QUỶ NHẬP TRÀNG BÊN SÔNG ĐÁY - Chương 5: Lời dặn cuối
Ngày mười ba tháng chín, cụ cố trở nặng thấy rõ. Từ sáng sớm, cụ không ăn được nữa, cháo đưa đến miệng lại trào ra, nước cũng chỉ nhấp được từng thìa…
Nội dung chương
Ngày mười ba tháng chín, cụ cố trở nặng thấy rõ. Từ sáng sớm, cụ không ăn được nữa, cháo đưa đến miệng lại trào ra, nước cũng chỉ nhấp được từng thìa nhỏ. Hơi thở của cụ ngắn và gấp, lồng ngực gầy nhô lên hạ xuống khó nhọc. Trần Thu Hà ngồi bên giường gần như không rời, tay cầm khăn ấm lau mặt cho cụ, mắt không lúc nào rời khỏi khuôn mặt già nua ấy. Ông Lương cho người đi mời thầy Đỗ Văn Nhẫn đến nhà, không phải để xem bệnh, bệnh của người chín mươi tuổi không còn gì để xem, mà để thầy tới thăm cụ và dặn dò trước những việc hệ trọng của nhà có người sắp mất.
Thầy Nhẫn đến vào giữa buổi sáng, chống gậy, tóc bạc trắng, người gầy nhỏ nhưng bước đi còn vững. Thầy năm nay bảy mươi sáu tuổi, là thầy cúng lâu năm nhất làng Hạ Trạch, đã chủ trì không biết bao nhiêu đám tang trong vùng. Con cháu nhà nào có việc cũng mời thầy xem giờ, định lệ, vì thầy thuộc giờ hoàng đạo và những điều kiêng kỵ của tang ma như thuộc lòng bàn tay. Thầy vào buồng, ngồi xuống ghế bên giường, bắt mạch cho cụ theo lệ, rồi lặng lẽ nhìn cụ một lúc lâu trước khi quay ra nói với ông Lương ở gian giữa.
- Cụ nhà ta đi trong nay mai thôi, anh Lương ạ. Các anh chị phải chuẩn bị trước, đừng để đến lúc bối rối mà làm sai lệ, người mất không yên, người sống day dứt.
Cả nhà ngồi quanh trường kỷ nghe thầy dặn. Thầy nói chậm rãi, việc nào ra việc ấy. Nếu cụ đi vào giờ lành thì không sao, cứ theo lịch mà khâm liệm trong ngày. Nhưng nếu cụ đi vào giờ xấu, phạm phải trùng tang, thì giờ khâm liệm hoàng đạo sạch sẽ phải chờ, có khi phải chờ qua một ngày, thậm chí canh tới hai đêm mới tới giờ tốt để nhập quan. Thầy dặn trước như vậy để đến lúc ấy cả nhà không hoảng, không ai được vì sốt ruột mà làm liều, liệm sớm sai giờ là điều tối kỵ với người phạm trùng tang.
- Hai đêm canh xác không phải chuyện chơi, thầy nói, mắt nhìn khắp lượt con cháu. Phải chia phiên cho đàng hoàng, hai người một phiên, thức cho trọn. Chuẩn bị sẵn gậy tre, mỗi người canh một cây. Tấm lưới bồ kết treo quanh giường phải có sẵn từ trước, đừng đợi có việc mới đi tìm. Còn tấm rèm gai treo bên bàn thờ kia, cứ để nguyên như thế, đó là của gian thờ, không ai được tự tiện gỡ xuống làm việc khác.
Hà mở sổ tay ghi lại từng lời của thầy, như mọi lần. Cô ghi giờ hoàng đạo, ghi trùng tang, ghi hai đêm canh, ghi gậy tre và lưới bồ kết. Bà Hảo ngồi bên khẽ hỏi thầy về vải liệm, về số lượng nến hương, thầy đều đáp rành rọt. Ông Lương chỉ ngồi nghe, gật đầu, thỉnh thoảng hỏi lại một câu cho chắc. Không khí gian giữa nặng nề mà trật tự, như người ta đang sắp đặt từng bước cho một chuyến đi xa đã biết trước của người cha già nằm trong buồng.
Thầy Nhẫn chưa về ngay. Thầy ngồi lại uống chén nước, dặn thêm mấy việc nhỏ mà theo thầy, việc nhỏ trong đám tang mới là việc dễ sai nhất. Nước dùng để tắm rửa cho người mất phải đun với lá thơm. Vải liệm phải đếm đủ số lớp theo lệ của họ. Đèn dầu đặt ở đầu giường không được để tắt trong những đêm canh, dầu phải châm sẵn. Người canh xác không ăn đồ tanh nặng mùi, không nói cười ồn ào ở gian giữa, có việc cần bàn thì ra hiên mà bàn khẽ. Con cháu nghe thầy dặn, ai cũng gật đầu, Hà ghi kín thêm hai trang sổ. Cô bỗng nhận ra tang lễ trong làng không chỉ là một nghi thức, đó là một bộ máy gồm rất nhiều việc nhỏ ăn khớp với nhau. Và gia đình cô sắp phải vận hành bộ máy ấy trong lúc đau buồn nhất, không được phép sai một chi tiết.
Bà Hảo hỏi thầy, nếu phải canh tới hai đêm thật thì người nhà liệu có đủ sức không, con cháu đứa nào cũng đã thức trắng mấy đêm trông cụ rồi. Thầy Nhẫn đáp, mệt thì chia phiên mà nghỉ, lệ cho phép chia phiên, chỉ không cho phép bỏ trống giường người mất. Hai người một phiên, hết phiên này tới phiên khác, người nghỉ cứ nghỉ ở buồng bên, nhưng trong gian giữa lúc nào cũng phải có hai người tỉnh táo. Nghe thế, ông Lương bảo ngay, việc phân phiên để ông tính, con cháu các chi đều có phần, không ai phải gánh hết mà cũng không ai được đứng ngoài. Ông nói câu ấy rất bình thản, nhưng Hà ngồi bên nghe rõ trong giọng cha mình một sự kiên quyết không thể lay chuyển.
Thầy ra về, ông Lương tiễn thầy ra tận cổng, hai người già đứng nói chuyện thêm một lúc dưới rặng tre. Hà không nghe được họ nói gì, chỉ thấy cha mình cúi đầu mấy lần, như người nhận lấy một lời giao phó nặng nề. Khi ông quay vào, nét mặt ông đã khác, bình tĩnh hơn, như người đã biết rõ con đường sắp đi và quyết đi cho trọn. Ông bảo Hà, sổ tay của con từ nay cứ để ở gian giữa, nhà có việc gì cần nhớ, con ghi hết vào đấy cho cha. Hà gật đầu, lần đầu tiên cô thấy cuốn sổ tay ghi chép của mình trở thành một phần việc thật sự của gia đình, chứ không còn là thói quen riêng của một cô văn thư xã nữa.
Đầu giờ chiều, ông Hoàng Văn Tứ, thợ hòm ở làng bên, đánh chiếc xe kéo nhỏ vào sân nhà cổ. Ông Tứ năm nay bảy mươi hai tuổi, người dong dỏng, tay chân gân guốc vì hơn năm mươi năm làm nghề mộc, chuyên đóng áo quan cho cả vùng ven sông này. Chiếc áo quan ông đóng sẵn cho cụ cố theo số đo lấy từ tháng trước được phủ vải điều, đặt trang trọng ở hiên nhà, chờ khi cần đến. Cùng đi với áo quan là hộp đồ nghề mộc của ông, một chiếc hộp gỗ dài đã mòn nhẵn các góc vì năm tháng.
Hà phụ ông Tứ kê lại áo quan cho ngay ngắn, tránh lối đi. Khi ông mở hộp đồ nghề kiểm tra lại từng món, cô để ý thấy giữa những chiếc đục thép quen thuộc của thợ mộc có một cây đục khác hẳn: thân bằng đồng đỏ, màu đỏ sậm, nặng và bóng lên ở những chỗ tay cầm nhiều năm. Cô tò mò hỏi một câu.
- Cây đục này khác mấy cây kia quá, ông Tứ ạ. Đồng đỏ mà cũng đóng được gỗ ạ?
Ông Tứ cầm cây đục lên, lau qua bằng vạt áo, giọng ông trầm và thản nhiên như nói về một người bạn già.
- Cây này theo ông hơn năm mươi năm rồi, cháu ạ. Đục đồng đỏ không sắc bằng đục thép, nhưng nghề của ông có những việc chỉ dùng đến nó. Gỗ lim cứng thế nào nó cũng vào được, mà người xưa tin đồng đỏ giữ được cái sạch cho gian thờ. Thôi, chuyện nghề, nói cháu cũng chưa hiểu hết đâu. Cứ biết trong hộp nghề của ông, cây này là cây ông quý nhất.
Ông đặt cây đục lại vào hộp, đậy nắp, rồi vào buồng thăm cụ cố. Trước khi vào, ông còn dặn người nhà kê thêm một chiếc ghế ở hiên cho ông, bảo sáng mai ông sẽ quay lại sớm, và nếu trong đêm có việc gì cần đến thợ mộc thì cứ gọi, nhà ông ở làng bên. Đi bộ qua cầu chỉ mất mười phút, mưa gió thế nào ông cũng sang, nghề của ông vốn là nghề đi trong đêm như thế đã mấy chục năm nay rồi. Ông đứng bên giường một lúc, chắp tay khẽ vái, nói mấy câu nhỏ với người bạn già cùng thế hệ mà chỉ ít lâu nữa chính tay ông sẽ lo liệu hậu sự. Hà đứng ở cửa buồng nhìn cảnh ấy, lòng chùng xuống. Cả làng này, người già như cụ cố và ông Tứ, thầy Nhẫn, họ đã tiễn nhau đi dần như thế, người trước người sau, bằng những lễ nghi đã thuộc lòng từ thuở còn trẻ.
Chiều tối, cụ cố bỗng tỉnh lại. Đôi mắt mờ đục suốt cả ngày của cụ mở ra, sáng và rõ một cách lạ thường, như người vừa đi một quãng xa quay đầu nhìn lại. Cụ gọi khẽ tên ông Lương, rồi gọi Hà vào gần. Con cháu trong nhà kéo nhau vào buồng, đứng quanh giường, không ai dám thở mạnh. Cụ nhìn một lượt khắp các khuôn mặt, ánh mắt dừng lại lâu nhất ở ông Lương, người con trưởng sẽ gánh vác căn nhà này sau cụ. Rồi cụ quay đầu, nhìn về phía cửa sổ gian buồng đang mở hé ra vườn, nơi bóng chiều đang sẫm dần sau hàng tre.
Giọng cụ yếu như sợi khói, nhưng từng chữ vẫn rõ ràng, như buổi chiều đầu tiên Hà về nhà và cụ nắm tay cô dặn chuyện nhà đất.
- Sau này tao nằm xuống, đêm canh, nhớ đóng kín cửa sổ. Đừng để con gì nhảy qua người tao.
Cụ nói xong, mắt vẫn nhìn về phía cửa sổ một lúc nữa, rồi mới từ từ khép lại. Hơi thở của cụ chậm dần, đều dần, khuôn mặt giãn ra trong một giấc ngủ sâu và yên. Bà Liên đứng ở cuối giường lặng lẽ lau nước mắt. Ông Lương đưa tay khép lại cánh cửa sổ gian buồng, cài chốt cẩn thận, dù ai cũng biết chốt cửa sổ nhà cổ đã cũ, phải ấn mạnh tay mới khít. Hà đứng bên giường, tay vẫn cầm cuốn sổ tay, trong đầu còn vang nguyên câu dặn vừa rồi của cụ. Cô không ghi câu ấy vào sổ. Có những lời dặn không cần ghi cũng không bao giờ quên được, và cô biết, mấy đêm sắp tới, mỗi lần đi qua ô cửa sổ gian giữa. Cô sẽ lại nhớ đến ánh mắt của cụ cố trong buổi chiều cuối cùng ông còn tỉnh táo nhìn về phía khu vườn đang tối dần ngoài kia.
---