Quỷ Nhập Tràng - Chương 1: Đêm Canh Tân Và Bước Chân Linh Miêu
Bốn giờ ba mươi phút sáng, chiếc điện thoại đặt trên đầu tủ gỗ bỗng rung lên bần bật rồi phát ra hồi chuông chói gắt. Tôi choàng tỉnh, hai mắt cay xè sau…
Nội dung chương
Bốn giờ ba mươi phút sáng, chiếc điện thoại đặt trên đầu tủ gỗ bỗng rung lên bần bật rồi phát ra hồi chuông chói gắt.
Tôi choàng tỉnh, hai mắt cay xè sau giấc ngủ chập chờn của một kẻ làm việc văn phòng quần quật suốt tuần. Căn phòng trọ nhỏ ở phường Một, thành phố Cao Lãnh lúc này vẫn còn ngập trong bóng tối nhờ nhợ của màn sương sớm. Tôi quờ tay bấm nút nghe, áp ống loa vào tai khi cổ họng vẫn còn khé nồng hơi lạnh. Đầu dây bên kia không có tiếng thở đều đặn thường ngày, chỉ có âm thanh hụt hơi cùng tiếng gió rít qua khe cửa tôn lạch cạch.
"Chị Hai đó hả... Chị Hai ơi, về liền đi..."
Đó là giọng của Tùng, thằng em trai kém tôi ba tuổi. Giọng nó run lẩy bẩy, nghẹn ứ nơi cuống họng, xen lẫn tiếng sụt sùi nén chặt.
"Tùng hả? Có chuyện gì mà gọi sớm dữ vậy em? Ba hay má bị sao?"
Tôi ngồi bật dậy, với tay bật chiếc công tắc đèn tuýp trên tường. Luồng sáng trắng bừng lên gay gắt làm mắt tôi nhức nhối.
"Nội... Nội đi rồi chị Hai ơi. Ba vừa lay nội dậy uống nước thuốc thì thấy người nội nguội ngắt từ hồi nào. Nội đi êm ru trong giấc ngủ... Ba biểu em điện chị về gấp đặng còn phụ lo việc."
Ngón tay tôi bấu chặt vào mép nệm mút, cả cơ thể cứng đờ. Ông nội tôi, cụ Lê Văn Thời, năm nay chín mươi hai tuổi, người cao niên thọ nhất nhì cái ấp 4 xã Mỹ Trà này. Dẫu biết ở cái tuổi gần đất xa trời, chuyện người già ra đi êm ái như ngọn đèn dầu cạn bấc là điều con cháu đã ngấm ngầm chuẩn bị, nhưng khi tin dữ giáng xuống giữa lúc rạng đông, ruột gan tôi vẫn thắt lại từng cơn.
"Tao về liền. Kêu ba má bình tĩnh, giữ ấm cho nội, tao chạy xe chừng hai mươi phút là tới."
Tôi cúp máy, vơ vội bộ quần áo sẫm màu treo sau cánh cửa rồi tròng vào người. Bàn tay tôi lóng ngóng cài từng chiếc cúc áo sơ mi xám tro, chân mày chau lại vì những luồng suy nghĩ rối bời. Năm nay tôi hai mươi tám tuổi, làm kế toán cho một công ty vật tư nông nghiệp ở ngay trung tâm Cao Lãnh, cách nhà cũ của ông nội ở ấp 4 Mỹ Trà không quá xa. Mỗi cuối tuần tôi đều chạy xe về thăm ông, bóp chân bóp tay nghe ông kể chuyện khẩn hoang, chuyện đào kinh xáng từ thời nảo thời nào. Mới chủ nhật tuần trước, ông còn ngồi trên chiếc chõng tre nhai trầu bỏm bẻm, mắt nheo nheo nhìn đàn vịt chạy đồng rúc rỉa dưới mương. Vậy mà sáng nay, chiếc chõng tre ấy vĩnh viễn vắng bóng một người già.
Tôi mở toang cửa phòng trọ. Gió chướng cuối năm ùa vào thốc thẳng vào mặt, mang theo cái lạnh buốt đặc trưng của miệt sông nước Đồng Tháp mùa nước son vừa rút. Bầu trời trĩu nặng một màu xám đục như lòng súng nang mực. Tôi dắt chiếc xe gắn máy ra khỏi ngõ, nhấn ga lao vút đi trong sự tĩnh lặng ghê rợn của phố xá lúc tờ mờ sáng.
Qua khỏi cầu Cao Lãnh rẽ về phía Mỹ Trà, ánh đèn đường thưa dần rồi mất hút. Nhựa đường phẳng lì nhường chỗ cho con đường đan xi măng nhỏ hẹp chạy dọc theo triền kinh. Hai bên mé nước, những rặng dừa nước rậm rạp nghiêng mình xõa tán lá dài quét sột soạt xuống dòng nước đen thui. Mặt nước kinh mùa này phẳng lặng lừ đừ, bốc lên mùi bùn non ngai ngái xen lẫn mùi cỏ trâu sình mục.
Tôi vặn ga mạnh hơn, tiếng máy xe gầm rú đơn độc giữa bốn bề u tịch. Không hiểu sao càng đi sâu vào địa phận ấp 4, cái cảm giác nôn nao trong lồng ngực tôi càng dâng cao rõ rệt. Không khí đặc quánh lại, ẩm ướt và nặng trĩu hơi sương, lạnh buốt đến mức luồn qua lớp áo khoác dày cộm cắn vào da thịt.
Từ nhỏ, tôi đã lớn lên ở vùng đất này trước khi lên tỉnh học rồi đi làm. Dân Mỹ Trà quanh năm bám ruộng bám vườn, tính tình thuần hậu nhưng lại cực kỳ coi trọng lễ nghi ma chay tế tự. Người già trăm tuổi lâm chung được xem là đại tang của cả xóm. Theo lệ làng, đám tang các bậc thượng thọ phải làm đủ ba ngày ba đêm, kèn trống rền vang, bà con lối xóm thay phiên nhau túc trực thâu canh suốt sáng để đưa tiễn vong hồn qua bến mê. Cha tôi - ông Lê Văn Hậu, năm mươi tám tuổi, lại là con trai trưởng gánh vác toàn bộ gia tộc họ Lê. Tang lễ của nội chắc chắn sẽ là ba ngày đêm dài dặc đầy mệt mỏi và nặng trĩu lo toan.
Bánh xe máy trượt nhẹ trên một vũng sình trơn nhẫy ở khúc cua vào rạch Tràm. Tôi vội vàng chống chân giữ thăng bằng, tim đập thình thịch. Đúng lúc đó, từ trên ngọn cây tràm cổ thụ bên bờ mương phát ra một tràng tiếng kêu sắc nhọn:
"Éc... éc... oắt!"
Tiếng kêu xé toạc không gian tĩnh mịch, đanh và khô khốc. Tôi giật mình ngước lên. Dưới ánh đèn xe leo lét phản chiếu, một con chim lợn to tướng với bộ lông màu xám đốm trắng đang đậu vắt vẻo trên cành tràm khô khốc. Cặp mắt tròn vo của nó quắc lên ánh đỏ lòm dưới bóng đêm, hướng thẳng về phía tôi rồi vỗ cánh bay vụt qua ngọn kênh, để lại tiếng rít ghê rợn chìm dần vào rặng trăng non đang lặn.
Dân gian Nam Bộ kiêng nhất tiếng chim lợn kêu ban đêm, người xưa bảo loài chim này ngửi thấy mùi tử khí từ cách xa vài dặm. Nội tôi vừa trút hơi thở cuối cùng, lũ chim ăn đêm đã lập tức tìm đến lượn lờ chung quanh rạch. Tôi thở hắt ra một hơi dài, tự trấn an bản thân bằng mớ kiến thức khoa học thường thức. Tôi không tin vào chuyện ma quỷ hay điềm gở huyễn hoặc. Sinh lão bệnh tử là quy luật tự nhiên của con người, có gì đâu mà phải sợ hãi vu vơ.
Nghĩ vậy nhưng sống lưng tôi vẫn chạy dọc một luồng ớn lạnh khó tả. Tôi tiếp tục nhấn ga rẽ vào con đường đất dẫn sâu vào xóm trong của ấp 4.
Đoạn đường này xe cộ qua lại ít hơn, hai bên bờ mương mọc đầy lau sậy cao lút đầu người. Sương mù lúc này đã giăng kín mặt đất, cuộn lại từng vệt trắng nhờ là là trên ngọn cỏ voi. Giữa bầu sương lạnh, tôi bắt gặp một bóng người đang chèo chiếc xuồng ba lá từ phía ngã ba rạch đi ngược ra.
Chiếc xuồng lướt êm ru trên làn nước đục. Trên xuồng là ông Tám Đờn, một người thợ mộc cao niên chuyên đóng áo quan và coi ngày giờ khâm liệm có tiếng trong vùng. Ông mặc bộ bà ba đen bạc màu, đầu chít chiếc khăn rằn sờn chỉ, tay cầm mái chèo dầm từng nhịp chậm rãi.
Thấy ánh đèn xe của tôi soi tới, ông Tám khẽ ngừng tay chèo, cất giọng khàn đặc:
"Con Tuyết đó phải hôn con?"
Tôi giảm ga, tấp xe sát mé cỏ trâu, lễ phép chào:
"Dạ, con mới hay tin nội mất nên chạy về liền nè chú Tám. Chú mới bên nhà con qua hả chú?"
Ông Tám Đờn cắm cây dầm xuống bãi bùn ven bờ, chống tay nhìn tôi. Gương mặt nhăn nheo hằn sâu những vết chân chim của ông lộ rõ vẻ âu lo nặng trĩu. Ánh mắt ông nhìn tôi đăm đăm, ngập ngừng giây lát rồi hạ giọng:
"Tao vừa qua coi giúp cha mày xem giờ giấc lâm chung của cụ Thời. Cụ đi lúc canh tư, mặt mũi thanh thản lắm, đúng là cái phúc của người hiền. Ngặt một nỗi..."
Ông Tám bỏ lửng câu nói, quay đầu nhìn ra dòng kinh mịt mờ sương khói rồi thở dài sườn sượt.
"Ngặt nỗi sao chú Tám? Có trục trặc gì về việc làm lễ hả chú?"
Tôi bồn chồn hỏi dồn. Chuyện tang gia bối rối, chỉ sợ việc chuẩn bị gặp điều trắc trở khiến cha mẹ tôi thêm phần phiền lòng.
Ông Tám Đờn lắc đầu, giọng ông chìm xuống giữa tiếng gió chướng vi vu qua rặng sậy:
"Canh tư sáng nay rơi đúng vào giờ phạm trùng liên táng. Giờ này âm khí từ dưới đất bốc lên dữ dằn lắm, lại thêm gió chướng chuyển hướng thổi ngược dòng rạch. Tao đã dặn kỹ cha mày rồi, việc khâm liệm phải chọn giờ cẩn thận, tuyệt đối không được làm vội vàng trong sáng nay. Trước khi phát tang, cái xác cụ Thời phải được canh giữ nghiêm ngặt, nội bất xuất ngoại bất nhập, cấm tiệt mấy giống súc vật bốn chân bén mảng tới gần gian nhà giữa."
"Ý chú là kiêng mèo chó hả chú Tám?"
"Ừ, kiêng nhất là lũ mèo hoang ngoài bãi tha ma. Mùa này chuột đồng nhiều, mèo rừng mèo hoang hay men theo mé rạch kiếm ăn. Mày vô nhà mau đi, phụ với thằng Tùng và má mày lo việc che chắn cửa nẻo. Nhớ lời tao dặn, đám ma này không được lơ là dù chỉ nửa bước chân."
Nói dứt lời, ông Tám rút cây dầm lên khỏi bãi bùn, khẽ vung tay chèo đưa chiếc xuồng ba lá rẽ nước bơi miết ra hướng sông lớn. Bóng chiếc xuồng chìm nghỉm vào màn sương dày đặc, chỉ còn lại tiếng nước khua bì bõm xa dần.
Lời dặn dò của ông Tám làm dấy lên trong lòng tôi một cảm giác hoang mang mơ hồ. Tôi lớn lên giữa những câu chuyện kể bên bếp lửa của bà ngoại về loài linh miêu mắt xanh, về hiện tượng quỷ nhập tràng rùng rợn mà người đời vẫn truyền tai nhau với vẻ khiếp đảm tột cùng. Người ta đồn rằng xác chết chưa kịp liệm nếu bị một con mèo đen tuyền mang luồng điện âm cực mạnh nhảy vọt qua, tử thi sẽ lập tức hấp thụ âm khí mà bật dậy, mở trừng mắt đuổi theo người sống. Nhưng đó là những câu chuyện ma mị thời xa xưa, thời người ta còn thắp đèn mù u và sống giữa rừng thiêng nước độc. Thời buổi này đèn điện sáng choang, trạm y tế đầy đủ, làm sao có thể xảy ra những chuyện quái đản như thế được.
Tôi xua tan những ý nghĩ vẩn vơ, vít ga cho xe chạy nốt đoạn đường đất còn lại.
Trước mắt tôi, con rạch Tràm uốn lượn ôm trọn lấy khu đất vườn rộng lớn của gia đình. Nhà cũ của ông nội hiện ra sau những tán tràm cổ thụ và rặng dừa xiêm trĩu quả. Đó là căn nhà ba gian hai chái lợp ngói âm dương rêu phong, cột gỗ căm xe đen bóng đã tồn tại hơn nửa thế kỷ.
Từ đầu ngõ, hai dải cờ tang bằng vải trắng tinh cắm trên thân tre đã được dựng lên từ bao giờ, phần phật bay trong gió lạnh. Màu trắng tang tóc nổi bật giữa khung cảnh mờ tối của miệt vườn, báo hiệu cho cả xóm biết một đời người vừa khép lại.
Tôi tắt máy xe, dắt bộ qua chiếc cầu ván bắc ngang con mương dẫn vào sân trước. Đất dưới chân ướt nhão, bám chặt lấy đế giày từng mảng dẻo quẹo.
Gian nhà giữa lúc này đã sáng rực ánh đèn vàng vọt. Khói nhang trầm bắt đầu tỏa ra nghi ngút từ bên trong, quyện cùng mùi dầu gió và mùi hoa sứ rụng ngoài sân tạo nên một bầu không khí u uất đến nghẹn thở.
Tôi dừng chân trước bậc thềm hiên, ngực phập phồng sau một chặng đường dài hối hả. Bên trong nhà, vẳng ra tiếng thút thít nghẹn ngào của mẹ tôi - bà Lê Thị Hoa, cùng tiếng dằn từng bước chân nặng nề, dứt khoát của cha tôi khi đang dời chuyển bàn ghế.
Bất chợt, một tiếng sột soạt khô khốc vang lên từ góc hàng rào mắt cáo rậm rạp cạnh bể nước mưa.
Tôi giật bắn mình, khựng lại ngay mép thềm.
Dưới chân gốc cây hoa đại cổ thụ, một bóng đen tuyền trườn dài trên mặt đất ẩm ướt. Một con thú nhỏ bốn chân đang nép mình sát gốc cây, bộ lông đen nhánh không tì vết như hòa lẫn hoàn toàn vào bóng đêm tăm tối. Đôi mắt nó rực lên hai đốm sáng màu xanh lục le lói, lạnh ngắt và vô hồn, trừng trừng dán chặt vào cửa chính của gian nhà giữa nơi thi thể ông nội tôi đang nằm bất động.
Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng khiến từng chân tơ kẽ tóc trên đầu tôi dựng đứng. Tôi nắm chặt quai ba lô, miệng đắng ngắt khi chạm phải ánh nhìn ma quái của con vật lạ ngay trước ngưỡng cửa tang gia.