QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 3: Lệ canh xác

Ngày mùng chín tháng chín, cụ cố vẫn nằm yên trong gian buồng, hơi thở mỗi ngày một mỏng hơn. Trần Thu Hà ở lại nhà cổ đã được bốn hôm, dần quen với nhịp…

Nội dung chương

Ngày mùng chín tháng chín, cụ cố vẫn nằm yên trong gian buồng, hơi thở mỗi ngày một mỏng hơn. Trần Thu Hà ở lại nhà cổ đã được bốn hôm, dần quen với nhịp sống chậm và lặng của một ngôi nhà có người sắp đi xa. Buổi sáng cô phụ bà Hảo nấu cháo, buổi trưa ngồi quạt cho cụ, buổi chiều ghi chép lại mấy việc người lớn dặn dò về tang lễ, phòng khi đến lúc bối rối không ai nhớ hết. Cô làm văn thư, quen ghi chép, nên trong nhà hễ ai nhắc một lệ cũ nào, cô đều mở sổ tay ra ghi lại, cẩn thận như ghi một văn bản quan trọng.

Người chỉ cho Hà nhiều nhất là bà Trần Thị Liên, con gái út của cụ cố. Bà Liên năm nay năm mươi tám tuổi, lấy chồng làng bên nhưng gần như ngày nào cũng có mặt ở nhà cổ từ khi cha trở nặng. Bà tinh ý, nhớ dai, những lệ tục của làng Hạ Trạch bà thuộc nằm lòng vì từ nhỏ đã theo mẹ đi phụ giúp các đám tang trong xóm. Chiều hôm ấy, hai cô cháu ngồi ở hiên sau, nhặt rau cho bữa tối, bà Liên bỗng nói như sực nhớ ra một việc quan trọng.

- Hà này, sau này cụ có đi, việc đầu tiên phải nhớ là lệ canh xác. Cháu ở xã làm giấy tờ thì giỏi, chứ lệ làng cháu chưa biết đâu, để cô nói cho mà ghi lại.

Hà mở sổ, cầm bút sẵn sàng. Bà Liên kể chậm rãi, vừa kể vừa đếm trên đầu ngón tay. Theo lệ làng, từ khi người mất trút hơi thở cuối cùng cho tới giờ khâm liệm, thi thể được đặt trên giường ở gian giữa, không được để một mình dù chỉ một khắc. Con cháu phải chia phiên canh xác, mỗi phiên hai người, thức trọn phiên, không ngủ gật, không bỏ đi đâu. Người canh ngồi hai bên giường, tay cầm sẵn gậy tre, không phải để đánh đập gì, mà để gõ nhẹ xuống nền khi cần gọi người, và theo lệ xưa là để xua những thứ không sạch sẽ bén mảng tới gần người mới mất.

- Quan trọng nhất là lưới bồ kết, bà Liên nhấn mạnh. Quanh giường người mất phải treo một tấm lưới sợi gai tẩm bồ kết, treo kín bốn phía, chừa lối ra vào cho người canh. Bồ kết thơm, khói bồ kết xưa nay vẫn dùng để tẩy uế. Tấm lưới ấy vừa là lệ, vừa là rào chắn thật sự.

- Chắn cái gì hả cô?

- Chắn mèo, chắn chó. Tuyệt đối không để mèo bén mảng vào gian giữa, nhất là mèo đen. Cháu chưa nghe người già nói chuyện quỷ nhập tràng à?

Hà lắc đầu. Cô lớn lên ở làng này, đi học rồi đi làm, những câu chuyện ma quỷ người lớn kể nhau lúc trà dư tửu hậu cô nghe loáng thoáng nhiều, nhưng chưa bao giờ ngồi nghe ai kể cho ra đầu ra đũa. Bà Liên hạ giọng, dù quanh hiên lúc ấy chẳng có ai ngoài hai cô cháu và tiếng gà cục tác ngoài vườn.

Theo lời bà Liên kể, vùng ven sông Đáy này ngày xưa từng có nhà mất người vì chuyện mèo nhảy qua xác. Người chết chưa kịp khâm liệm, nhà bận lo việc, một con mèo đen trong xóm lẻn vào gian giữa, nhảy qua ngang người thi thể. Người chết bỗng mở mắt, ngồi bật dậy, đi cứng đờ trong nhà, ai trông thấy cũng hồn vía lên mây. Về sau thầy cúng phải làm lễ mãi người chết mới nằm yên trở lại, mà từ đó nhà ấy mang tiếng, người trong làng đi qua cổng còn rảo bước cho mau. Thật hay không, không ai kiểm chứng được nữa, chuyện đã mấy chục năm. Nhưng cũng từ những chuyện như thế mà lệ canh xác của làng này chặt chẽ đến vậy: canh không chỉ để tỏ lòng hiếu, canh là để giữ cho người mất được yên, và giữ cho người sống khỏi những điều không hay trong mấy đêm đầu tiên.

- Người già còn nói một câu, cả làng này kiêng mèo đen, bà Liên kết lại. Nhất là mèo đen tuyền, không có sợi lông trắng nào. Nhà có tang mà để nó vào được gian giữa thì coi như mất hết phúc phần của người chết. Cháu ghi vào đi, đến lúc lo việc cho cụ, cứ theo thế mà làm, đừng ai chê là lệ cũ rườm rà.

Hà ghi hết vào sổ, chữ ngay ngắn, mục nào ra mục ấy: phiên canh hai người, gậy tre, lưới bồ kết treo kín bốn phía, cấm mèo chó vào gian giữa, người canh không ngủ gật, không bỏ phiên. Ghi xong, cô đọc lại một lượt, trong lòng nửa tin nửa không. Cô không tin chuyện xác chết bật dậy vì một con mèo, nhưng cô tin vào sự trang nghiêm của những lệ tục này. Người làng giữ lệ không hẳn vì sợ ma, mà vì đó là cách họ tiễn người thân đi cho trọn vẹn, không để xảy ra sơ suất nào khiến cả họ phải áy náy về sau. Riêng ý nghĩ ấy đã đủ để cô thấy việc canh xác là việc hệ trọng, không thể làm qua loa.

Bà Liên thấy cháu gái ghi chép chăm chú thì cười buồn, bảo ngày bà còn bé, mỗi khi trong làng có đám tang, trẻ con bị cấm bén mảng tới gần gian giữa, chỉ đứng ngoài sân nghe tiếng trống và tiếng khóc. Lớn lên đi phụ đám cho hàng xóm, bà mới hiểu những lệ ấy không phải bày ra cho thêm phần rùng rợn. Hai người một phiên là để người này nhắc người kia tỉnh táo, để không ai phải ngồi một mình với người mới mất trong đêm dài. Gậy tre để sẵn là để người canh có việc cho tay khỏi run. Lưới treo kín là để người nhà nhìn vào biết ngay nếu có gì xô lệch, lệch một góc cũng phải treo lại ngay, không được tặc lưỡi cho qua. Bà dặn Hà, lệ càng nhỏ càng phải giữ cho đúng, vì việc tang ma chỉ có một lần, sai ở đâu là day dứt ở đó cả đời.

Hà nghe, ghi thêm mấy dòng nữa, rồi hỏi khẽ một câu mà cô đã nghĩ từ lúc nghe chuyện mèo nhảy qua xác.

- Cô có tin chuyện ấy là thật không, cô Liên?

Bà Liên im lặng một lúc, tay vẫn nhặt rau đều đều.

- Tin hay không, cô không dám nói chắc. Cô chỉ biết người già giữ lệ này từ đời này sang đời khác, chưa đời nào bỏ. Có những việc mình không trông thấy không có nghĩa là được phép coi thường. Với lại, cháu nghĩ mà xem, đêm canh xác, người sống mệt mỏi, buồn ngủ, sơ suất đủ đường. Lệ đặt ra là để trong lúc mệt nhất, người ta vẫn biết mình phải làm gì, không ai được buông tay. Thế đã là đủ quý rồi, cần gì phải đợi thấy ma mới chịu giữ.

Câu nói ấy làm Hà ngồi lặng đi một lúc lâu. Cô gấp sổ lại rồi mở ra ghi thêm, lần này không phải một mục lệ, mà là một câu của bà Liên, nguyên văn. Người làm văn thư như cô vốn tin vào những điều được viết xuống rõ ràng. Chiều nay, cô bắt đầu hiểu có những điều được giữ lại không phải bằng giấy tờ, mà bằng cách người này kể cho người kia, đời này truyền sang đời khác, trong những buổi ngồi nhặt rau ở hiên sau như thế này.

Tối hôm ấy, Hà đem những điều vừa ghi được ra kể lại với ông Lương ở gian giữa. Ông nghe xong, gật đầu, bảo bà Liên nói đúng cả, ngày cụ còn khỏe cụ cũng vẫn nhắc lệ này mỗi khi trong làng có đám. Ông dặn Hà, đến lúc nhà có việc, việc phân phiên canh sẽ do ông sắp xếp, con cháu các chi đều phải thay nhau, không ai được đứng ngoài. Hà gật đầu, gấp sổ lại, rồi vào buồng xem cụ. Cụ vẫn ngủ, hơi thở khò khè nhẹ trong lồng ngực gầy, bàn tay đặt trên chăn thỉnh thoảng khẽ giật như người đang mơ một giấc mơ rất xa.

Đêm xuống, nhà cổ chìm vào tĩnh lặng. Hà nằm ở gian buồng nhỏ cạnh buồng của cụ, trằn trọc mãi không ngủ được vì lạ nhà sau nhiều năm đi làm ăn xa, phần vì đầu óc vẫn nghĩ về những lời bà Liên kể lúc chiều. Gần nửa đêm, khi cả nhà đã im tiếng, từ ngoài vườn bỗng vẳng lên một tiếng mèo gào.

Tiếng gào dài, lạ, không giống tiếng mèo nhà kêu nhau ngoài ngõ mà Hà vẫn nghe. Nó kéo dài, rên rỉ, lên cao rồi hạ xuống như một tiếng than, khiến da gáy cô nổi gai. Hà nằm yên, nín thở lắng nghe. Tiếng gào lặp lại lần thứ hai, xa hơn một chút, hình như từ phía sau nhà, phía vườn và chuồng trâu vọng lại. Cô khẽ ngồi dậy, ghé tai về phía cửa sổ buồng. Ngoài sân, con chó nhà nằm ở hiên, giống chó ta vẫn sủa bất cứ tiếng động lạ nào trong đêm, vậy mà lúc này nó nằm im, đầu gác lên hai chân trước, không hề sủa một tiếng, cũng không đứng dậy. Sự im lặng của con chó còn làm Hà thấy lạ hơn cả tiếng mèo gào.

Tiếng gào thứ ba vang lên rồi tắt hẳn, đêm trở lại yên tĩnh như chưa từng có gì xảy ra. Hà ngồi thêm một lúc lâu bên cửa sổ, nhìn ra khoảng vườn tối đen, chỉ thấy bóng tre và hàng chuối lay động trong gió sông. Không có con mèo nào hiện ra, không có gì bất thường nữa. Cô tự nhủ, mèo hoang ngoài bãi vào mùa này vẫn hay gào như thế, chó không sủa có khi vì nó đã quen tiếng kêu ấy. Cô nằm xuống, kéo chăn lên, nhưng vẫn mở cuốn sổ tay đặt ở đầu giường, ghi thêm một dòng vào cuối trang ghi chép về lệ canh xác: đêm mùng chín, khoảng gần nửa đêm, nghe tiếng mèo gào ngoài vườn, dài và lạ, chó nhà không sủa. Ghi xong, cô nằm nghe tiếng gió sông thổi ngoài kia rất lâu mới thiếp đi, và trong cơn mơ chập chờn, tấm lưới bồ kết trong lời kể của bà Liên cứ hiện lên, treo lặng lẽ quanh một chiếc giường trống trong gian giữa tối om.

---

Chương khác

Xem thêm