Quỷ Cẩu - Chương 9: Quỷ Cẩu Xuất Thế - Lịch Sử Bị Vùi Lấp
Mũi dao gỉ sét bằng thép đen sì vẫn thò ra qua khe hở của hai tấm ván trần, chĩa thẳng tắp xuống đỉnh đầu tôi. Tôi quỳ sụp trên chiếc chiếu cói trải giữa…
Nội dung chương
Mũi dao gỉ sét bằng thép đen sì vẫn thò ra qua khe hở của hai tấm ván trần, chĩa thẳng tắp xuống đỉnh đầu tôi.
Tôi quỳ sụp trên chiếc chiếu cói trải giữa nền phản, kéo tấm chăn bông cũ trùm kín cả đầu lẫn vai, hai hàm răng va vào nhau lập cập thành từng tràng dài không dứt. Toàn bộ cơ bắp trên người tôi căng cứng lại, các khớp ngón tay bấu chặt vào mép vải thô ráp đến mức bật máu. Cảm giác sắc lạnh của lưỡi kim loại hoen ố kia giống như đã chạm tới tận chân tóc, chỉ cần tôi nhúc nhích một phân, nó sẽ bổ thẳng xuống găm ngập vào hộp sọ.
Trên nóc ván, sức nặng của con quái vật vẫn đè nghiến thanh đòn tay lim. Tiếng gỗ oằn mình ken két lẫn vào nhịp thở phì phò tanh nồng.
Mùi xác chết úng nước từ kẽ hở bên trên tuôn xuống ròng ròng, đặc quánh và lợm giọng. Đó là thứ mùi hôi thối bám rễ nơi đáy huyệt sâu sau những ngày mưa dầm dề, mùi của tử thi phân hủy quyện cùng bùn đen ngập ngụa. Tôi cố bịt chặt hai cánh mũi bằng lớp vải chăn hôi mùi ẩm mốc, nhưng từng luồng khí độc rợn gáy vẫn len qua từng sợi vải, chọc thẳng vào cuống họng làm ruột gan tôi quặn thắt từng cơn nôn nao.
Bỗng nhiên, mũi dao rút ngược lên.
Lưỡi thép ma quái cọ xát vào hai gờ ván trần phát ra một tiếng rít khô khốc:
"Kéttttt..."
Bụi gỗ mục và mạt cưa li ti rớt lả tả xuống chăn tôi như một trận mưa tro tàn. Khe hở giữa hai tấm ván tối sầm lại trong tích tắc khi con thú rút chân rút dao, nhưng ngay sau đó, ánh đỏ ngầu từ tròng mắt dị tật của nó lại áp sát vào rãnh hở. Đốm sáng đỏ rực, tàn độc và đầy oán hận ấy trừng trừng nhìn xuống tôi từ cự ly chưa đầy một sải tay.
Tôi dán chặt mắt vào đốm sáng đỏ ấy, lồng ngực nén chặt không dám thở ra lấy một hơi nhỏ.
Rồi sức nặng trên nóc trần bắt đầu chuyển động.
Vật thể phía trên xoay nửa thân mình, móng vuốt cào mạnh lên mặt ván phát ra những âm thanh rợn người. Tiếng bước chân lộp cộp bằng hai chi sau lại tiếp tục di chuyển, chậm rãi bước rời khỏi khoảng trần phía trên đầu tôi, men theo đường dốc của xà gồ để trèo ngược ra phía ngoài mái tôn.
"Rầm... xoảng!"
Tấm tôn cũ kỹ phủ đầy rỉ sét ở mái hiên oằn xuống một nhịp mạnh bạo dưới sức nặng bất ngờ giáng xuống.
Con thú đã trèo hẳn lên nóc nhà.
Tiếng bước chân bằng hai chân sau nện trực tiếp lên mặt tôn mỏng, phát ra những chuỗi âm thanh lùng bùng u uất. Nó bước từng bước khập khiễng, nặng nề, một chân đạp thẳng xuống mép tôn, một chân sau kéo lê theo cùng một vật thể kim loại sắc nhọn đang cào rách lớp sơn chống rỉ.
"Rột... rột... xoẹt..."
Âm thanh kim loại cọ vào tôn kéo dài nhức óc chạy dọc suốt chiều dài của gian nhà cổ một trăm năm tuổi. Con quái vật đi từ gian sau lên gian trước, rồi dừng lại ngay trên đòn dông chính của căn nhà, vị trí cao nhất nhìn thẳng xuống toàn bộ lòng hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa.
Tôi run rẩy thò một góc mặt ra khỏi mép chăn.
Căn phòng ngủ tối đen như mực, chỉ có ánh trăng khuyết mỏng tang từ khe nan chớp cửa sổ hắt vào một vệt sáng mờ nhạt, vẽ lên sàn gạch tàu bóng loáng những hình thù méo mó. Không khí trong phòng lúc này đã lạnh buốt thấu xương. Hơi lạnh không phải do gió lùa từ ngoài đường vào, mà xuất phát từ chính các bức tường vôi nứt nẻ, tỏa ra một hàn khí buốt giá tựa như tôi đang ngồi giữa một ngôi mộ lộ thiên lúc rạng sáng.
Chiếc đồng hồ quả lắc dưới chân cầu thang vẫn chạy đều đặn:
"Tích... tắc... tích... tắc..."
Nhưng tiếng máy móc ấy bỗng chốc bị đè bẹp bởi một âm thanh khác bắt đầu trỗi dậy từ nóc tôn.
Ban đầu, đó chỉ là một tiếng gầm gừ trầm đục phát ra từ sâu trong lồng ngực của một loài dã thú. Âm thanh gầm gừ nghẹn ứ, rung bần bật trên các tấm tôn, làm căn gác gỗ rung lên nhè nhẹ theo từng nhịp thở dồn dập. Tiếng gầm ấy mang đầy sự hung bạo của loài chó săn mồi, nhưng càng kéo dài, âm vực lại càng biến đổi một cách quái đản.
Tiếng gầm vút lên cao, nứt toác ra thành một tiếng tru dài buốt lạnh.
"Húuuuuu... ô... ô... ô..."
Tiếng tru cất lên giữa ba giờ sáng xé toang màn đêm câm lặng của khu xóm cổ. Tiếng tru vút thẳng lên bầu trời u ám, va đập vào các vách tường gạch rêu phong của con hẻm sâu hun hút rồi dội ngược trở lại gian phòng kín mít.
Cả người tôi co rúm lại, hai tay ôm chặt lấy đầu. Đó là tiếng tru của loài chó, nhưng âm sắc của nó lại hoàn toàn méo mó. Độ vang rền, độ rung của thanh quản cùng những nốt ngắt nhịp đứt quãng kia mang đầy đủ sự bi ai, căm phẫn của một cổ họng con người.
Tiếng tru ấy không hề đơn thuần là tiếng kêu gào của súc vật đòi ăn hay tiếng sủa vu vơ trong đêm tối. Nó kéo dài thành từng đợt rền rĩ, ai oán đến rợn người, giống hệt như tiếng khóc hờ của một người đàn ông trung niên trong cơn tuyệt vọng cùng cực trước quan tài thân nhân.
"Hơ... hơ... ớ... trời ơi... là trời..."
Tiếng tru uốn éo, trườn qua từng kẽ ngói âm dương, luồn qua các nan chớp cửa sổ gỗ, ập thẳng vào màng nhĩ tôi.
Tôi chết lặng, hai mắt trừng trừng trong bóng tối. Tôi không hề nghe nhầm.
Giọng tru ma quái trên nóc nhà đang phát ra từng thanh âm rõ rệt của tiếng người. Một chất giọng khàn đặc, nghẹt mũi như người đang ngậm đất cát trong miệng, vừa gào rú vừa ai oán cất lên từng câu khóc tang rành rọt. Giọng khóc hờ réo rắt nhịp nhàng theo đúng lối khóc tế ma chay cổ truyền của đất phương Nam, từng câu từng chữ đập thẳng vào tâm can người sống:
"Ba hồn... bảy vía... kẻ thác oan khiên... ngậm hờn dưới đáy đất..."
Tiếng khóc hờ vừa dứt thì tiếng móng vuốt lại nện mạnh xuống tôn:
"Rầm!"
Mái nhà rung lên bần bật. Con quái vật dường như đang dậm chân nhảy múa trên đòn dông bằng hai chi sau. Miệng nó vẫn tiếp tục réo rắt cất lên những âm thanh ma quái, bắt đầu xướng danh những linh hồn đã khuất của dòng họ Lê:
"Lê... Văn... Tạo... thác rày chưa yên..."
Lê Văn Tạo là tên của ông cố tôi, người lập nên căn nhà cổ này từ đầu thế kỷ trước, đã mất cách đây hơn bốn mươi năm khi tôi còn chưa chào đời. Tên của ông cố chỉ xuất hiện trên bài vị bám đầy bụi ở bàn thờ tổ tiên dưới tầng trệt, vậy mà giờ đây, một con quái thú lông trắng đứng trên nóc nhà lại đang ngậm dao đọc vanh vách từng chữ một.
Tôi rùng mình kịch liệt, hàm răng cắn chặt vào môi dưới đến bật máu tươi để ngăn không cho một tiếng thét nào thoát ra khỏi lồng ngực.
Tiếng tru giọng người lại tiếp tục vang lên, rền rĩ và ai oán gấp mười lần trước:
"Lê... Thị... Nhàn... thác rày vùi xương bãi hoang..."
Đó là bà cô ruột của ông Thừa, người chết đuối dưới kênh Nhiêu Lộc từ thời con gái.
Mỗi cái tên được xướng lên, âm điệu của con quái vật lại càng trở nên sắc nhọn, gầm rú như muốn xé toạc màn sương đêm Sài Gòn. Những người họ Lê đã chết, từng người, từng người một, từ kẻ chết già trên giường bệnh cho đến những người chết bờ chết bụi, chết trôi chết chém, đều lần lượt bị con thú trên nóc nhà gọi tên điểm danh rành rọt trong tiếng khóc tang méo mó.
Nó đang đọc bản danh sách của cõi âm. Nó đang triệu tập những oan hồn từng bị dòng họ Lê động chạm mồ mả trong suốt mấy chục năm hành nghề đào huyệt cất mả.
Và rồi, âm sắc khóc hờ bỗng nhiên chùng xuống một nhịp nghẹn ngào. Tiếng tru trở nên trầm đục, run rẩy và đầy sự căm thù tột độ:
"Lê... Văn... Thừa... trốn đâu cho thoát... nghiệp đào mả cướp xương..."
Tim tôi như ngừng đập hoàn toàn. Tên của ông nội tôi vang lên giữa đêm khuya từ miệng một con súc sinh. Lời ai điếu réo rắt kết tội ông nội tôi, vạch trần cái nghiệp chướng đào huyệt mà ông đã giấu kín suốt cả cuộc đời mình. Con chó Khánh Hầu mà ông cưu mang hai mươi năm, con vật mà ông nâng niu từ thuộc ngày đỏ hỏn, giờ đây đang đứng trên chính mái nhà của ông để đòi nợ máu.
Sau tên của ông Thừa, giọng khóc bỗng nhiên ngừng bặt trong tích tắc.
Không gian trong hẻm rơi vào một sự câm nín tuyệt đối đến nghẹt thở. Cả rặng cây me ngoài đầu ngõ cũng ngừng lay động. Tiếng gió rít qua khe cửa sổ cũng bặt hẳn.
Nhưng sự tĩnh lặng chết chóc ấy chỉ kéo dài đúng ba nhịp gõ của đồng hồ.
Ngay sau đó, một tiếng tru chói gắt, the the, xé toạc cả không gian cất lên rành rọt từng chữ một:
"Lê... Văn... Khải... ơi... Về đền mạng đi... Khải ơi..."
Tên tôi.
Tiếng gọi tên tôi phát ra từ cuống họng của con quỷ cẩu trên nóc nhà, kéo dài lê thê và ma quái như một lời nguyền rủa đóng đinh vào số mệnh. Từng âm tiết "Khải ơi... Khải ơi..." nhão nhoẹt, nhừa nhựa đất bùn bốc lên từ kẽ ngói, dội thẳng vào trần mùng, bao trùm lấy toàn bộ thân xác đang run rẩy của tôi.
Nó biết tôi đang ở trong phòng.
Nó biết tôi là kẻ sống sót duy nhất mang dòng máu họ Lê còn bám trụ lại trong căn nhà này. Tiếng khóc hờ điểm danh người chết họ Lê đã kết thúc bằng chính tên tôi, một bản án tuyệt tự không thể chối bỏ dành cho kẻ kế vị cuối cùng.
Cả người tôi mềm oặt ra trên mặt chiếu, mồ hôi lạnh toát ra ướt đầm đìa tấm áo phông mỏng dính. Đầu óc tôi quay cuồng trong một cơn hoảng loạn tột độ, hơi thở dồn dập nghẽn ứ nơi cuống họng. Lời nguyền rủa ấy như một chiếc thòng lọng vô hình siết chặt lấy cổ tôi, từng tấc một rút cạn sinh lực trong cơ thể.
Tiếng gọi tên tôi vừa dứt, một tiếng "thịch" nặng trịch giáng xuống mái hiên phía trước cửa sổ phòng ngủ.
Sức nặng ghê gớm làm gãy vụn một thanh rui mè bằng gỗ mục. Tiếp theo đó là tiếng trượt dài của những viên ngói âm dương xô lệch vào nhau chan chát. Con vật đã trèo từ nóc đòn dông xuống ngay sát bờ tường ngoài phòng tôi.
Tiếng bước chân bằng hai chi sau dừng lại.
Chỉ còn sự im lặng rợn người bao trùm.
Tôi nép chặt người vào góc tường bên trong mùng, hai mắt nhìn trân trân về phía khung cửa sổ gỗ lim đang đóng chặt then cài. Cây thước thép trong tay tôi run lẩy bẩy, va chạm nhè nhẹ vào chiếc đồng hồ đeo tay phát ra những âm thanh kim loại run rẩy.
Đột nhiên, ngay tại mép dưới của cánh cửa sổ gỗ, một âm thanh bắt đầu vang lên.
"Sột... soạt... sột... soạt..."
Đó là tiếng móng vuốt sắc nhọn đang cào miết dọc theo khe hở giữa hai cánh cửa. Tiếng cào chậm rãi, có tính toán, từng móng chân bấm sâu vào thớ gỗ lim trăm tuổi làm bật ra những mảnh dăm gỗ khô khốc.
Con thú đang đứng ngay bên ngoài bậu cửa sổ.
Nó đứng thẳng bằng hai chân sau trên bờ máng xối hẹp, mặt áp sát vào khe hở của nan chớp gỗ.
Rồi một luồng hơi nóng ẩm, tanh tưởi đến ghê tởm phả mạnh qua các khe gỗ nứt nẻ.
"Khè... khè... phì..."
Tiếng thở phì phò nặng nhọc phả thẳng vào trong phòng. Luồng hơi thở ấy mang theo mùi máu tanh nồng quyện lẫn mùi đất mùn mả mả tươi rói, táp thẳng vào mặt tôi dù tôi đang ngồi cách khung cửa sổ gần hai mét. Nhiệt độ xung quanh cửa sổ hạ thấp xuống rõ rệt, những giọt sương lạnh ngưng tụ lại trên mặt kính mờ đục chảy dài xuống như những vệt nước mắt.
Qua khe nan chớp hẹp bằng đầu ngón tay, một chùm lông trắng muốt lấm lem bùn đất và mạng nhện thò hẳn vào bên trong gian phòng. Chùm lông cứng như cước, lay động theo từng nhịp thở hổn hển của con quái vật bên ngoài.
Và ngay sát phía trên chùm lông ấy, lấp ló qua khe nứt của then cài cửa, là một mảng da màu đỏ hồng ươn ướt, nhớp nhúa.
Chiếc mũi dị tật của Khánh Hầu.
Con chó già mù lòa hai mươi năm tuổi thực sự đang đứng ngoài kia. Nó đang ngửi mùi của tôi qua khe cửa. Nó đang tìm cách lách vào căn phòng này để lưỡi dao bầu cắm ngập vào lồng ngực tôi như cách nó đã kết liễu những kẻ xấu số khác.
Mép cửa sổ rung lên bần bật theo từng cú cào móng của nó. Then cài bằng gỗ lim phát ra những tiếng kêu răng rắc yếu ớt dưới sức ép khủng khiếp từ bên ngoài. Chiếc đinh sắt tôi vừa đóng gia cố hồi nửa đêm bắt đầu bị bẩy lỏng ra, từng milimét một nhô lên khỏi mặt gỗ.
Tôi cắn chặt răng, nước mắt trào ra vì kinh hãi tột độ nhưng hai chân vẫn dính chặt lấy mặt phản như bị đổ chì. Tôi nhận ra cánh cửa sổ này sẽ không thể chống đỡ được lâu. Gỗ lim dù chắc đến đâu cũng sẽ bị móng vuốt của loài quỷ dữ cày nát thành từng mảnh vụn.
Khi bình minh chưa kịp ló rạng, khi giờ Thìn hung hiểm của ngày mới chưa điểm, con Quỷ Cẩu đội nón mê này sẽ xé toạc then cài mà bước vào đoạt mạng tôi.
Một ý nghĩ duy nhất bỗng lóe lên trong đầu tôi giữa cơn hoảng loạn tột cùng.
Lời khóc hờ ma quái khi nãy trên nóc nhà vẫn còn văng vẳng: "Lê Văn Thừa... trốn đâu cho thoát... nghiệp đào mả cướp xương..."
Căn nguyên của tai ương này bắt đầu từ nghề đào huyệt của ông nội. Con vật này trở thành quỷ dữ cũng chính vì những bí mật đen tối mà ông Thừa đã chôn giấu suốt mấy chục năm qua dưới lòng đất.
Tôi nhớ tới căn hầm mộ ẩm mốc nằm sâu dưới nền gạch tàu gian nhà sau, nơi ông nội tôi cất giữ toàn bộ hòm đồ nghề đào mả cùng những vật dụng cổ quái mà sinh thời ông cấm tuyệt đối không cho bất kỳ ai bước chân vào.
Nơi duy nhất có thể cho tôi câu trả lời, nơi duy nhất ẩn giấu bí mật về con quái thú lông trắng mũi đỏ này và cách thức để sống sót qua cơn đại nạn tuyệt tự của dòng họ Lê, chính là căn hầm mộ ấy.
Bên ngoài cửa sổ, tiếng cào móng bỗng ngưng bặt.
Nhưng luồng khí tanh tưởi vẫn cuồn cuộn tràn qua khe gỗ, và qua kẽ hở nan chớp, một đốm sáng đỏ lòm vẫn đang dán chặt vào bóng tối trong phòng, chờ đợi tôi cử động.