Quỷ Nhập Tràng - Chương 3: Tục Giữ Xác Chưa Liệm
Tôi giật bắn người, lập tức rụt phắt hai tay lại như vừa chạm phải thanh sắt nung đỏ. Lồng ngực tôi thắt lại, từng nhịp tim dộng liên hồi vào xương sườn.…
Nội dung chương
Tôi giật bắn người, lập tức rụt phắt hai tay lại như vừa chạm phải thanh sắt nung đỏ.
Lồng ngực tôi thắt lại, từng nhịp tim dộng liên hồi vào xương sườn. Tôi mở to mắt, trừng trừng nhìn chăm chú vào bàn tay phải của ông nội. Năm đầu ngón tay gầy guộc, xám ngoét vẫn bấu chặt lấy mép chiếu hoa, những sợi cói khô bị móng tay cụ ghim xuống oằn đi.
"Nội..."
Tiếng kêu của tôi nghẹn lại nơi cuống họng, chỉ phát ra một âm thanh the the méo mó. Tôi run rẩy lùi lại nửa bước, quờ tay nắm lấy vạt áo bà ba của mẹ.
"Má... ngón tay nội... ngón tay nội vừa mới cựa quậy!"
Mẹ Hoa đang quỳ bên cạnh, hai mắt đỏ hoe vì khóc thương, nghe tôi nói vậy liền giật mình ngước lên. Mẹ nhìn xuống bàn tay ông cụ, rồi đưa tay sờ nhẹ lên mu bàn tay lạnh ngắt của nội, giọng mẹ run rẩy trách khẽ:
"Tuyết à, con mệt quá rồi sinh hoa mắt đó thôi. Người chết rồi, tim ngừng đập, máu ngưng chảy thì làm sao cựa quậy được nữa. Chắc tại gân cốt của nội con co rút lại lúc lạnh xác thôi."
"Con thấy rõ ràng mà má! Ngón tay nội gập lại, còn cào xuống mặt chiếu kêu rắc một tiếng nữa!"
Tôi cố sức phân trần, mồ hôi lạnh bắt đầu tịn ra đầy trán. Là một đứa con gái học hành đàng hoàng, sống nhiều năm ở thành phố, tôi luôn tin vào khoa học và sự vận hành rõ ràng của tự nhiên. Hiện tượng co cứng tử thi sau khi chết tôi từng đọc qua trong sách vở, nhưng tận mắt chứng kiến những ngón tay khô khốc đó tự co quắp lại giữa ban ngày ban mặt vẫn mang đến cho tôi một nỗi kinh sợ tột cùng.
Cha tôi đứng ở đầu giường tre, gương mặt sạm đen hằn sâu những nếp nhăn nhíu chặt lại. Ông nhìn chăm chú vào bàn tay cụ Thời, ánh mắt lộ rõ vẻ căng thẳng đặc quánh. Ông không gạt đi như mẹ, mà bước vòng qua đầu giường, cúi xuống gỡ nhẹ từng ngón tay của nội ra khỏi mặt chiếu. Các khớp xương kêu lên những tiếng lục cục khô khốc. Cha vuốt thẳng từng ngón tay của nội ra, đặt ngay ngắn xuôi theo nếp vải xô trắng.
"Đừng có la lớn," cha tôi trầm giọng nhắc nhở, âm lượng đè thấp xuống vừa đủ ba mẹ con nghe thấy. "Người vừa nằm xuống, hồn vía còn quanh quẩn bên xác, nói bậy nói bạ kinh động tới người khuất mặt."
Tiếng bước chân bì bõm lội qua sân đất ướt nhão cắt ngang câu chuyện. Ngoài hiên nhà, tiếng đằng hắng quen thuộc của ông Tám Đờn vang lên cùng tiếng gậy tre gõ cồm cộp xuống bậc tam cấp. Đi cùng ông Tám là bác Ba Thợ Cốt - người chuyên lo việc ma chay tẫn liệm lâu năm nhất ở cái ấp 4 này. Bác Ba Thợ Cốt trạc tuổi cha tôi nhưng mái tóc đã bạc phơ quá nửa, lưng hơi còng, trên tay cầm theo một cái giỏ đệm đan bằng bàng đã sờn rách mép.
"Anh Hậu đâu rồi?" Bác Ba Thợ Cốt vừa bước qua ngạch cửa đã cất giọng hỏi, đôi mắt hấp háy nhìn thẳng vào gian giữa. "Đã chuẩn bị đồ dằn xác chưa?"
Cha tôi vội buông tay nội ra, bước nhanh ra đón hai người lớn tuổi trong xóm:
"Dạ, con đợi bác Ba với chú Tám qua coi giùm. Nãy giờ nhà con mới chỉ lau mình sơ cho cụ bằng nước lá bưởi với rượu trắng, thay đồ đại phục rồi đặt nằm ngay ngắn đó chớ chưa dám động chạm gì thêm."
Bác Ba Thợ Cốt gật đầu, cởi đôi dép tổ ong dính đầy bùn sình để ngoài bậc cửa, bước chân trần lên nền gạch tàu mát lạnh. Ông Tám Đờn cũng chống gậy đi vào, gương mặt vẫn giữ nét nghiêm nghị u tối như lúc gặp tôi ngoài bến đò rạch Tràm ban nãy.
Bác Ba Thợ Cốt tiến lại gần chiếc giường tre. Bác rút trong túi áo bà ba ra một cây thước dây bằng vải dầu cũ kỹ, cẩn thận đo đạc chiều dài thân thể cụ Thời từ đỉnh đầu tới gót chân, rồi lại cúi sát mặt xuống quan sát từng chi tiết trên gương mặt người đã khuất. Bác ngắm nghía hai khóe mắt nhắm nghiền, nhìn bờ môi mím chặt, rồi dừng lại thật lâu nơi hai bàn tay vừa được cha tôi vuốt thẳng.
"Khí sắc này... lạnh mau quá," Bác Ba Thợ Cốt khẽ lẩm bẩm, hàng lông mày bạc nhíu chặt lại. "Mới tắt thở hồi canh tư mà da thịt đã ngả màu sáp ong, gân cốt đông cứng như vầy là chứng tỏ âm khí dưới đất rút lên rất lẹ."
Ông Tám Đờn đứng tựa lưng vào cây cột gỗ căm xe, giọng đều đều:
"Tui đã coi kỹ quẻ rồi. Giờ Dần sáng nay là giờ phạm, vướng phải cung trùng tang liên táng. Cụ Thời thọ chín mươi hai tuổi, là bậc đại thọ của làng, nhưng mất nhằm cái giờ này thì con cháu phải giữ gìn cẩn tắc vô áy náy. Tuyệt đối không được phát tang sớm, cũng không được làm lễ khâm liệm trước giờ Tý đêm nay. Phải quàn xác trên giường tre này trọn vẹn một ngày một đêm để đợi qua cơn giờ dữ."
Nghe đến đó, tôi không nén nổi sự thắc mắc:
"Bác Ba, chú Tám, thời tiết miền Tây mùa này hầm hập, để xác nội nằm ngoài không khí lâu như vậy rủi có chuyện gì... Ý cháu là vi khuẩn phát triển, rồi mùi hôi tử khí bốc lên thì sao chịu nổi? Sao nhà mình không thuê áo quan lạnh của trại hòm trên thị xã về quàn cho sạch sẽ?"
Bác Ba Thợ Cốt quay ngoắt lại nhìn tôi. Đôi mắt già nua đùng đục của bác lóe lên một cái nhìn nghiêm khắc:
"Con nhỏ này đi học xa về, biết một mà hổng biết mười. Xứ cù lao này từ đời ông cố mày khai hoang lập ấp tới giờ, quy củ tang ma đã ăn sâu vào đất cát. Xác quàn chờ liệm là để cho linh hồn người chết làm quen với cõi âm, rút hết hơi nóng trần gian ra ngoài. Mày nhốt cụ vô cái thùng kiếng máy lạnh chạy phè phè, hơi lạnh nhân tạo làm tắc nghẽn kinh mạch, hồn không xuất ra được thì sinh biến lớn. Chưa kể, giờ phạm mà vội vã đóng nắp ván thiên là tự tay chôn luôn vận mạng của cả dòng họ xuống đất đó con!"
Cha tôi nghe vậy liền trừng mắt nhìn tôi, quát khẽ:
"Tuyết! Mày im miệng cho người lớn nói chuyện. Việc tang ma hệ trọng, không có chỗ cho mày đem mấy cái lý lẽ sách vở ra đây bàn lùi!"
Tôi cắn môi, nuốt cục tức nghẹn ứ vào trong. Em trai tôi - thằng Tùng nãy giờ ngồi thu lu ở góc phản gỗ lột tỏi phụ làm đồ cúng, cũng đưa mắt ra hiệu cho tôi đừng nên cãi lời cha. Trong cái nhà này, lời của cha luôn là khuôn vàng thước ngọc, nhất là trong những nghi lễ truyền thống mang nặng tính gia tộc như thế này.
Bác Ba Thợ Cốt đặt chiếc giỏ đệm lên chiếc bàn tròn giữa nhà. Bác thò tay vào trong, lôi ra một củ gừng già to bằng bàn tay, một nắm lá trầu không bánh tẻ xanh ngắt, một chén gạo trộn muối hột và một vật được bọc kỹ trong mảnh vải điều màu đỏ tươi.
Bác mở từng lớp vải điều ra.
Bên trong là một con dao con bằng sắt bén ngót. Con dao chỉ dài chừng một gang tay, loại dao cau mà các bà các mẹ miền Tây hay dùng để bổ cau têm trầu. Cán dao làm bằng gỗ mun đen nhánh, lưỡi dao bằng thép rèn thủ công mài mỏng dính, sáng loáng dưới ánh đèn cầy, phản chiếu những tia sáng lạnh lẽo đến rợn người.
"Bác Ba, con dao này để làm gì vậy bác?" Thằng Tùng tò mò ngước lên hỏi.
Bác Ba Thợ Cốt cầm con dao lên, cẩn thận dùng vạt áo lau sạch lưỡi thép rồi đưa cho cha tôi:
"Đây là dao dằn bụng, tục xứ mình gọi là dao trấn tà. Người chết chưa liệm, phần bụng là nơi tụ tụ âm khí nhiều nhất, cũng là nơi dễ bị quỷ khí xâm nhập làm trương phình xác thịt. Anh Hậu, anh là con trưởng, tay anh phải cầm con dao này đặt ngay ngắn lên giữa ngực và bụng của ba anh."
Cha tôi cung kính đỡ lấy chuôi dao bằng hai tay. Bàn tay thô ráp của cha hơi run run:
"Dạ, đặt mũi dao hướng về phía nào hả bác Ba?"
"Mũi dao hướng thẳng xuống chân, sống dao quay lên mặt, tuyệt đối không được đặt lệch," Bác Ba Thợ Cốt chỉ dẫn cặn kẽ từng lời. "Đồ kim khí bằng sắt có tính sát, hơi thép lạnh sẽ ép tà khí không cho bốc lên, giữ cho thi thể nằm yên lành chờ tới giờ hoàng đạo nhập quan. Miếng sắt bén này còn có tác dụng ngăn ngừa mấy thứ súc sinh bốn chân nhảy ngang. Nếu có luồng điện tích âm nào xẹt qua, mũi dao sẽ hút hết vào thép, không cho truyền thẳng vào xác chết."
Tôi nghe mà thấy rùng mình ớn lạnh. Việc dùng một con dao nhọn hoắt đặt trực tiếp lên thân thể người thân vừa qua đời tạo ra một cảm giác ghê rợn khó tả. Hình ảnh đó mang màu sắc bạo liệt, u ám, đậm chất hủ tục của những thời kỳ tăm tối xa xưa.
"Cha ơi, đừng làm vậy!" Tôi không kiềm chế được, bước tới níu lấy cánh tay cha. "Nội mất rồi, sao cha lại đặt dao lên người nội? Nhìn ghê quá cha ơi! Người ta nhìn vào sẽ nói nhà mình đối xử tàn nhẫn với người đã khuất, dùng dao kéo để trù ếm hay gì đó. Nếu sợ chuột bọ hay mèo chó thì tụi con chia nhau ra thức canh, giăng mùng trùm kín chiếc giường tre lại là được mà cha!"
"Mày buông tay ra!"
Cha tôi gạt phắt tay tôi ra bằng một lực rất mạnh, khiến tôi lảo đảo lùi lại mấy bước suýt va vào cạnh bàn. Đôi mắt cha đỏ ngầu vì thiếu ngủ và tức giận:
"Tao đã bảo mày im cái miệng lại kia mà! Mày ở Sài Gòn ăn học rồi về đây lên mặt dạy đời tao hả? Đất có lề, quê có thói. Bao nhiêu đời nay ở cái xứ cù lao này, người chết nằm chờ giờ liệm đều phải dằn dao sắt lên bụng. Đó là luật tục của ông bà để lại để bảo vệ cái xác được nguyên vẹn, để con cháu trong nhà không bị tai ương! Mày muốn cái xác của nội mày xảy ra chuyện gì rồi mày mới vừa lòng hả con ranh?"
"Con chỉ muốn nội được nằm yên thôi mà..." Giọng tôi nghẹn ngào, nước mắt uất ức ứa ra nơi khóe mi.
"Muốn nội mày yên thì câm miệng lại và quỳ xuống đó mà lạy!" Cha tôi gằn từng tiếng qua kẽ răng.
Mẹ tôi vội vàng chạy tới ôm lấy vai tôi, kéo tôi lùi về phía sau:
"Thôi con, nghe lời cha đi con. Có kiêng có lành, xứ này sông nước mênh mông, đất đai linh hiển dữ dằn lắm, không theo lời các bậc bô lão thì mang tội bất hiếu đó con ơi."
Tôi đứng nép bên cạnh mẹ, lồng ngực phập phồng nghẹn đắng. Tôi nhìn qua ông Tám Đờn và bác Ba Thợ Cốt, cả hai người già đều nhìn tôi bằng ánh mắt không hài lòng, như thể tôi là một kẻ ngoại lai mang thứ tư tưởng xui xẻo đến phá quấy chốn linh thiêng. Thằng Tùng chỉ biết cúi gầm mặt, tiếp tục lột từng tép tỏi để tránh cơn thịnh nộ của cha.
Không gian trong gian nhà giữa lại chìm vào sự tĩnh lặng ngột ngạt. Khói nhang trầm dày đặc cuộn tròn dưới những xà gồ gỗ căm xe, quyện lấy mùi sáp đèn cầy cháy leo lét tạo nên một bầu không khí u uất đến mức ngột ngạt. Tiếng gió chướng bên ngoài vẫn thổi qua rặng tràm xào xạc, hắt vào trong nhà từng luồng gió hanh hao, mang theo hơi lạnh ẩm ướt của con nước rạch Tràm đang dâng cao.
Cha tôi hít một hơi thật sâu, gương mặt trở lại vẻ trang nghiêm thành kính. Ông quỳ mọp xuống trước chiếc giường tre, lạy thi thể cụ Thời ba lạy sát đất. Sau đó, cha từ từ đứng dậy, hai tay nâng con dao con bằng sắt sáng loáng lên ngang trán khấn vái lầm rầm.
Bác Ba Thợ Cốt đứng bên cạnh cất giọng trầm trầm hướng dẫn:
"Đặt xuống đi anh Hậu. Ngay giữa chấn thủy, đè lên lớp vải lụa đen. Nhẹ tay thôi, coi chừng làm rách áo cụ."
Cha tôi nín thở, chậm rãi cúi người xuống. Đôi bàn tay gân guốc của người nông dân cả đời quen cầm cày cầm cuốc lúc này lại run rẩy một cách lạ thường.
Tôi đứng cách đó chừng hai bước chân, đôi mắt dán chặt vào từng cử động của cha. Dù trong lòng đầy rẫy sự bất mãn và hoài nghi, tôi vẫn không thể dời mắt khỏi cảnh tượng kỳ quái này. Tôi thầm nghĩ trong bụng rằng đây chỉ là một trò mê tín dị đoan vô căn cứ, một con dao sắt vô tri vô giác thì làm sao có thể trấn áp được ma quỷ hay âm khí gì.
Lưỡi dao bằng thép rèn thủ công sáng loáng, sắc lẹm từ từ hạ xuống.
Mũi dao hướng thẳng về phía đôi chân đang buộc chỉ đỏ của nội. Thân dao đặt ngay ngắn lên giữa ngực và bụng của cụ Thời, đè lên lớp áo lụa đại phục màu đen bóng loáng.
Vừa khi mặt kim loại lạnh ngắt chạm hẳn vào lớp vải áo, một tiếng "xèo" cực nhỏ bỗng vang lên.
Âm thanh ấy nhỏ đến mức nếu không phải cả căn nhà đang nín thở thì khó lòng nghe thấy được. Nó giống hệt như tiếng một giọt nước rơi vào chảo mỡ đang nóng, nhưng ở đây không có ngọn lửa nào cả.
Mắt tôi trợn tròn vì kinh ngạc.
Ngay trước mắt tôi, lưỡi dao con bằng sắt vốn đang sáng loáng, phản chiếu ánh đèn cầy rực rỡ, bỗng nhiên biến đổi một cách quái dị. Từ vị trí tiếp xúc giữa lưỡi thép và ngực áo của nội, một vệt đen xỉn màu bắt đầu loang ra cực nhanh. Màu đen u ám ấy như một vết mực tàu thấm vào giấy bản, nuốt chửng độ sáng bóng của kim loại chỉ trong chớp mắt. Toàn bộ bề mặt thép rèn biến thành một màu xám xịt, xỉn đen như một thanh sắt gỉ sét đã bị chôn vùi dưới đáy bùn lầy hàng chục năm trời.
Chưa dừng lại ở đó, từ trên mặt lưỡi dao đen xỉn, từng hạt nước li ti bắt đầu rịn ra.
Đó không phải là nước bình thường. Những giọt nước ấy quánh đặc lại, sền sệt như mỡ cá thối, bốc lên một mùi tanh nồng xộc thẳng vào mũi. Lớp chất lỏng nhờn nhẫy ấy túa ra đầm đìa, chảy dọc theo sống dao rồi nhỏ từng giọt xuống lớp áo lụa đen của thi thể cụ Thời.
Cùng lúc đó, một luồng hơi lạnh thấu xương từ trên thân xác ông nội tôi bốc ngược lên, phả thẳng vào mặt cha tôi và bác Ba Thợ Cốt.
Cha tôi giật nảy mình, hốt hoảng buông tay khỏi chuôi dao, lùi phắt lại phía sau va mạnh vào mép bàn thờ làm chiếc lư hương bằng đồng rung lên bần bật. Gương mặt cha tái mét không còn một giọt máu, đôi môi run rẩy lắp bắp không thành lời.
Bác Ba Thợ Cốt cũng lùi lại một bước, hai mắt trừng trừng dán chặt vào con dao đang rịn ra lớp mồ hôi nhờn lạnh ngắt trên bụng người chết. Bàn tay già nua của bác run lên bần bật, vội vã đưa lên làm dấu trước ngực, giọng nói thảng thốt lạc hẳn đi giữa gian nhà tang vắng lặng:
"Trời đất quỷ thần ơi... Sắt bén đổi màu, tử thi rịn nhớt... Điềm dữ rồi! Âm khí trong xác cụ đã tụ thành khối, con dao dằn không nổi nữa rồi anh Hậu ơi!"