Quỷ Cẩu - Chương 6: Lời Cảnh Báo Của Bà Bảy Bún Nước Lèo

Tôi giật lùi lại hai bước, trượt chân suýt ngã ngửa xuống bậc thang xi măng ẩm ướt của căn hầm. Ánh đèn pin run rẩy quét ngược lên trần nhà, chiếu thẳng…

Nội dung chương

Tôi giật lùi lại hai bước, trượt chân suýt ngã ngửa xuống bậc thang xi măng ẩm ướt của căn hầm. Ánh đèn pin run rẩy quét ngược lên trần nhà, chiếu thẳng vào hốc mắt xám xịt của con Khánh Hầu. Giọt nước dãi sủi bọt rơi cộp một tiếng ngay trước mũi giày tôi, tanh nồng mùi bùn rêu và thịt sống. Nó không sủa, cũng không hề lao xuống. Nó chỉ gục đầu ở mép ván sàn gỗ lim, hai lỗ mũi đỏ hồng phập phồng hít ngửi luồng không khí tử khí thốc ngược từ lòng đất.

Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng nghẹn ứ nơi cuống họng, vội vàng chộp lấy cuốn sổ da mục nát nhét chặt vào túi quần sau. Từng tấc cơ bắp trên người tôi gồng cứng, hai tay bám vào thành vách lạnh ngắt, leo ngược lên từng bậc thang xi măng. Khi đầu tôi vừa trồi lên ngang mặt sàn gạch tàu của gian thờ, con chó già bỗng lùi lũi thụt lùi vào bóng tối của gầm cầu thang, tiếng móng chân cào lách cách khô khốc trên nền gạch nghe rợn cả óc.

Tôi dồn hết sức bình sinh chụp lấy tay nắm sắt, giật mạnh cánh cửa sập bằng gỗ lim đóng sầm lại. Tiếng rầm vang dội làm rung chuyển cả mảng bụi bám trên xà nhà. Không chần chừ một giây, tôi luồn sợi xích thép rỉ sét qua khuyên sắt, khóa chặt ổ khóa đồng đen ngòm lại như cũ, rồi tỳ cả tấm lưng ướt đẫm mồ hôi đẩy chiếc sập gụ gõ đỏ trượt về vị trí ban đầu để che kín miệng hầm.

Căn nhà trăm năm tuổi chìm vào một sự im ắng ngột ngạt. Chiếc đồng hồ quả lắc trên tường vẫn điểm nhịp tích tắc đều đặn, buông từng tiếng nặng trịch như búa gõ vào hộp sọ. Tôi tựa lưng vào mép sập gụ, ngực phập phồng thở dốc, hai bàn tay rát bỏng vì ma sát với xích sắt và bụi bặm. Cơn đói cồn cào sau cả ngày dài căng thẳng bỗng ập đến cùng lúc với cảm giác buồn nôn quặn thắt. Cổ họng tôi khô khốc, bụng sôi lên ùng ục réo gọi thức ăn.

Tôi cần phải ra khỏi căn nhà này ngay lập tức. Bầu không khí quánh đặc mùi ẩm mốc, mùi đất huyệt mộ và sự hiện diện ma quái của con súc sinh dưới gầm cầu thang đang bóp nghẹt buồng phổi tôi từng phút một.

Tôi vớ lấy chiếc áo khoác mỏng vắt trên ghế gỗ, xỏ vội đôi dép lào rồi bước nhanh ra phía cửa chính. Khi kéo chốt sắt cánh cửa gỗ mun kêu ken két mở ra, một luồng khí nóng hầm hập của buổi xế chiều Sài Gòn phả thẳng vào mặt.

Hẻm 21 đường Bùi Hữu Nghĩa ngoằn ngoèo như một đường ruột lợn, bề ngang chưa đầy hai mét. Hai bên bờ tường rêu phong chằng chịt những búi dây điện đen ngòm thòng xuống như tổ quạ. Nước thải sinh hoạt từ các rãnh thoát nước hở rỉ ra tanh tưởi, bốc hơi dưới cái nắng oi nồng cuối ngày. Bình thường vào giờ này, con hẻm phải rộn rã tiếng trẻ con đuổi bắt nhau, tiếng xoong chảo va đập lanh lảnh từ các căn nhà san sát. Nhưng chiều nay, từ lúc tôi bước chân ra khỏi ngưỡng cửa nhà họ Lê, một sự gượng gạo kỳ dị bỗng bao trùm lấy không gian.

Bà Năm bán vé số ngồi ở bậc thềm cách đó hai căn nhà vừa nhìn thấy tôi liền vội vàng lùa mấy xấp vé số vào túi ni lông, đứng phắt dậy đi thẳng vào nhà rồi khép hờ then cài cửa sắt. Mấy đứa con nít đang đá banh nhựa ngoài khúc cua hẻm bỗng nín bặt tiếng reo hò khi thấy bóng tôi lướt qua. Một thằng bé chừng bảy tuổi ngước mắt nhìn tôi trừng trừng, chưa kịp mở miệng đã bị mẹ nó thò tay qua khung cửa sổ giật mạnh vào trong, kèm theo tiếng mắng rít qua kẽ răng:

- Vô nhà mau! Đứng đó dòm ngó cái gì, coi chừng vạ lây bây giờ!

Cánh cửa sổ gỗ lập tức đóng sầm lại, then cài kêu cạch một tiếng dứt khoát.

Tôi đứng chôn chân giữa lòng hẻm nhỏ hẹp, ngực thắt lại trước những ánh mắt lấm lét lướt qua khe cửa sổ, sau những tấm rèm vải hoa cũ kỹ cáu bẩn. Mọi người trong hẻm 21 đều né tránh tôi như thể trên người tôi đang mang một mầm bệnh dịch hạch. Ánh mắt của họ không đơn thuần là sự tò mò đối với một đứa cháu mới về thừa kế căn nhà cổ, mà trong đáy mắt của những người già ở đây chứa đựng nỗi sợ hãi tột cùng, một sự kiêng dè lẫn ghê tởm khó giấu giếm.

Họ biết. Những người sống lâu năm ở cái hẻm Bùi Hữu Nghĩa này chắc chắn biết rõ những bí mật đen tối của ông nội tôi và cái nghiệp đào mả rợn người từng xảy ra hai mươi năm trước.

Nuốt sự cay đắng vào lòng, tôi cắm cúi bước đi thật nhanh về phía đầu hẻm, nơi giao nhau với mặt đường Bùi Hữu Nghĩa ồn ào khói bụi.

Ngay góc ngã ba đầu hẻm, nép dưới bóng cây me cổ thụ mục ruỗng nửa thân là quán bún nước lèo của bà Bảy. Quán ăn vỏn vẹn chỉ có một chiếc xe đẩy bằng nhôm kính cáu mỡ, ba chiếc bàn nhựa tròn màu đỏ đã bạc phếch và vài chiếc ghế đẩu xếp lộn xộn quanh gốc cây. Nồi nước lèo đặt trên bếp than tổ ong đang sôi sùng sục, phả ra làn khói trắng nghi ngút mang theo mùi sả băm, mùi mắm cá sặc nồng đậm và hương ngải bún the the đặc trưng của vùng Tây Nam Bộ.

Lúc tôi bước tới, quán chỉ có hai người đàn ông trung niên mặc áo thun ba lỗ đang cúi đầu húp sùm sụp tô bún. Bà Bảy, người đàn bà trạc ngoài sáu mươi tuổi với mái tóc hoa râm búi củ tỏi sau gáy, hai gò má hóp sâu và khóe miệng đỏ quạch vì ăn trầu, đang thoăn thoắt dùng vợt trụng mớ bắp chuối bào sợi vào nồi nước sôi.

- Cho con một tô bún đầy đủ đi bà Bảy, - tôi bước vào dưới mái bạt che, kéo một chiếc ghế nhựa ngồi xuống, cất tiếng gọi bằng giọng khàn đặc.

Tiếng vợt trụng bỗng khựng lại giữa chừng.

Bà Bảy giật bắn mình, chiếc kẹp gắp thịt trong tay bà rơi cắc một tiếng xuống mặt kính tủ xe. Bà ngẩng đầu lên, đôi mắt kèm nhem giăng đầy tia máu nhìn trừng trừng vào khuôn mặt tôi. Nhìn thấy tôi, hai người khách đàn ông ngồi bàn bên cạnh cũng lập tức dừng đũa. Họ đưa mắt nhìn nhau một cái đầy ẩn ý, vội vã lùa nhanh mấy cọng bún còn sót lại trong tô, rồi móc tiền lẻ ném vội lên mặt bàn nhựa.

- Tính tiền đi bà Bảy, tui có việc về trước, - một người đàn ông lầm bầm, thậm chí không buồn đợi bà Bảy thối lại tiền lẻ, đứng dậy dắt chiếc xe máy dựng sát vách tường rồi rồ ga phóng thẳng ra đường lớn.

Cả quán bún chỉ còn lại tôi và bà Bảy giữa làn khói nước lèo cay nồng sặc sụa.

Bà Bảy không vội làm bún. Đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt những đường gân xanh của bà run rẩy cầm chiếc giẻ lau bàn lau đi lau lại một góc mặt kính đã sạch bóng. Ánh mắt bà lướt qua khuôn mặt hốc hác, đôi quầng thâm đen sì quanh mắt tôi, rồi nhìn chằm chằm vào vết trầy xước rớm máu trên mu bàn tay tôi do va quẹt vào nắp hầm lúc nãy.

- Mày... mày là thằng Khải? Cháu đích tôn của ông Thừa đào huyệt đúng hôn? - Bà Bảy hạ giọng hỏi, thanh âm run rẩy như bị nghẹn ở cuống họng.

- Dạ, con là Khải đây bà Bảy. Con dọn về căn nhà cổ của nội con được gần một tháng rồi.

Tôi cố nặn ra một nụ cười xã giao để xua tan bầu không khí nặng nề, nhưng khóe môi cứng đờ không thể nhếch lên nổi. Tôi kéo ghế lại gần hơn một chút, nhìn thẳng vào đôi mắt già nua đầy vẻ kinh hãi của bà cụ:

- Bà Bảy bán ở đầu hẻm này mấy chục năm, chắc biết rõ nội con lắm. Con muốn hỏi thăm bà... sáu tháng trước lúc nội con bỏ đi mất tích, bà có thấy ông đi hướng nào không? Với lại... hồi xưa nội con làm ăn với những ai mà trong xóm ai thấy con cũng dòm như dòm quỷ vậy bà?

Nghe đến chữ "ông Thừa" và "mất tích", sắc mặt bà Bảy lập tức biến đổi từ tái nhợt sang xám ngoét. Bàn tay đang cầm giẻ lau của bà siết chặt lại đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra. Bà lấm lét nhìn dáo dác ra phía ngoài hẻm, nhìn qua những căn nhà lân cận như sợ có ai đó đang rình rập lắng nghe cuộc trò chuyện này.

Bà không trả lời câu hỏi của tôi, chỉ lẳng lặng gắp một nhúm bún tươi bỏ vào tô sành, múc một muôi nước lèo sủi bọt ngập tràn mùi sả ớt chan lên, rồi thả vào mấy miếng cá lóc đồng luộc rỉa sạch xương cùng vài con tép đất đỏ au. Bà bưng tô bún đặt mạnh xuống trước mặt tôi, nước dùng sóng sánh sánh tràn cả ra mép bàn.

- Ăn cho lẹ rồi đi về đi con, - bà Bảy thì thào, giọng nghẹn ứ. - Chuyện của ông già mày... không phải chuyện để người sống tò mò đâu. Mày càng hỏi sâu, cái nghiệp nó càng quàng vô cổ mày mau hơn đó.

- Bà Bảy! - Tôi đưa tay giữ chặt lấy mép khay nhôm của bà, giọng tôi chùng xuống, chất chứa sự tuyệt vọng đã dồn nén suốt ba mươi ngày mất ngủ. - Con không thể nhắm mắt làm ngơ được nữa. Đêm nào trên nóc nhà con cũng có tiếng móng cào. Ban ngày thì con chó trắng dưới gầm cầu thang cứ nhìn con chằm chằm. Con vừa xuống căn hầm dưới sập gụ... con đọc hết cuốn sổ của nội con rồi. Nội con không phải mất tích, nội con bỏ trốn vì con súc sinh đó!

Bàn tay bà Bảy run lên bần bật. Khi nghe tôi nhắc đến "căn hầm" và "con chó trắng", đôi mắt kèm nhem của bà mở to trừng trừng, tròng mắt như muốn lồi cả ra ngoài. Bà nhìn tôi bằng một vẻ mặt vừa thương xót tột cùng, vừa kinh hoàng tột độ.

"Xoảng!"

Chiếc muôi múc canh trên tay bà rớt xuống sàn xi măng, nước lèo văng tung tóe lên ống quần tôi. Bà Bảy dường như không còn bận tâm đến nồi nước lèo đang sôi sùng sục trên bếp than. Đôi bàn tay gầy trơ xương, thô ráp và nhăn nheo của bà bất thần chộp lấy cổ tay tôi.

Cái nắm tay của bà già ngoài sáu mươi tuổi siết chặt đến mức móng tay găm sâu vào da thịt tôi, đau điếng.

Bà lôi giật tôi đứng dậy khỏi ghế nhựa, kéo xềnh xệch tôi vòng ra phía sau xe bún, chui tọt vào khoảng trống chật hẹp ẩm ướt giữa vách tường rêu mốc của cây me và mấy thùng phuy chứa nước rửa chén. Ở góc khuất tăm tối này, bóng lá me xào xạc che khuất ánh hoàng hôn le lói cuối cùng đang tắt lịm ngoài đường lớn.

- Mày điên rồi! Mày đụng vô cái hầm đó làm chi hả Khải?! - Bà Bảy gằn giọng, hơi thở nồng nặc mùi trầu không và nước mắm phả thẳng vào mặt tôi, từng thớ thịt trên mặt bà giật giật liên hồi. - Mày có biết tại sao sáu tháng nay cái hẻm này không ai dám bén mảng lại gần cổng căn nhà đó sau sáu giờ tối hôn?

- Vì con Khánh Hầu đúng không bà? - Tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực, tôi nhìn xoáy vào mắt bà lão. - Nó sống hai mươi năm không già, không chết. Nó là con súc sinh nội con đem từ dưới mộ về!

Bà Bảy đưa một bàn tay khô khốc lên bịt chặt miệng tôi lại, mắt bà đảo quanh như thể con quái vật có thể nhảy xổ ra từ bất kỳ bụi rậm nào quanh gốc me cổ thụ.

- Đừng có kêu tên nó! - Bà rít qua kẽ răng, giọng the thé đầy hoảng loạn. - Mày gọi tên là nó biết mày đang nói tới nó đó! Con súc sinh đó lỗ tai nó thấu suốt ba thước đất, nó nghe được cả tiếng thở của người sống cách xa mấy con hẻm!

Tôi gạt nhẹ tay bà Bảy ra, cố giữ cho giọng mình không run rẩy:

- Bà biết rõ mọi chuyện đúng không? Bà làm ơn nói cho con biết đi, rốt cuộc ông nội con đã làm cái gì? Tại sao con chó đó lại muốn hại cả dòng họ Lê?

Bà Bảy buông cổ tay tôi ra, lưng tựa vào thân cây me xù xì, thở dốc từng cơn. Bà đưa vạt áo bà ba cũ mèm lên lau những giọt mồ hôi lạnh đang vã ra như tắm trên trán. Sau một hồi im lặng đến rợn người, bà mới hạ giọng thì thầm, từng lời thốt ra như rút cạn chút sinh lực cuối cùng của bà cụ:

- Hai mươi năm trước... cái đêm ông Thừa ôm cái bọc vải đỏ từ vùng An Phú Đông về, trời đất Sài Gòn nổi giông gió đùng đùng, sấm sét đánh cháy rụi một nhánh me đầu hẻm này. Tao nhớ như in, lúc ổng đi ngang qua quán tao, tao nghe tiếng chó con éc éc trong bọc vải. Tao tò mò hỏi ổng lượm chó ở đâu đẹp quá, lông trắng muốt như bông bưởi, cái mũi đỏ lòm như cục máu. Ổng không trả lời, mặt ổng xanh như tàu lá chuối, hai con mắt trắng dã thất thần như người mất hồn.

Bà Bảy dừng lại, nuốt một ngụm nước bọt khó nhọc, rồi tiếp tục bằng giọng thì thào lạnh buốt:

- Mấy ngày sau tao mới nghe mấy ông thợ đào huyệt trong xóm xầm xì. Ông Thừa đi đào mả trộm ngoài gò mả hoang, đụng trúng ngôi mộ oan khuất của người ta. Ngôi mộ đó chôn một người đàn bà bị hãm hại, chết oan không nhắm mắt. Người ta ếm một con chó con vào đáy ván thiên để giữ của, con chó đó lọt lòng mẹ đúng ngay giờ Thìn hung hiểm, giờ của loài quỷ dữ đội lốt súc sinh! Hai thằng bạn đào mả chung với ông Thừa chết thảm sát ván, một thằng té cống chết trôi, một thằng tự lấy dao bầu cứa cổ ngay giữa chợ Bà Chiểu, máu phun có vòi! Chỉ có ông Thừa là còn sống... nhưng sống không bằng chết!

Tôi rùng mình, những lời bà Bảy kể trùng khớp đến từng chữ, từng chi tiết với những nét mực cào xước trong cuốn sổ bìa da dưới căn hầm tăm tối. Mồ hôi sau gáy tôi toát ra lạnh ngắt.

- Tại sao... tại sao nội con không giết nó đi? Nuôi một con quái vật như vậy trong nhà suốt hai mươi năm để làm gì? - Tôi run rẩy hỏi.

- Giết làm sao được mà giết! - Bà Bảy trừng mắt nhìn tôi, giọng run bần bật vì sợ hãi. - Quỷ Cẩu là giống súc sinh mang oán khí ngút trời của người chết dưới đáy mồ. Mày mà động thủ giết nó, oan hồn lập tức nhập xác quật chết tươi cả nhà tại chỗ! Ông nội mày biết rõ cái nghiệp đào mả đoạt của nó nặng cỡ nào, nên ổng mới phải cắn răng đem nó về nuôi. Ổng nuôi nó bằng cơm cúng cô hồn, bằng nước tro tàn nhang bàn thờ, ngày đêm tụng kinh sám hối để xin oan hồn tha mạng cho dòng họ. Nhưng nghiệp báo làm sao mà trốn thoát được hả con?

Bà Bảy run rẩy tiến lại gần tôi hơn một bước, hai bàn tay xương xẩu lại túm chặt lấy bắp tay tôi, kéo gập người tôi xuống để bà thì thầm sát vào vành tai tôi. Hơi thở của bà lạnh toát, phả từng luồng buốt giá vào da thịt tôi:

- Cách đây sáu tháng, trước cái đêm ông Thừa biến mất... ổng có ghé quán tao lúc nửa đêm. Ổng đưa cho tao một cọc tiền, dặn tao nếu sau này mày có về đây ở thì tao phải nói cho mày nghe một điều...

- Nội con dặn cái gì? - Tim tôi như ngừng đập, nín thở chờ đợi.

- Ổng nói... con súc sinh đó đã hết kiên nhẫn rồi. Hai mươi năm qua nó giả đò mù lòa, giả đò già yếu nằm dưới gầm cầu thang là để đợi ngày ổng suy kiệt, đợi ngày mày bước chân về căn nhà đó để tóm gọn cả tông ti họ Lê! Đêm rằm tháng trước khi ổng đi, ổng đã tận mắt thấy nó trèo lên đòn dông nóc nhà. Đầu nó đội cái nón mê rách rưới của người chết dưới mộ, miệng nó ngậm con dao bầu sáng loáng mài sắc lẹm! Đó là điềm Quỷ Cẩu đòi mạng tuyệt tự! Nhà nào có chó đội nón mê lên nóc, nhà đó đàn ông phải chết bất đắc kỳ tử, tự chém giết lẫn nhau cho tới khi tuyệt diệt không còn một giọt máu nối dõi!

Từng lời, từng chữ của bà Bảy như những nhát búa nện thẳng vào tâm trí tôi. Hình ảnh cái bóng trắng đứng bằng hai chân sau trên mái ngói đêm hôm trước, chiếc nón lá tơi tả và con dao nhọn ngậm ngang mõm bỗng hiện về rõ mồn một, sống động đến kinh hoàng.

- Ông nội mày biết số mạng ổng tận rồi, - bà Bảy nghẹn ngào, hai giọt nước mắt đục ngầu rỉ ra từ khóe mắt nhăn nheo. - Ổng không muốn mày phải chết oan mạng, nên ổng mới tự mình bỏ đi biệt tích, đem cái thân già này đi chôn sống ở một xó xỉnh nào đó để mong cắt đứt sợi dây oan nghiệt. Nhưng con súc sinh đó khôn ranh lắm... nó không đi theo ổng. Nó vẫn nằm lì dưới gầm cầu thang căn nhà đó để đợi mày!

Một cơn gió lạnh thốc qua ngọn me cổ thụ, làm những chiếc lá me rụng lả tả xuống đầu, xuống vai hai người. Trời đã tối hẳn. Đèn đường Bùi Hữu Nghĩa bật sáng một màu vàng vọt u ám, hắt những cái bóng dài ngoằng, méo mó vào lòng hẻm 21 sâu hun hút.

Bà Bảy siết chặt tay tôi lần cuối, sức ép từ những ngón tay gầy guộc khiến xương cổ tay tôi đau nhức:

- Khải à, nghe lời bà già này đi con. Tối nay mày gom hết đồ đạc, trốn khỏi cái căn nhà chết tiệt đó đi! Đi càng xa càng tốt, đừng bao giờ quay lại cái đất Sài Gòn này nữa! Còn nếu... nếu đêm nay mày chưa kịp đi, mày phải nhớ kỹ lời tao...

Bà Bảy ghé sát miệng vào tai tôi, hạ giọng đến mức chỉ còn như tiếng gió rít qua khe cửa mục:

- Nếu ban đêm, mày nằm trong phòng mà nghe thấy tiếng móng cào sột soạt trên đòn tay... hay nghe thấy tiếng nó sủa bằng giọng của con người... thì cấm tiệt mày không được mở cửa sổ nhìn lên nóc nhà! Mày mà mở cửa ngó lên, nhìn thẳng vào cặp mắt đỏ ngầu của con Quỷ Cẩu đội nón mê... là hồn vía mày tiêu tán, ma quỷ nó đoạt xác mày ngay trong đêm đó nghe hôn!

Dứt lời, bà Bảy dứt khoát buông tay tôi ra. Bà đẩy mạnh tôi ra khỏi góc khuất của cây me, rồi thoăn thoắt quay trở lại xe bún, bắt đầu dọn dẹp xoong nồi, tắt bếp than tổ ong như thể muốn đuổi khách ngay lập tức. Bà không nhìn tôi thêm một lần nào nữa, miệng liên tục lầm rầm tụng niệm những câu kinh cầu an bằng tiếng Khmer lẫn tiếng Việt méo mó, hỗn loạn.

Tôi đứng trơ trọi bên cạnh bàn nhựa, nhìn tô bún nước lèo đã nguội ngắt, lớp mỡ cá đóng váng trắng đục trên bề mặt nước dùng đỏ au màu ớt.

Tôi móc trong ví ra một tờ năm mươi ngàn đặt lên bàn, nhưng bà Bảy không thèm đụng tới, chỉ phẩy tay lia lịa xua đuổi tôi như xua đuổi một kẻ mang theo tà khí chết chóc.

Tôi quay lưng bước đi, từng bước chân nặng như đeo chì dẫm lên nền đá lởm chởm của con hẻm tối om. Gió đêm bắt đầu thổi mạnh, luồn qua những khe hẹp giữa các bức tường nhà cao tầng, tạo nên những tiếng rít u u như tiếng than khóc nghẹn ngào.

Mọi thứ đã quá rõ ràng. Những ghi chép rùng rợn trong cuốn sổ da của ông nội dưới đáy hầm không hề là hoang tưởng của một người già lẩm cẩm. Lời cảnh báo trong cơn hoảng loạn của bà Bảy bún nước lèo đã đóng chiếc đinh cuối cùng vào sự thật tàn khốc mà tôi phải đối mặt: người ông hiền từ của tôi là một kẻ đào mả trộm, và thứ đang nằm dưới gầm cầu thang nhà tôi chính là một con Quỷ Cẩu sinh ra từ nấm mồ oan khuất, đang chờ đợi để lấy mạng tôi.

Tôi dừng lại trước cánh cổng gỗ mun của căn nhà cổ 100 năm tuổi.

Trong bóng tối dày đặc của hẻm 21, căn nhà sừng sững như một nấm mồ khổng lồ bằng gỗ lim, mái ngói âm dương rêu phong đen thẫm chìm vào nền trời đêm không một vì sao. Không một tia sáng nào lọt ra từ bên trong. Qua khe cửa gỗ hẹp, tôi có thể cảm nhận được một luồng tử khí buốt giá đang rỉ ra từng đợt, mang theo mùi tanh nồng quen thuộc của con vật dị tật lông trắng mũi đỏ.

Bà Bảy bảo tôi hãy bỏ chạy. Ông nội tôi cũng trăn trối bảo tôi hãy rời đi.

Nhưng chạy đi đâu khi cái nghiệp báo tuyệt tự đã bám rễ vào dòng máu họ Lê? Nếu tôi trốn chạy, liệu con quái vật ngậm dao đội nón mê ấy có chịu buông tha, hay nó sẽ tiếp tục lần theo mùi máu của tôi đến tận cùng trời cuối đất?

Tôi ngước mắt nhìn lên bờ mái ngói dốc đứng trên tầng gác mái.

Ngay phía trên khung cửa sổ phòng ngủ của tôi, thanh đòn tay gỗ lim nằm chênh vênh sát mép ngói, nơi đêm qua bóng đen quái dị kia từng đứng thẳng bằng hai chân sau nhìn xuống giường tôi.

Một cơn ớn lạnh chạy dọc từ sống lưng lên tận đỉnh đầu, nhưng cùng lúc đó, một sự bướng bỉnh điên cuồng bùng lên trong huyết quản. Tôi không thể sống trong nỗi sợ hãi mơ hồ này thêm một giây nào nữa. Tôi phải tận mắt chứng kiến. Tôi phải biết chắc trên cái đòn tay gỗ lim sát kèo ngói gác mái kia thực sự có dấu vết của một con thú bằng xương bằng thịt, hay tất cả chỉ là một ảo giác ma quái gieo rắc vào đầu tôi.

Tôi đẩy mạnh cánh cửa gỗ mun bước vào trong, tiếng then cài sau lưng khép lại khô khốc giữa bóng đêm đặc quánh.

Chương khác

Xem thêm