QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 1: Về nhà cổ
Chiều mùng năm tháng chín, Trần Thu Hà xin nghỉ ở ủy ban xã rồi bắt chuyến xe cuối cùng về Hạ Trạch. Xe chạy dọc đê sông Đáy, nước sông sau mấy trận mưa…
Nội dung chương
Chiều mùng năm tháng chín, Trần Thu Hà xin nghỉ ở ủy ban xã rồi bắt chuyến xe cuối cùng về Hạ Trạch. Xe chạy dọc đê sông Đáy, nước sông sau mấy trận mưa đầu tháng đã dâng lên gần sát mặt bãi, đục ngầu màu đất. Hai bên đường, ruộng ngô đang vào vụ cuối, lá xào xạc trong gió sông. Hà ôm ba lô trên đùi, trong ba lô có hai bộ quần áo, cuốn sổ tay bìa vải và hộp thuốc bổ cô mua ở hiệu thuốc huyện cho cụ cố. Suốt dọc đường, điện thoại trong túi rung mấy lần, đều là tin nhắn của bố cô, ông Trần Văn Lương, ngắn gọn như cách ông vẫn nói chuyện với con gái.
- Cụ yếu hơn hôm qua. Con về thẳng nhà, đừng ghé đâu.
Hà nhìn dòng tin ấy rất lâu. Cụ cố Trần Văn Thịnh năm nay đã chín mươi tuổi. Từ đầu mùa xuân, cụ bắt đầu ăn ít đi, rồi bỏ dần bữa sáng, rồi chỉ nằm nhiều hơn ngồi. Bác sĩ ở trạm y tế xã đến khám, chỉ lắc đầu nói người già như ngọn đèn đã cạn dầu, không có bệnh gì cụ thể để chữa, chỉ là sức đã hết. Cả họ Trần ai cũng hiểu câu nói ấy nghĩa là gì, nhưng không ai nói thẳng ra trong nhà cổ. Người ta chỉ lặng lẽ thay nhau qua lại, người mang cháo, người mang lá xông, người ngồi bóp chân cho cụ rồi ra sân ngồi thở dài.
Nhà cổ họ Trần hiện ra cuối con ngõ gạch, sau rặng tre đã ngả vàng một phía. Căn nhà ba gian gỗ lim dựng từ năm 1911, tính đến nay đã hơn một trăm năm, qua ba đời người ở. Mái ngói âm dương phủ rêu ở những chỗ khuất nắng, cột lim sẫm màu như thấm dầu, chạm trổ ở vì kèo không cầu kỳ nhưng chắc và nặng. Hà đã đi qua cánh cổng gỗ này không biết bao nhiêu lần từ bé đến lớn, vậy mà chiều nay bước vào, cô bỗng thấy sân gạch rộng hơn mọi ngày, và khoảng lặng trong nhà cũng sâu hơn mọi ngày.
Gian giữa là gian quan trọng nhất của căn nhà. Bàn thờ gia tiên đặt sát vách trong, bài vị xếp theo thứ bậc, bát hương đồng đã lên nước đen bóng vì khói hương nhiều năm. Trước bàn thờ là bộ trường kỷ gỗ, chiếc giường gỗ lim kê ở phía bên phải là nơi cụ cố vẫn nằm nghỉ ban ngày khi còn khỏe, để con cháu đến thăm thì cụ ngồi dậy tiếp chuyện. Phía trước nhà, qua khoảng sân và hàng cau, là dải đất mặt sông, phần đất rộng và bằng phẳng nhất của họ Trần, nhìn thẳng ra bến nước. Người trong làng vẫn nói đất ấy là đất ngắm sông, dựng nhà hay mở quán đều có giá, nên bao năm nay cò đất cứ ra vào gạ gẫm. Cụ cố còn khỏe ngày nào, cánh cổng nhà này đóng với họ ngày ấy.
Cụ cố nằm trong gian buồng bên trái. Căn buồng nhỏ, cửa sổ mở ra vườn sau, rèm vải đã giặt nhiều lần đến bạc màu. Cụ gầy đến mức chiếc áo nâu sồng khoác trên người như rộng ra thêm một cỡ, xương gò má nhô cao, đôi tay đặt trên chăn chỉ còn da bọc lấy xương, gân xanh nổi rõ. Nhưng mắt cụ vẫn sáng. Thấy Hà bước vào, cụ khẽ động đậy đầu ngón tay, môi mấp máy.
- Hà đấy à. Về được mấy hôm?
- Con xin nghỉ một tuần, cụ ạ. Hết tuần này con ở nhà với cụ, thiếu đâu con xin thêm.
Hà ngồi xuống mép giường, nắm lấy bàn tay lạnh của cụ. Cô làm văn thư ở xã đã bốn năm, quen với giấy tờ, con dấu, những buổi tiếp dân ồn ào từ sáng đến chiều, vậy mà về đến căn buồng này, mọi thứ trong cô đều chậm lại. Cô đỡ cụ nhấp một ngụm nước ấm, lấy khăn thấm khóe miệng cho cụ, rồi kể mấy chuyện lặt vặt ngoài xã để cụ nghe cho đỡ vắng. Cụ nghe một lúc, mắt lim dim, thỉnh thoảng lại hỏi một câu không đầu không cuối về ruộng bãi, về cây mít sau nhà, về con cháu đứa nào đã về, đứa nào chưa.
Ngoài gian giữa, người nhà đã bắt đầu tụ lại. Bà Nguyễn Thị Hảo, vợ ông Lương, tất bật dưới bếp, vừa thổi lửa vừa sai người rửa ấm chén. Ông Lương đứng ở hiên, tiếp mấy người họ hàng sang thăm, giọng ông trầm và ít, ai hỏi cụ thế nào ông chỉ đáp cụ yếu, các bác vào thăm cụ khẽ thôi. Bà Trần Thị Liên, con gái út của cụ, lấy chồng làng bên, cũng đã về từ buổi trưa, đang ngồi gấp lại mấy chiếc khăn mặt. Vợ chồng ông Trần Văn Bính, con thứ của cụ, ở ngay nhà bên, qua lại như người trong nhà. Chị Nguyễn Thị Phượng, vợ của Hiệp, bế đứa con nhỏ đứng nép ở cửa bếp, thỉnh thoảng lại nhìn ra cổng như chờ chồng.
Trần Văn Hiệp về muộn nhất, khi trời đã sẩm tối. Hắn đi xe máy vào sân, dựng xe sát gốc cau, áo sơ mi còn nguyên nếp gấp như vừa từ đâu về chứ không phải đi làm cả ngày. Hắn vào buồng chào cụ một câu, đứng chưa đầy hai phút đã ra ngoài hiên nghe điện thoại. Hà qua khe cửa nhìn thấy hắn đi đi lại lại ngoài sân, giọng hạ thấp, nét mặt căng thẳng, rồi tắt máy đứng lặng một lúc lâu nhìn ra phía đất mặt sông. Cô không nghe được hắn nói gì, chỉ thấy khi quay vào nhà, hắn đã đổi sang nét mặt khác, cười nói với mọi người như không có chuyện gì.
Buổi chiều, hàng xóm lác đác sang thăm. Bà Tư ở đầu ngõ mang sang nắm lá ngải cứu, dặn giã lấy nước cho cụ lau người. Ông trưởng thôn ghé vào, ngồi ở trường kỷ uống chén nước chè, nói chuyện mùa màng vài câu rồi hạ giọng hỏi ông Lương sau này có việc gì thì cứ gọi xóm làng. Hà đứng ở cửa buồng nghe những lời thăm hỏi ấy, lòng càng nặng. Người làng Hạ Trạch sống với nhau bằng cái tình ấy đã nhiều đời, ai có việc tang ma là cả xóm thay nhau phụ giúp, không cần mời gọi. Nhưng cũng chính vì thế, một khi nhà nào có chuyện, cả làng đều biết, không giấu đi đâu được.
Hà tranh thủ lúc cụ ngủ, đi một vòng quanh nhà như để nhớ lại từng góc. Cô sờ tay lên cột lim mát lạnh, nhìn lên vì kèo đã ám khói, ngửi thấy mùi gỗ già và mùi hương trầm thoang thoảng không lúc nào dứt trong gian giữa. Ở góc buồng thờ nhỏ phía trong, chiếc hộp gỗ đựng gia phả họ Trần đặt trên kệ cao, khóa đã gỉ. Cụ cố lúc còn khỏe vẫn tự tay chép gia phả, nét chữ của cụ đều và cứng, chép tới đời cháu chắt không sót một tên. Nay mắt cụ đã mờ, tay đã run, cuốn gia phả nằm im trong hộp như một phần của căn nhà, chờ người khác tiếp lấy. Hà đứng nhìn chiếc hộp rất lâu, rồi mới quay ra sân.
Ngoài vườn sau, chuồng trâu của nhà đã bỏ trống từ ngày ông Lương bán con trâu già năm ngoái, chỉ còn lại máng cỏ khô và mùi rơm mục. Gió từ sông thổi vào qua vườn, mang theo hơi nước và mùi bùn non. Hà nghe tiếng ai đó lạch cạch ở phía sau chuồng, ngoảnh lại thì không thấy người, chỉ thấy bóng tre lay động. Cô đứng một lúc, tự nhủ mình đi xa nhà lâu ngày nên cảnh cũ cũng thành lạ, rồi quay vào khi nghe tiếng bà Hảo gọi bày mâm.
Bữa cơm tối hôm ấy dọn ở gian giữa, mâm cơm đặt trên phản, người ăn người không, phần lớn chỉ ngồi cho có mặt. Ông Lương gắp cho cha một bát cháo loãng mang vào buồng, rồi quay ra ngồi trầm ngâm ở đầu bàn. Bà Hảo nói mấy câu về việc ngày mai ai ra chợ mua gì, ai ở nhà trông cụ, tiếng nói cố giữ cho bình thường mà vẫn lộ ra sự mệt mỏi của nhiều ngày thức đêm. Hà biết cả nhà đang sống trong một khoảng chờ. Không ai nói ra chữ ấy, nhưng ai cũng hiểu, cụ cố chín mươi tuổi, suy kiệt đã nhiều tháng, lần trở về này của con cháu không giống những lần giỗ chạp sum họp trước đây.
Ăn xong, Hà mang bát cháo thứ hai vào buồng cho cụ. Cụ ăn được vài thìa rồi lắc đầu. Cô đặt bát xuống, kéo lại chăn cho cụ, định đứng dậy thì bàn tay gầy guộc của cụ bất ngờ nắm chặt lấy cổ tay cô. Sức nắm không mạnh, nhưng dứt khoát, như người dồn hết phần tỉnh táo còn lại vào một việc duy nhất. Cụ nhìn thẳng vào mắt Hà, đôi mắt già nua mà sáng lạ thường trong ánh đèn dầu đặt ở đầu giường.
- Hà, nghe cụ nói đây. Nhà này không bán, nghe chưa.
Cụ nói chậm, rõ từng chữ, ngừng một chút giữa câu như để chắc chắn cháu gái đã nghe đủ.
- Đất mặt sông cũng không bán. Ruộng bãi chia thế nào cụ đã nói cả rồi. Sau này đứa nào trong nhà nhắc chuyện bán, con phải nhớ lời cụ hôm nay. Nhà này là nhà thờ, không phải của để dành bán đi chia nhau.
Hà gật đầu, cổ họng nghẹn lại. Cô định nói mấy lời an ủi như người ta vẫn nói với người già, rằng cụ cứ yên tâm dưỡng bệnh, nhà cửa đã có bác cả lo, nhưng nhìn vào mắt cụ, cô biết cụ không cần nghe những lời ấy. Cụ đang dặn dò như dặn một việc phải làm, không phải đang than thở. Cô nắm lại bàn tay cụ bằng cả hai tay mình.
- Con nhớ rồi, cụ ạ. Nhà không bán, đất mặt sông không bán. Con nhớ từng chữ.
Cụ cố khẽ gật đầu, bàn tay trong tay cô dần buông lỏng. Một lát sau, cụ thiếp đi, hơi thở mỏng và đều, khuôn mặt giãn ra như vừa trút được một gánh nặng đã mang nhiều năm. Hà ngồi thêm một lúc bên giường, nghe tiếng côn trùng ngoài vườn, tiếng người nhà nói chuyện khẽ ngoài gian giữa, tiếng gió sông thổi qua rặng tre sau nhà. Cô mở cuốn sổ tay bìa vải mang theo, ghi vào trang đầu, chậm rãi và cẩn thận như cách cô vẫn ghi biên bản ở xã: ngày mùng năm tháng chín, cụ cố dặn, nhà cổ và đất mặt sông không bán. Ghi xong, cô gấp sổ lại, nhìn ra khoảng sân tối ngoài kia, nơi dải đất mặt sông nằm im trong bóng đêm, rộng và lặng như một lời hứa mà cả họ này sẽ phải giữ, dù cụ cố còn ở lại với con cháu được bao lâu nữa.
---