Quỷ Cẩu - Chương 11: Dòng Họ Lê Những Cái Chết Bất Thường
Ánh sáng ban mai từ khe gạch thông gió trên cao rọi xiên qua làn bụi mờ, cắt ngang bầu không khí đặc quánh mùi tử khí của căn hầm ngầm. Phía trên trần…
Nội dung chương
Ánh sáng ban mai từ khe gạch thông gió trên cao rọi xiên qua làn bụi mờ, cắt ngang bầu không khí đặc quánh mùi tử khí của căn hầm ngầm.
Phía trên trần gỗ, tiếng móng vuốt cào sột soạt đột ngột dừng lại khi tiếng còi xe máy ngoài hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa bắt đầu rộ lên đón ngày mới. Nhịp sinh hoạt ồn ào của phố thị Sài Gòn dội qua những bức tường cổ trăm năm, tạm thời xua đi cái rét căm căm đang đông cứng từng đốt ngón tay tôi. Tiếng thở phì phò tanh tưởi trên miệng hầm thưa dần rồi dời gót, để lại tiếng bước chân kéo lê nặng nề của bốn cẳng chân gầy guộc đi về phía chái bếp. Con thú đã tạm rút lui khi dương khí của buổi sớm tràn vào con hẻm.
Tôi ngồi thụp dưới chân cầu thang gỗ mục, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Giọt chất lỏng nhơn nhớt rơi trúng mu bàn tay ban nãy bốc lên mùi máu tanh lẫn đất bùn ngai ngái. Tôi dùng vạt áo chùi vội vết nhơ, nhưng thứ dịch nhờn màu xám đục ấy dường như đã kịp ngấm một vệt nhờn lạnh buốt vào tận lỗ chân lông.
Tôi nhét kỹ chiếc nón mê rách nát, lọn tóc bện chỉ đỏ của cha cùng mảnh giấy ghi lời trăn trối của ông Thừa vào sâu trong túi áo khoác. Hít một hơi dài để nén cơn buồn nôn đang dâng ngược lên cuống họng, tôi lần từng bậc thang trèo lên khỏi mặt đất. Cánh cửa hầm bằng gỗ lim nặng trịch được tôi khép chặt lại, kéo chiếc chạn bát cũ kỹ che kín miệng hầm.
Gian nhà sau im lìm đến rợn người. Con Khánh Hầu không còn nằm ở góc hiên quen thuộc. Dưới ánh nắng vàng vọt lọt qua kẽ ngói, trên nền gạch tàu đỏ thẫm kéo dài một vệt nước màu vàng nhờ nhạt xen lẫn bùn đất mồ mả, dẫn thẳng ra phía bụi chuối rậm rạp sau miếu thờ góc vườn.
Tôi không dám nhìn về hướng đó. Tôi xoay người, bước nhanh ra cửa chính, cài then sắt cẩn thận rồi đi thẳng một mạch ra phía đầu hẻm.
Mục tiêu duy nhất của tôi lúc này là căn nhà xưởng lụp sụp của ông Bảy Mộc.
Nằm nép mình ở khúc cua hẹp nhất của hẻm 21, xưởng mộc của ông Bảy bao năm qua vẫn giữ nguyên cái dáng vẻ u ám tách biệt hẳn với sự náo nhiệt của chợ Bà Chiểu cách đó không xa. Bên ngoài hiên chất đầy những tấm ván gỗ dổi, gỗ vàng tâm bản lớn xếp nghiêng vào vách tường rêu mốc. Mùi gỗ mục, mùi dăm bào tươi ngai ngái quyện cùng mùi dầu rái nồng nặc phả ra ngoài mặt đường, tạo nên một thứ phong vị nặng nề đặc trưng của nghề đóng áo quan.
Tôi đứng trước tấm liếp nứa che cửa, cất tiếng gọi run rẩy:
"Bác Bảy ơi! Bác Bảy có nhà không?"
Bên trong gian xưởng tối om vang lên tiếng "ken két" chói tai của lưỡi cưa sắt cọ vào thớ gỗ cứng. Một bóng người gầy guộc, lưng còng rạp từ sau đống ván chầm chậm bước ra.
Ông Bảy Mộc xuất hiện trong chiếc áo bà ba đen bạc phếch thủng lỗ chỗ. Gương mặt ông chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh cày, hốc mắt bên trái lõm sâu xám đục vì một vết sẹo kéo dài từ chân mày xuống tận xương quai hàm. Bàn tay trái của ông lão chỉ còn ba ngón, hai ngón trỏ và ngón giữa đã bị cưa phạt cụt lủn sát tận khớp gốc từ hàng chục năm về trước.
Đôi mắt còn lành lặn của ông lão nheo lại nhìn tôi. Ngay khi nhận ra tôi là ai, đồng tử đục ngầu của ông co rút kịch liệt. Bàn tay cầm chiếc cưa sắt siết chặt đến mức các đường gân mu bàn tay nổi cộm lên xanh xao.
"Thằng Khải... con thằng Trực đấy à?" Giọng ông Bảy khàn đặc như tiếng hai mảnh kim loại rỉ sét cọ sát vào nhau. "Mày đến đây làm gì? Nhà họ Lê các người... sao còn chưa chịu rời khỏi cái đất dữ ấy đi?"
Tôi bước qua bậu cửa gỗ, mùi mạt cưa xộc thẳng vào mũi. Không chần chừ thêm một giây nào, tôi thò tay vào túi áo, rút ra mảnh giấy quyến úa vàng và lọn tóc bện sợi chỉ đỏ thẫm đặt lên mặt chiếc đòn kê gỗ bóng loáng mỡ bò.
"Cháu vừa tìm thấy thứ này dưới căn hầm sau nhà ông Thừa," tôi nói chậm rãi, cố giữ cho giọng mình khỏi run. "Ông nội cháu bỏ đi sáu tháng trước, để lại mảnh giấy này bảo cháu phải tìm bác. Bác Bảy, con chó trắng Khánh Hầu... rốt cuộc nó là thứ quái quỷ gì? Năm xưa ông nội cháu đã đào trúng cái gì ở nghĩa địa Bình Hòa?"
Ánh mắt ông Bảy Mộc rơi trúng lọn tóc bện chỉ đỏ. Toàn thân ông lão run bắn lên một cái, chiếc cưa sắt trong tay tuột khỏi lòng bàn tay rơi "keng" một tiếng chát chúa xuống sàn gạch đầy dăm bào.
Ông lảo đảo lùi lại hai bước, tựa lưng vào mép cỗ áo quan bằng gỗ dổi đóng dở. Khuôn mặt già nua bỗng chốc xám ngoét như màu tro tàn.
"Nó... nó đòi nợ đến đời mày rồi sao?" Ông Bảy lẩm bẩm, giọng đứt quãng trong hơi thở dốc. "Hết đời cha mày là thằng Trực... giờ đến lượt mày... Con súc sinh mũi đỏ ấy quyết diệt cho sạch gốc gác nhà họ Lê mới thôi..."
"Bác biết tất cả đúng không?" Tôi tiến lại gần một bước, cảm nhận rõ rệt sự hoảng loạn đang bóp nghẹt lấy ông lão thợ mộc. "Xin bác nói cho cháu biết! Đêm qua nó đã đứng trên nóc nhà, đầu đội nón mê, miệng ngậm dao nhọn gọi tên ông nội cháu. Nó còn cào cửa phòng cháu suốt đêm. Cháu không muốn chết như cha cháu mười năm trước!"
Ông Bảy Mộc thở hắt ra một hơi dài, đưa bàn tay cụt hai ngón lên ôm lấy vầng trán nhăn nheo. Ông bước tới chiếc bàn gỗ con đặt ở góc nhà, rót một bát nước chè xanh quánh đặc đã nguội ngắt, ực một hơi cạn đáy rồi mới ngước nhìn tôi bằng con mắt độc nhất còn lại. Ánh nhìn chứa chan nỗi sợ hãi lẫn sự chua chát khôn cùng.
"Ngồi xuống đi," ông lão chỉ vào chiếc ghế đẩu thấp bằng gỗ tràm. "Nghiệp chướng của ông nội mày... tao giấu kín trong bụng suốt hai mươi năm qua. Tao tưởng thằng Thừa trốn đi là giải thoát, ai ngờ lão lại để đứa cháu duy nhất ở lại chịu trận."
Tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên đầu gối.
"Năm ấy, khu nghĩa địa Bình Hòa chưa bị giải tỏa như bây giờ," ông Bảy bắt đầu kể, giọng chùng xuống thấp đến mức tôi phải căng tai ra mới nghe rõ từng lời. "Đó là một bãi tha ma bạt ngàn mồ mả vô chủ, lau sậy mọc lút đầu người, đầy rẫy những xác chết đói, chết bom đạn lẫn những ngôi mộ chôn vội của dân giang hồ tứ chiến. Ông nội mày là tay đào huyệt giỏi nhất vùng Gia Định lúc bấy giờ, ai chết cần huyệt sâu, huyệt hiểm đều tìm đến tay lão Thừa. Còn tao thì chuyên đóng áo quan giá rẻ cho những đám ma nghèo."
Ông lão ngừng lại, châm một điếu thuốc lá sâu kèn phả khói mù mịt vào không gian chật hẹp của xưởng gỗ. Tàn thuốc đỏ lập lòe soi rõ vết sẹo dài quái gở trên gò má ông.
"Vào một đêm mưa dầm tháng Bảy âm lịch, đúng năm con rồng giáp Thìn hai mươi năm trước," ngón tay run rẩy của ông Bảy gõ nhịp xuống mặt bàn. "Có một đám người lạ mặt bịt kín khăn rằn tìm đến tận nhà lão Thừa giữa đêm khuya. Bọn chúng mang theo một túi vàng lá, yêu cầu lão Thừa cùng tao đem đồ nghề vào sâu trong góc nghĩa địa Bình Hòa để đào một ngôi mộ sâu năm thước đất. Bọn chúng bảo là dời mộ tổ, nhưng khi tao tới nơi, tao mới biết đó là một ngôi mộ hoang không bia khắc, xung quanh cắm đầy những cọc tre vót nhọn bôi tiết gà đen."
Lồng ngực tôi thắt lại: "Đó là mộ của ai?"
"Một người đàn bà bị giết oan," giọng ông Bảy run lên bần bật, điếu thuốc trên môi run theo từng đợt rít. "Một kẻ chết trong uất nghẹn cùng cực, bị người ta vu oan giá họa rồi đem chôn sống ngay giữa đêm mưa gió nhiều năm trước đó. Oan hồn ấy mang theo một bụng oán thù ngút trời đối với nhân gian, chết mà hai mắt trợn trừng không chịu nhắm, mười đầu ngón tay cào nát cả nắp ván quan tài trước khi tắt thở."
Khói thuốc đặc quánh cuộn tròn trước mặt tôi, mang theo một cảm giác ớn lạnh kỳ lạ rịn dọc sống lưng.
"Đáng lẽ ra, một tay đào huyệt lão luyện như ông nội mày phải nhận ra điềm gở của ngôi mộ ấy," ông Bảy nghiến răng ken két, mắt quắc lên. "Khi nhát cuốc đầu tiên bổ xuống, đất nghĩa địa dưới chân đã bốc lên mùi thối khẳn của xác chết rữa lâu ngày lẫn mùi tanh của máu tươi. Đất cát xung quanh huyệt mộ đỏ au như phẩm nhuộm. Nhưng vì cái túi vàng lá của đám người kia, lòng tham đã làm mờ mắt lão Thừa. Lão vung xẻng xới tung từng tảng đất thịt mả mả, bất chấp những lời nguyền rủa rợn người vẳng lên từ cõi âm."
"Rồi chuyện gì xảy ra tiếp theo?" Tôi sốt ruột hỏi dồn.
"Khi lưỡi xẻng của lão Thừa cắm sâu xuống đáy huyệt ở tấc đất thứ năm," ông Bảy hạ giọng xuống thì thào, ánh mắt nhìn trân trối vào góc tối xưởng mộc như thể hình ảnh ghê rợn năm nào đang hiện về ngay trước mắt. "Lưỡi thép phạt đứt đôi xương sọ của bộ hài cốt bên dưới. Ngay tại vị trí nhát xẻng xới tung cốt tủy, một dòng máu đen ngòm đặc quánh bỗng từ dưới đáy mộ sâu phun trào ngược lên mặt đất. Thứ oán khí tích tụ hàng chục năm dưới mồ theo dòng máu đen ấy thoát ra ngoài, mùi tanh nồng cuộn lên nghẹt thở khiến tao và hai gã phu đào huyệt đi cùng nôn tháo nôn mửa ngay tại chỗ."
Ông lão xòe bàn tay trái bị cụt hai ngón ra trước mặt tôi.
"Nhát xẻng phạm vào cốt oan làm nứt toác nắp quan tài mục, một thanh sắt gỉ từ mép áo quan bật ngược lên chém đứt phăng hai ngón tay tao. Nhưng lão Thừa thì không hề hấn gì về thể xác. Lão đứng chết trân dưới đáy huyệt sâu, toàn thân bị máu đen và đất mả bắn ướt sũng. Đám người thuê đào huyệt vứt lại túi vàng rồi bỏ chạy tán loạn trong đêm. Lão Thừa gom vàng, nhặt cây xẻng dính đầy đất oán và máu đen đem về nhà ở hẻm 21."
Tôi nuốt một ngụm nước bọt cay đắng. Ký ức về căn hầm ngầm với chiếc xẻng sắt hoen rỉ quấn vải điều cắm chặt xuống nền đất đỏ lại hiện lên rõ mồn một.
"Đúng cái đêm lão Thừa vác cây xẻng dính oán khí ấy về," ông Bảy tiếp tục, giọng đanh lại. "Con chó mực nuôi giữ cửa trong nhà lão bỗng chuyển dạ đẻ non. Đất cát đáy mồ dính trên đế giày và lưỡi xẻng của lão Thừa rơi vãi đầy góc sân sau, ngấm thẳng vào ổ đẻ. Lứa chó bốn con thì ba con chết ngạt ngay trong bọc nhau, chỉ còn sót lại duy nhất một con chó dị tật. Nó chào đời đúng vào giờ Thìn hung hiểm, toàn thân phủ một lớp lông trắng muốt như tang trắng, mũi đỏ hồng ươn ướt như miếng thịt sống, hai mắt mở trừng trừng đỏ rực nhìn thẳng vào mặt lão Thừa."
Cổ họng tôi khô khốc: "Khánh Hầu..."
"Phải! Chính là con súc sinh ấy!" Ông Bảy đập mạnh ba ngón tay lành lặn xuống bàn gỗ. "Oán khí ngút trời của kẻ chết oan dưới đáy mộ sâu đã theo tấc đất dính trên lưỡi xẻng mà mượn xác con chó sơ sinh dị tật để đầu thai. Sinh vào giờ Thìn, mang dị tật bạch cẩu hồng tỵ, lại ngậm trúng tử khí của đất mả oan khuất, nó không còn là một con chó bình thường nữa. Nó chính là Quỷ Cẩu! Một thứ quái vật sinh ra từ lời nguyền rủa tuyệt tự, được nuôi dưỡng ngay trong lòng kẻ đã bức hại nơi an nghỉ của nó."
Một cơn lạnh buốt chạy dọc từ sống lưng lên đỉnh đầu tôi. Hóa ra sự hiện diện của con chó già hai mươi năm mù lòa kia chưa từng là sự trung thành hay gắn bó. Nó ở đó, nằm phục dưới mái hiên căn nhà trăm tuổi suốt hai thập kỷ qua chỉ để chờ đợi thời cơ đòi lại món nợ máu.
"Tại sao... tại sao ông nội cháu không giết nó ngay từ lúc nó mới sinh ra?" Tôi siết chặt nắm đấm, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay đến ứa máu.
"Giết sao được mà giết!" Ông Bảy cười gằn, nụ cười méo xệch trên khuôn mặt chột mắt. "Khi một con chó đã thành Quỷ Cẩu mang nghiệp đòi nợ, nếu mày vung dao giết nó, oán khí sẽ lập tức bộc phát xé nát toàn bộ người cùng huyết thống trong vòng ba ngày. Thằng Thừa biết rõ điều đó. Lão là thầy đào huyệt, lão hiểu cái giá phải trả cho việc cướp xương mồ mả. Cách duy nhất để hoãn nạn là phải dùng bùa dâng mạng, trói một phần sinh hồn của người ruột thịt vào chiếc nón mê để kìm hãm tà tính của nó."
Ông Bảy chỉ ngón tay run rẩy vào lọn tóc bện chỉ đỏ trên bàn:
"Thằng Trực... cha của mày... chính là vật thế mạng đầu tiên. Mười năm trước, khi con súc sinh ấy tròn mười tuổi, tà tính bắt đầu bộc phát khiến nó đứng thẳng hai chân cào nóc nhà. Lão Thừa vì sợ chết, sợ tuyệt tự, đã lén cắt tóc thằng Trực đem bện với chỉ bùa dâng mạng nhét vào chiếc nón mê rách của ngôi mộ hoang năm xưa. Thằng Trực chết bất đắc kỳ tử vì bị tà khí rút cạn dương thọ, phát bệnh sủa như chó rồi hộc máu đen mà chết. Nhờ cái chết của cha mày, con Quỷ Cẩu mới chịu nằm yên thêm mười năm nữa!"
Đầu óc tôi quay cuồng như vừa bị một búa tạ giáng thẳng vào màng tang.
Ký ức về những ngày cuối đời của cha tôi ùa về xé nát tâm can. Những tiếng ăng ẳng thảm thiết trong đêm sốt cao, những cơn co giật sùi bọt mép, và ánh mắt lạnh tanh không một giọt nước mắt của ông nội khi tự tay khiêng quan tài con trai mình ra huyệt mộ. Tất cả đều là sự toan tính độc ác, máu lạnh nhằm đổi mạng sống của con đẻ lấy sự an toàn cho bản thân.
"Sáu tháng trước," giọng ông Bảy trầm xuống đầy ám ảnh. "Con Khánh Hầu bắt đầu rụng hết lớp lông cũ, răng nanh dài ra chọc thủng khóe môi. Lọn tóc của thằng Trực đã hết linh nghiệm, bùa dâng mạng mất tác dụng. Con Quỷ Cẩu thức tỉnh hoàn toàn để đòi nốt cái mạng cuối cùng nhằm kết thúc lời nguyền tuyệt tự dòng họ Lê. Thằng Thừa biết mình không thể chống lại nghiệp báo dưới mồ, lão hèn nhát bỏ trốn trong đêm. Lão trốn đi, để mặc mày ở lại căn nhà đó làm mồi cho con quái thú!"
"Vậy... vậy cháu phải làm sao?" Tôi túm lấy mép bàn, hơi thở dồn dập trong lồng ngực rách toạc. "Cháu không thể ngồi chờ chết! Bác Bảy, bác bảo ông Thừa nói bác biết cách bẻ gãy huyết thệ năm xưa mà?"
Ông Bảy Mộc lắc đầu cay đắng, con mắt độc nhất nhìn tôi chằm chằm:
"Chặt đứt huyết thệ ư? Muốn bẻ gãy lời nguyền của Quỷ Cẩu, phải tìm lại được đúng bộ cốt oan dưới đáy mộ sâu nghĩa địa Bình Hòa năm xưa để làm lễ tạ tội, rồi dùng cây xẻng đã gây nghiệp chém đứt đầu con thú giữa giờ Thìn. Nhưng khu Bình Hòa giờ đã thành khu dân cư san sát nhà lầu, hài cốt năm xưa bị chôn vùi nơi nào ai mà tìm cho ra? Mày..."
Lời nói của ông lão thợ mộc bỗng khựng lại giữa chừng.
Con mắt độc nhất của ông Bảy trợn trừng lên, đồng tử giãn ra cực độ vì kinh hãi. Điếu thuốc lá trên tay ông rơi tõm xuống sàn gạch. Ông vươn bàn tay cụt hai ngón ra, run rẩy chỉ thẳng vào cánh tay phải của tôi:
"Cái... cái gì kia?!"
Tôi giật mình, cúi đầu nhìn theo hướng ngón tay ông lão.
Tay áo khoác của tôi bị kéo xếch lên một đoạn từ lúc nào. Ngay trên cẳng tay trần, tại vị trí mà giọt chất lỏng nhơn nhớt từ miệng con Quỷ Cẩu rơi trúng ban sáng dưới căn hầm ngầm, làn da của tôi không còn bình thường nữa.
Dưới lớp biểu bì trắng trẻo, năm vệt bầm tím sẫm xám ngoét đang hiện lên rõ mồn một. Những vệt bầm không phải tụ máu thông thường, mà in sâu thành hình năm chiếc móng vuốt chó sắc nhọn, ghim chặt vào thớ thịt tôi như một dấu triện âm ty vừa được nung đỏ đóng thẳng lên da thịt.
Xung quanh vết bầm hình móng vuốt, những đường gân máu màu đen li ti đang từ từ lan rộng ra như những nhánh rễ cây khô độc địa, cắm sâu dần vào tĩnh mạch hướng thẳng về phía tim.
"Móng vuốt Quỷ Cẩu..." Ông Bảy Mộc lảo đảo ngã ngồi xuống đống dăm bào, giọng nghẹn lại trong cổ họng như bị ai bóp nghẹt. "Mày... mày bị nó đánh dấu tử rồi! Máu đen của nó đã ngấm vào thịt mày! Con quỷ ấy không chờ đến hết tháng đâu... chậm nhất là đêm nay hoặc ngày mai, khi tà khí nhập tâm, mày sẽ tự tay cầm dao kết liễu đời mình để dâng mạng cho nó!"
Một cơn ớn lạnh buốt giá từ vệt bầm hình móng vuốt lan nhanh khắp cánh tay, khiến toàn bộ nửa người bên phải của tôi tê dại đi trong chốc lát. Cảm giác nhơn nhớt, tanh nồng ban sáng lại trỗi dậy mãnh liệt dưới lớp da thịt.
Tôi cắn chặt môi đến bật máu để kéo lại sự tỉnh táo đang chực tan biến. Nỗi sợ hãi tột cùng giờ đây chuyển hóa thành một cơn giận dữ điên cuồng. Cha tôi đã chết oan uổng vì sự ích kỷ của dòng họ này. Tôi không thể tiếp tục làm một con cừu non ngoan ngoãn nằm chờ chết trên thớt thịt của một con súc sinh đội lốt quỷ dữ.
"Nó muốn mạng của cháu?" Tôi gằn từng tiếng qua kẽ răng, đưa bàn tay trái siết chặt lấy cổ tay phải đang bầm tím. "Cháu sẽ không để nó toại nguyện dễ dàng như vậy đâu."
Tôi vơ lấy lọn tóc bện chỉ đỏ và mảnh giấy trên bàn nhét lại vào túi áo, rồi quay sang nhìn ông Bảy Mộc đang ngồi run rẩy dưới đất.
"Cảm ơn bác Bảy đã nói cho cháu biết ngọn nguồn. Nhưng cháu sẽ không bỏ chạy. Cháu phải tận mắt nhìn thấy con quái vật ấy hành động thế nào để tìm cách hạ gục nó."
Không đợi ông Bảy kịp can ngăn, tôi quay người bước phăm phăm ra khỏi căn xưởng mộc tối tăm. Ánh nắng gắt gao của buổi trưa Sài Gòn dội thẳng xuống mặt hẻm 21, nhưng cái nóng nung người ngoài phố không thể xua đi khối băng lạnh ngắt đang bám chặt trên cánh tay phải của tôi.
Thay vì quay trở về ngôi nhà cổ ngay lập tức, tôi rảo bước ra đường Phan Đăng Lưu, tìm đến một cửa hàng thiết bị an ninh điện tử lớn.
Bằng tất cả số tiền còn lại trong tài khoản, tôi mua ba chiếc camera giám sát giấu kín siêu nhỏ có mắt hồng ngoại nhìn đêm, kết nối trực tiếp với máy tính cá nhân qua sóng không dây.
Tôi phải nắm được mọi ngóc ngách hành tung của Khánh Hầu. Ban ngày nó là một con chó già mù lòa yếu ớt nằm thu mình dưới hiên khấu, nhưng khi màn đêm buông xuống, nó biến đổi ra sao, nó trèo lên mái nhà bằng cách nào và nó giấu con dao bầu ở đâu? Tất cả những điều đó phải được phơi bày ra ánh sáng.
Tôi ôm chiếc túi đựng thiết bị quay lén trở về hẻm 21 khi bóng nắng bắt đầu đổ dài về hướng tây.
Cánh cổng sắt căn nhà cổ trăm năm vẫn khép hờ. Dưới bóng râm của cây ngọc lan cổ thụ trước sân, con chó trắng già Khánh Hầu vẫn đang nằm phủ phục, hai mắt nhắm nghiền, chiếc mũi đỏ hồng ươn ướt hơi hếch lên đón gió.
Trông nó có vẻ vô hại và tội nghiệp như suốt hai mươi năm qua nó vẫn thế.
Nhưng tôi biết, chỉ vài tiếng đồng hồ nữa thôi, khi mặt trời lặn hẳn sau những rặng dừa nước ven kênh Nhiêu Lộc, khi ranh giới giữa ngày và đêm bị xóa nhòa, con quái thú này sẽ lại thức tỉnh.
Tôi siết chặt chiếc túi xách trong tay, bước qua bậc thềm rêu phong, bắt đầu chuẩn bị đặt những mắt thần theo dõi vào các góc chết xung quanh căn nhà, chờ đợi thời khắc chạng vạng buông xuống.