng tối đen ngòm của căn gác lửng và những cột nhà im lìm đứng sững.

Tôi nuốt khan, tiếp tục bước xuống.

Tầng trệt của ngôi nhà cổ chìm trong bóng đêm dày đặc. Luồng sáng từ chiếc đèn pin trên tay tôi chỉ cắt được một khoảng hẹp hình tròn trên nền gạch tàu đỏ quạch phủ đầy bụi bặm. Gian thờ họ Lê nằm sừng sững ở giữa nhà, chiếc sập gụ lớn đen nhánh như một cỗ quan tài khổng lồ nằm im lìm dưới chân bàn thờ tổ tiên. Trên hương án, đôi hạc đồng đứng trên lưng rùa trừng trừng nhìn vào khoảng không vô định.

Tôi hạ thấp luồng ánh sáng đèn pin xuống mặt đất, quét chầm chậm quanh chân các cột nhà.

Không có con dao nào rơi vãi trên sàn gạch. Không có vết máu hay vệt bùn ướt.

Chỉ còn tiếng tích tắc khô khốc của chiếc đồng hồ quả lắc treo tường điểm từng giây nặng nhọc. Kim đồng hồ chỉ ba giờ hai mươi lăm phút.

Tôi bước về phía gầm cầu thang.

Đó là một góc tối tăm và ẩm thấp nhất trong ngôi nhà, nơi ông nội tôi thường ngày vẫn để những chiếc bao tải cũ đựng đồ nghề đào huyệt, mấy cái xẻng sắt cùn mòn và chiếc rổ tre đựng cơm nguội cho con chó. Khánh Hầu thường nằm ngủ ở đó suốt hai mươi năm qua.

Khi mũi giày của tôi chạm vào góc chân cầu thang, chiếc đèn pin trên tay tôi bỗng nhiên chập chờn. Vệt sáng vàng nhấp nháy hai nhịp liên tiếp rồi tối sầm lại.

Tôi đứng tim, giơ tay đập mạnh vào thân ống nhôm của đèn pin.

"Lách cách!"

Bóng đèn sáng bừng trở lại. Ánh sáng chiếu thẳng vào góc tối dưới gầm cầu thang.

Một cục bông trắng đục hiện ra trên chiếc bao ba gai rách nát.

Con Khánh Hầu đang nằm ở đó.

Nó nằm cuộn tròn thân mình lại thành một khối tròn ủng, đầu rúc sâu vào giữa hai chân trước, đuôi vắt ngang qua lưng. Toàn bộ cơ thể già nua của nó phập phồng theo từng nhịp thở nặng nhọc, phát ra những tiếng khò khè đục ngầu quen thuộc từ trong buồng phổi ướt át.

Tôi bước lại gần thêm ba bước, nín thở cúi người xuống quan sát.

Bốn chân của nó gập lại dưới bụng, những chiếc móng chân dài ngoằng và cáu bẩn giấu kín trong lớp lông xơ xác. Bộ lông của nó hoàn toàn khô ráo, phủ một lớp bụi tro xám xịt của tro bếp chứ không hề ướt đẫm sương đêm như cái bóng trắng tôi vừa thấy trên đòn dông nóc nhà.

Dưới đầu nó không có chiếc nón mê nào cả. Quanh chỗ nó nằm chỉ có chiếc bao ba cũ mốc meo và một chiếc bát sành mẻ góc chứa vài hạt cơm nguội đã cứng queo từ chiều hôm trước.

"Khánh Hầu..." Tôi khẽ gọi, giọng thì thào trong cổ họng.

Con chó già dường như nghe thấy tiếng động. Nó chầm chậm cựa mình, nhấc chiếc đầu nặng trịch lên khỏi bao ba.

Nó ngước nhìn tôi. Dưới ánh sáng vàng vọt của chiếc đèn pin, hai mắt của nó mờ đục, phủ một lớp màng màu xám tro của loài chó mù lòa vì tuổi tác, chẳng có lấy một tia sáng hay đốm than đỏ rực nào như ác quỷ trên mái nhà. Mũi nó phập phồng hít hít không khí, cái mũi màu đỏ hồng nhạt thếch, nhăn nheo và khô ráp.

Nó thở ra một hơi dài, nặng mùi thức ăn ôi thiu và mùi xác súc vật chết, rồi ngoan ngoãn đặt cằm xuống hai bàn chân trước, mắt từ từ khép lại như thể nó đã nằm yên ở xó nhà này từ nhiều giờ trước mà chưa từng rời đi nửa bước.

Tôi đứng chết trân bên cạnh con chó già, chiếc đèn pin trên tay trĩu nặng như một khối chì.

Chẳng lẽ tất cả những gì tôi vừa nhìn thấy qua khe cửa sổ chớp gỗ chỉ là một cơn mộng du kinh hoàng? Một ảo giác do chuỗi ngày mất ngủ kéo dài tạo nên khi thần kinh bị đẩy đến giới hạn cùng cực?

Tôi nhìn chằm chằm vào tấm lưng gầy còm trơ cả xương sườn của con Khánh Hầu. Con vật trông tàn tạ, yếu ớt đến mức việc tự nhấc mình đứng dậy để đi ra sân trước cũng là một cực hình đối với nó. Một con chó già sắp chết như thế này làm sao có thể ngậm dao bầu, đội nón lá rồi đứng thẳng bằng hai chân sau trên đỉnh mái ngói dốc đứng giữa trời đêm?

Tôi lùi lại một bước, toan quay người bước lên gác ngủ tiếp.

Nhưng ngay khi gót chân tôi vừa nhấc lên khỏi mặt sàn, ánh đèn pin vô tình quét qua mép bậc cầu thang gỗ nơi con chó vừa nằm gối đầu.

Dưới lớp bụi bặm xám xịt phủ trên thanh gỗ mục, một vệt xước mới tinh hiện ra trắng hếu. Đó là một vết cứa sâu hoắm, sắc lẹm và thẳng tắp, làm lộ ra thớ gỗ đỏ au bên trong.

Vết cắt ấy chỉ có thể được tạo ra bởi một lưỡi dao bầu vừa mới được mài rất bén.

Chương khác

Xem thêm