Quỷ Cẩu - Chương 10: Khánh Hầu - Con Chó Sinh Giờ Thìn
Đốm sáng đỏ lòm bên ngoài khe nan chớp chớp giật liên hồi rồi vụt tắt khi tiếng chuông đồng hồ nơi góc hành lang điểm bốn tiếng khô khốc. Bốn giờ sáng.…
Nội dung chương
Đốm sáng đỏ lòm bên ngoài khe nan chớp chớp giật liên hồi rồi vụt tắt khi tiếng chuông đồng hồ nơi góc hành lang điểm bốn tiếng khô khốc.
Bốn giờ sáng.
Một luồng gió thốc mạnh qua bờ ngói âm dương, kéo theo tiếng móng vuốt cào sột soạt lùi dần về phía mái hiên sau. Tiếng thở phì phò tanh tưởi dạt ra xa, chìm dần vào tiếng còi xe máy rền rĩ ngoài trục đường Phan Đăng Lưu vọng lại. Con thú đã tạm rút lui khi ranh giới giữa đêm đen và ngày mới bắt đầu rạn nứt.
Tôi ngồi bệt trên mặt phản gỗ, lưng áo ướt sũng mồ hôi dính chặt vào da thịt lạnh ngắt. Hai bàn tay tôi co quắp, các đốt ngón tay cứng đờ vì ghì chặt cây thước thép suốt hai tiếng đồng hồ. Tôi thả lỏng từng ngón tay, nghe tiếng khớp xương kêu lục cục rợn người.
Khánh Hầu chưa hề rời khỏi căn nhà này. Nó chỉ tạm thời lùi vào bóng tối của góc sân hoặc nấp dưới những mái ngói rêu phong để chờ thời điểm ác nghiệt nhất. Lời khóc hờ ma quái khi nãy vẫn văng vẳng bên tai: nghiệp đào mả cướp xương của ông Thừa đã đến ngày đòi nợ tuyệt tự.
Nếu tôi cứ trốn tiệt trong căn phòng ngủ này, chờ con quỷ cẩu phá tung then cài xông vào, tôi cầm chắc cái chết.
Tôi vơ lấy chiếc đèn pin sạc loại lớn đặt trên bàn làm việc, nhét thêm con dao gọt hoa quả cán gỗ vào túi quần sau. Tôi cần tìm ra sự thật về con chó già hai mươi năm tuổi đó. Căn hầm ngầm của ông nội nằm sâu dưới nền gạch tàu gian nhà sau là nơi duy nhất cất giấu bí mật về nghề đào huyệt cùng những giao kèo u ám mà ông chưa từng hé môi với con cháu.
Tôi đẩy nhẹ cánh cửa phòng ngủ, bước ra hành lang tầng hai.
Mặt sàn gỗ lim trăm tuổi lạnh như băng áp vào lòng bàn chân trần. Tôi rón rén men theo từng bậc cầu thang uốn lượn, né tránh những chỗ gỗ mục có thể phát ra tiếng kêu cót két. Bóng tối dưới tầng trệt đặc quánh, bốc lên mùi ẩm mốc của tường vôi bong tróc và mùi nhang tàn lạnh lẽo từ gian thờ tổ tiên.
Bàn thờ họ Lê ngự sừng sững giữa gian chính. Đèn dầu hạt đỗ leo lét rọi lên bài vị sơn son thếp vàng của các cụ, hắt những bóng đen méo mó lên vách gỗ. Tôi bước qua gian giữa, cố không nhìn vào cặp mắt vô hồn của bức di ảnh ông Thừa treo trên tường, tiến thẳng xuống gian nhà sau.
Gian nhà sau là nơi trước đây ông Thừa dùng làm xưởng sửa chữa đồ đạc và cất giữ những vật dụng lặt vặt. Nền nhà lát bằng những viên gạch tàu đỏ au cỡ lớn, nhiều chỗ đã mòn vẹt và nứt toác theo năm tháng.
Tôi bấm nút bật đèn pin. Luồng ánh sáng trắng quét qua chiếc chạn bát bằng gỗ mục, đống chum vại sứt mẻ nằm chỏng chơ nơi góc tường, rồi dừng lại ở một góc khuất sát chân tường phía đông. Nơi đó đặt một tấm phản gỗ gõ đỏ dày nửa gang tay, mặt gỗ phủ đầy bụi bặm và mạng nhện giăng chằng chịt.
Dưới tấm phản này chính là cửa hầm.
Hồi tôi mười tuổi, có lần tôi lén đi theo ông nội xuống gian nhà sau, tận mắt thấy ông dời tấm phản sang một bên rồi chui tọt xuống lòng đất. Khi phát hiện tôi nhìn trộm, ông đã tát tôi một cái nảy lửa, kèm theo lời đe nẹt cấm tôi bén mảng tới góc nhà này nếu không muốn bị "quỷ dưới đất bẻ cổ".
Tôi đặt cây thước thép xuống đất, hai tay ôm lấy mép tấm phản gỗ gõ đỏ, dồn hết sức bình sinh nghiến răng kéo mạnh.
Mặt gỗ cọ xát vào nền gạch tàu phát ra tiếng rít ken két chói tai. Bụi bặm bay mù mịt làm tôi ho sù sụ. Tôi cắn răng kéo thêm một nhịp nữa, đẩy tấm phản lệch ra ngoài chừng nửa mét.
Một khung sắt vuông vức chôn ngập dưới nền gạch hiện ra. Nắp hầm làm bằng gỗ lim dày cộp bọc viền sắt rỉ sét, có một khoen tròn bằng đồng thau đen sì nằm thụt sâu vào trong thớ gỗ.
Tôi nắm lấy khoen đồng, giật mạnh lên.
Nắp hầm nặng trịch bật mở, để lộ một khoảng tối đen ngòm sâu hoắm.
Cùng lúc đó, một luồng tử khí buốt giá xộc thẳng lên mũi tôi. Đó là mùi đất mùn lâu năm ngâm trong nước hôi thối, mùi kim loại hoen rỉ và một thứ mùi ngai ngái khó tả, tanh tưởi tựa như mùi quần áo liệm của người chết chôn lâu ngày dưới sâu lòng đất. Tôi bụm miệng nôn khan, dạ dày thắt lại từng cơn.
Tôi rọi đèn pin xuống dưới.
Một cầu thang xây bằng gạch thẻ dẫn sâu xuống lòng đất khoảng ba mét. Những bậc thang phủ đầy rêu xanh trơn trượt, hai bên vách đất ẩm ướt đọng lại những giọt nước đùng đục như mủ.
Tôi liếc nhìn chiếc đồng hồ đeo tay: năm giờ mười lăm phút sáng. Trời bên ngoài chỉ mới hưng hửng rạng, ánh sáng mờ đục chưa đủ xua đi bóng ma quỷ. Giờ Thìn - khung giờ hung hiểm bắt đầu từ bảy giờ sáng - đang tiến lại rất gần.
Tôi cầm chắc đèn pin và cây thước thép, cẩn thận đặt chân xuống bậc thang gạch đầu tiên.
Bậc thang trơn như bôi mỡ. Tôi phải bám tay vào vách tường ẩm nhớp nháp để giữ thăng bằng. Từng bước, từng bước, tôi tụt dần xuống lòng hầm tối tăm. Nhiệt độ xung quanh giảm xuống đột ngột, lạnh buốt thấu tận xương tủy.
Căn hầm rộng khoảng chừng mười mét vuông, trần hầm thấp đến mức tôi phải khom lưng mới không bị chạm đầu vào những thanh dầm gỗ đỡ sàn nhà bên trên. Khắp bốn bề vách đất đều cắm những cọc tre vót nhọn, trên đầu mỗi cọc tre treo một chuỗi tiền xu cổ gỉ xanh và những lá bùa màu vàng úa đã mục rữa, chữ mực tàu trên bùa nhòe nhoẹt không còn đọc rõ.
Giữa căn hầm đặt một chiếc bàn gỗ chân quỳ. Trên bàn la liệt những dụng cụ kỳ quái của nghề đào huyệt: một lưỡi xẻng cán ngắn bằng thép tôi đen bóng nhưng mép bị mẻ nham nhở, vài chiếc bay hồ xây mả dính đầy vôi vữa khô khốc, một cuộn dây dọi bằng sợi gai thắt nút liên tiếp, và ba chiếc hũ sành nhỏ bịt kín miệng bằng vải đỏ.
Dưới gầm bàn chân quỳ, một chiếc hòm gỗ căm xe to lớn nằm im lìm trong bóng tối.
Chiếc hòm này dài khoảng một mét hai, bốn góc bịt đồng thau dày bản, chạm khắc hoa văn đầu dã thú dữ tợn. Một ổ khóa đồng cổ to bằng bàn tay khóa chặt nắp hòm. Trên thân ổ khóa, ai đó đã dùng vật nhọn khắc chằng chịt những ký tự phù chú ngoằn ngoèo, xung quanh rãnh chữ còn bám những vệt màu nâu sẫm khô cứng của máu đọng.
Tôi quỳ xuống trước chiếc hòm, đưa tay chạm vào then khóa.
Ổ khóa lạnh ngắt như một tảng băng. Tôi thử giật mạnh nhưng then đồng vẫn trơ trơ không nhúc nhích. Không có chìa khóa, việc mở một ổ khóa cổ dày dặn như thế này trong thời gian ngắn là điều bất khả thi.
Tôi đảo mắt nhìn quanh bàn đồ nghề, phát hiện chiếc xẻng đào đất cán ngắn có một đầu xà beng nhọn hoắt dùng để bẩy đá khi đào huyệt. Tôi cầm chiếc xẻng lên, chèn đầu nhọn vào giữa khe hở của tai khóa và nắp hòm gỗ, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể đè mạnh xuống cán sắt.
"Rắc!"
Tiếng kim loại gãy giòn tan xé toạc không gian ngột ngạt dưới lòng đất. Tai khóa bằng đồng bị bẩy bật tung ra khỏi thớ gỗ mục, rơi choang xuống nền đất ẩm.
Tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực. Tôi hít một hơi dài đầy mùi tử khí tanh nồng, chầm chậm đẩy nắp hòm căm xe lên.
Bên trong hòm chứa một lớp vải điều màu đỏ tươi, dù nằm dưới đất hàng chục năm nhưng màu vải vẫn đỏ rực một cách quái đản, không hề phai nhạt. Đặt ngay ngắn trên lớp vải điều là một cuốn sổ tay bìa bọc da bò thô ráp, bên cạnh là một cuộn giấy bản cuộn tròn, buộc bằng một sợi chỉ ngũ sắc đã tưa mép.
Tôi run rẩy nhấc cuộn giấy bản lên, tháo nút thắt chỉ ngũ sắc rồi trải rộng ra mặt nắp hòm dưới ánh đèn pin.
Mặt giấy vàng ố loang lổ những vệt sáp nến niêm phong màu huyết dụ. Ngay dòng đầu tiên, nét chữ mực tàu chân phương nhưng run rẩy của ông Lê Văn Thừa hiện ra rõ mòn mọt:
*"Bản tự lập thệ: Kỷ Mão niên, Thất nguyệt, thập ngũ nhật. Khắc đầu giờ Thìn hung nhật."*
Tôi nín thở đọc tiếp từng dòng chữ ghi chép đầy u uất:
*"...Đào trúng huyệt sâu mả vô chủ tại khu nghĩa địa gò mả Bình Hòa. Đụng phải oan cốt người đàn bà chôn đứng, oán khí xung thiên kết tụ thành trùng độc. Lưỡi xẻng chạm vào sọ người phát ra tiếng kêu khóc, máu đen rỉ ngập đáy huyệt. Thầy pháp phán: Nhà họ Lê nghiệp chướng đào mồ cuốc mả đã chất chồng quá ba đời, nay đụng vào oan hồn huyết hận, ắt chuốc lấy đại họa tuyệt tự diệt vong.*
*Muốn hoãn kỳ hạn đền mạng, buộc phải lập thệ rước Quỷ Cẩu về trấn trạch. Đúng khắc đầu giờ Thìn ngày rằm tháng Bảy, tìm cho kỳ được con chó dị tật lông trắng tuyền mũi đỏ hồng sinh ra từ bụng chó mẹ chết nghẹn dưới bùn sâu. Con vật này là Bạch Cẩu Hồng Tỵ, mang chân mệnh quỷ dữ, sinh vào giờ Thìn nghịch thiên sẽ hút hết oán khí của lòng đất.*
*Nuôi nó bằng cơm thừa đầu mả, tắm cho nó bằng nước rã hài cốt suốt hai mươi năm. Hai mươi năm sau, vào đúng ngày giờ nó ra đời, nghiệp báo sẽ bùng phát trọn vẹn. Hoặc là người nhà họ Lê chết sạch không còn một mống để đền mạng cho oan hồn gò mả, hoặc là Quỷ Cẩu đoạt mạng kẻ đứng đầu dòng tộc..."*
Tôi chết lặng giữa căn hầm tăm tối. Mắt tôi dán chặt vào dòng chữ *"Bạch Cẩu Hồng Tỵ"* và cái mốc thời gian hai mươi năm trước.
Khánh Hầu.
Con chó già mù lòa mà tôi vẫn nghĩ là thú cưng hiền lành ông nội nuôi dưỡng, hóa ra từ đầu đến cuối không hề là một sự tình cờ. Nó là một con quái vật được ông Thừa cố tình tìm kiếm, đón nhận và nuôi lớn bằng thứ tà thuật ghê tởm để dời dội cái án tuyệt tự của dòng họ Lê lùi lại hai mươi năm.
Hai mươi năm đã trôi qua. Và hôm nay chính là thời điểm giao kèo máu ấy đến hạn thanh toán.
Khánh Hầu sinh vào khắc đầu giờ Thìn. Giờ Thìn là từ bảy giờ đến chín giờ sáng. Con quái vật đội nón mê ngậm dao nhọn xuất hiện trên nóc nhà lúc ba giờ sáng chỉ là điềm báo, là khúc dạo đầu để tập hợp âm khí.
Thời điểm thực sự nó ra tay đoạt mạng kẻ nối dõi dòng họ Lê - thời điểm sức mạnh của Quỷ Cẩu hung hãn nhất - chính là giờ Thìn sáng nay.
Đầu óc tôi quay cuồng dữ dội. Tay tôi run rẩy làm rơi cuộn giấy bản xuống đáy hòm.
Tờ giấy rơi xuống làm xô lệch tấm vải điều màu đỏ rực lót dưới đáy rương. Bên dưới lớp vải điều, một vật thể sần sùi cộm lên bất thường đập vào mắt tôi.
Tôi nuốt nước bọt, thò tay lật phắt tấm vải điều sang một bên.
Dưới đáy hòm gỗ căm xe không còn tài liệu nào khác.
Nằm co quắp ở đó là một chiếc nón lá rách nát tơi tả. Vành nón bằng nan tre gãy vụn nhiều đoạn, các lớp lá cọ mục ruỗng bám đầy đất bùn đen kịt của mồ mả, tanh nặc mùi xác chết thối rữa. Đó chính là một chiếc nón mê - chiếc nón mê giống hệt thứ mà cái bóng trắng ma quái trên nóc nhà đã đội trên đầu trong những đêm kinh hoàng vừa qua.
Bên trong lòng chiếc nón mê rách nát, người ta đặt một gói vải đen nhỏ bằng nắm tay.
Tôi run rẩy nhấc gói vải đen lên. Vải bọc bằng lụa thô, được buộc chéo góc bằng một sợi chỉ màu đỏ tươi. Khi ngón tay tôi chạm vào sợi chỉ đỏ, một cảm giác lạnh buốt chạy dọc từ đầu ngón tay xộc thẳng vào tim, làm lồng ngực tôi đau nhói như bị kim chích.
Tôi gỡ nút thắt chỉ đỏ, mở lớp vải đen ra.
Bên trong là một lọn tóc người đen nhánh, dài chừng một gang tay, được bện chặt lại với nhau bằng sợi chỉ đỏ thẫm. Đi kèm với lọn tóc là một mảnh thẻ bài bằng gỗ thị nhỏ xíu, trên mặt gỗ khắc sâu bốn chữ Hán cùng một dòng chữ quốc ngữ viết bằng mực tàu sắc nhọn:
*"Lê Văn Trực - Sinh năm Quý Mão, tuyệt mạng năm Giáp Ngọ."*
Lê Văn Trực.
Đó là tên cha tôi.
Mắt tôi cay xè, cổ họng nghẹn ứ không thở nổi. Mười năm trước, cha tôi qua đời đột ngột vì một cơn bạo bệnh kỳ lạ. Ông sốt cao liên tục suốt bảy ngày bảy đêm, toàn thân co giật, miệng sủa lên những tiếng ăng ẳng quái đản rồi nôn ra máu đen mà chết. Khi ấy tôi mới mười tám tuổi, ông nội Thừa đứng trước quan tài cha tôi không rơi một giọt nước mắt, chỉ lặng lẽ cầm xẻng tự tay đào huyệt chôn con trai mình giữa đêm khuya thanh vắng.
Tôi từng nghĩ cái chết của cha tôi chỉ là do số phận nghiệt ngã.
Chẳng phải số phận nào cả. Cha tôi chết vì bị ông nội dùng làm vật thế mạng để kéo dài sự tồn tại của con Quỷ Cẩu thêm mười năm nữa. Lọn tóc người bện chỉ đỏ này chính là bùa dâng mạng, trói buộc sinh hồn của cha tôi vào chiếc nón mê mồ mả của Khánh Hầu.
Một sự ghê tởm tột cùng bùng lên xé nát tâm can tôi. Căn nhà cổ trăm năm này, dòng họ Lê này, tất cả đều được xây dựng và duy trì trên máu me, sự phản bội và những lời nguyền rủa đen tối dưới đáy mồ.
Đúng lúc đó, từ bên dưới đáy chiếc nón mê, một mảnh giấy quyến mỏng manh rơi ra ngoài.
Tôi nhặt mảnh giấy lên soi dưới ánh đèn pin. Nét chữ trên giấy vội vã, nguệch ngoạc hơn hẳn, có vẻ được viết ngay trước ngày ông Thừa mất tích sáu tháng trước:
*"Nghiệp báo đã tới cổ. Bạch cẩu hồng tỵ đã thức tỉnh hoàn toàn, mắt chuyển đỏ máu, răng nanh mọc dài. Hồn ma Trực không còn giữ chân được nó nữa. Tao phải đi, không thể ở lại nhìn cảnh tuyệt tự.*
*Nếu thằng Khải đọc được những dòng này: Muốn chặt đứt huyết thệ, hãy tìm Bảy Mộc thợ đóng áo quan ở đầu hẻm 21 Bùi Hữu Nghĩa. Lão Bảy là người duy nhất nắm giữ nhát xẻng năm xưa tại nghĩa địa Bình Hòa. Lão biết cách..."*
Chữ viết dừng lại đột ngột ở đó, đuôi nét mực kéo dài một vệt dài như thể người viết bị ai đó lôi giật đi giữa chừng.
Bảy Mộc.
Ông Bảy thợ mộc già đầu hẻm 21.
Cái tên bỗng chốc đánh mạnh vào ký ức tôi. Suốt bao nhiêu năm lớn lên ở con hẻm cổ này, tôi vẫn thường thấy ông Bảy ngồi cưa gỗ đóng những cỗ áo quan bằng gỗ dổi, gỗ vàng tâm trước cửa căn nhà lụp sụp đầu hẻm. Ông lão ít nói, chột một mắt, trên bàn tay trái bị cụt mất hai ngón, lúc nào cũng nhìn vào căn nhà cổ của họ Lê bằng ánh mắt u uẩn, căm giận lẫn sợ hãi.
Tôi gấp vội mảnh giấy nhét vào túi áo ngực cùng với lọn tóc của cha tôi.
Phải tìm ông Bảy thợ mộc. Chỉ có ông ta mới biết ngọn ngành nhát xẻng đào trúng oan hồn năm xưa và bí mật để tiêu diệt con quái vật Khánh Hầu.
Đột nhiên, chiếc đồng hồ trên tay tôi phát ra tiếng bíp báo giờ.
Sáu giờ ba mươi phút sáng.
Chỉ còn nửa tiếng nữa là bước sang giờ Thìn.
Ngay khi tiếng chuông đồng hồ vừa dứt, từ trên trần hầm, một âm thanh vang lên dồn dập khiến toàn thân tôi đông cứng lại thành băng.
"Lộc cộc... lộc cộc... lộc cộc..."
Đó không phải tiếng bước chân trên mái nhà.
Đó là tiếng móng vuốt cào rột rẹt ngay trên mặt sàn gạch tàu của gian nhà sau. Con vật đang đứng ngay trên miệng hầm.
Nó đã mò vào tận trong nhà.
Tôi nín thở, tắt phụt đèn pin. Không gian căn hầm sụp xuống bóng tối đen như mực. Mùi đất ẩm và mùi tử khí càng lúc càng nồng nặc đến mức nghẹt thở.
Trên miệng hầm, khoảng sáng mờ nhạt từ gian nhà sau hắt xuống bị một bóng đen to lớn che khuất hoàn toàn.
Một cái bóng mang hình thù quái dị in hằn trên nền gạch: một sinh vật đứng thẳng bằng hai chân sau, trên đầu đội một chiếc nón lá rách tơi tả, và từ trong miệng nó, ánh thép của một lưỡi dao bầu sáng loáng phản chiếu những tia sáng lạnh lẽo cuối cùng của màn đêm.
Tiếng thở phì phò nặng nhọc vọng thẳng xuống đáy hầm sâu:
"Khè... khè... phì..."
Một giọt chất lỏng nhơn nhớt, tanh nồng mùi máu tươi từ trên miệng hầm rơi xuống, trúng ngay mu bàn tay tôi.
Chiếc đồng hồ điểm sang sáu giờ bốn mươi lăm phút.
Giờ Thìn hung hiểm đã bắt đầu gõ cửa.