Quỷ Nhập Tràng - Chương 2: Nhà Cổ Rạch Tràm
Con mèo đen nép mình dưới gốc cây hoa đại chớp mắt một cái, hai đốm sáng màu xanh lục lóe lên sắc lẹm rồi lặn mất tăm vào bụi dứa gai rậm rạp cạnh mương…
Nội dung chương
Con mèo đen nép mình dưới gốc cây hoa đại chớp mắt một cái, hai đốm sáng màu xanh lục lóe lên sắc lẹm rồi lặn mất tăm vào bụi dứa gai rậm rạp cạnh mương nước. Tiếng sột soạt khô khốc tắt ngấm, trả lại vẻ tĩnh mịch đến rợn người cho mảnh sân phủ đầy rêu ướt. Tôi rùng mình, vội vàng xốc lại quai ba lô bám đầy bụi đường, bước nhanh qua bậc thềm bằng đá tảng để vào nhà.
Vừa bước qua bậu cửa gỗ căm xe, mùi nhang trầm quyện chặt với mùi dầu khuynh diệp xốc thẳng vào cánh mũi, đặc quánh và nồng nặc. Căn nhà ba gian hai chái cổ kính của dòng họ tôi bao trùm trong ánh sáng vàng vọt từ mấy bóng đèn tròn treo lủng lẳng trên xà nhà. Giữa gian nhà ngoài, chiếc trường kỷ gụ quen thuộc đã được dọn sang một góc, nhường chỗ cho khoảng trống thênh thang chuẩn bị lập linh sàng.
"Chị Hai! Chị về tới rồi!"
Lê Văn Tùng, thằng em trai hai mươi lăm tuổi của tôi, từ trong buồng bước vội ra. Mắt nó đỏ hoe, viền mi sưng mọng, mái tóc bù xù chưa kịp chải chuốt. Tùng đỡ lấy chiếc ba lô nặng trịch trên vai tôi đặt tạm xuống góc phản, giọng nó khản đặc vì mất ngủ:
"Hồi sáng ba gọi cho chị xong thì xóm giềng bắt đầu kéo sang phụ việc. Đò dọc đò ngang bến rạch Tràm nước lớn trắc trở quá, ba cứ trông chị mãi."
Tôi nắm chặt lấy bàn tay lạnh ngắt của em trai, lòng quặn thắt:
"Chị đón xe đò chuyến sớm nhất từ bến xe miền Tây về Cao Lãnh, rồi mướn xe ôm chạy riết một mạch. Chuyện ông nội thế nào rồi Tùng? Ba má đâu?"
Chưa kịp để Tùng trả lời, từ gian chái sau rèm vải xanh, mẹ tôi - bà Lê Thị Hoa bước ra. Mẹ trạc năm mươi lăm tuổi, vốn là người đàn bà lam lũ cả đời gắn với ruộng vườn nên dáng người nhỏ thó, gầy gò. Bộ bà ba đen mẹ mặc trên người nhăn nhúm, hai bọng mắt thâm quầng ứ nước. Vừa nhìn thấy tôi, mẹ đã buột miệng nấc lên một tiếng nghẹn ngào:
"Tuyết ơi... nội mày bỏ cả nhà đi rồi con ơi..."
Tôi nhào tới ôm chầm lấy mẹ. Mùi mồ hôi chua nồng vì thức trọn đêm lẫn trong mùi dầu gió trên vạt áo mẹ khiến tôi không sao kìm được nước mắt. Sống mũi tôi cay xè, nước mắt trào ra thấm đẫm vai áo mẹ. Tôi vỗ nhè nhẹ vào tấm lưng còng đang run lên từng chặp, cố nuốt ngược sự đau xót vào trong cuống họng để làm chỗ dựa cho mẹ:
"Má bình tĩnh, má ráng giữ sức kẻo ngã bệnh. Con về rồi, có con với thằng Tùng đỡ đần cho ba má."
Lúc này, từ ngoài hiên bên hông nhà, cha tôi - ông Lê Văn Hậu bước vào. Người đàn ông năm mươi tám tuổi, trưởng nam của dòng họ Lê, lúc này mang khuôn mặt sạm đen hốc hác khác hẳn ngày thường. Đôi lông mày rậm rạp của cha nhíu chặt lại, ánh mắt trĩu nặng âu lo. Trên tay cha cầm mấy cây rựa và cuộn dây kẽm dùng để néo rạp. Thấy tôi về, cha chỉ gật đầu khẽ một cái, dằn từng tiếng trầm đục:
"Về được là tốt. Rửa mặt mũi cho tỉnh táo rồi ra sân phụ một tay. Đám ma ông nội mày không được chậm trễ, nhưng cũng không được làm ẩu."
Cha đặt mớ đồ nghề xuống sàn gạch tàu kêu cồm cộm rồi quay sang bảo Tùng:
"Mấy chú bác ngoài ấp đang khiêng tre với bạt ngoài mé lộ vô. Mày ra coi phụ căng mấy tấm bạt sọc che kín khoang sân trước. Trời gió chướng thổi mạnh từ phía sông Tiền vô rạch Tràm, không chằng chống kỹ thì gió giật sập hết rạp."
Tùng gật đầu lia lịa rồi tất tả chạy tọt ra sân. Tôi rót một ly nước mưa từ cái lu da lươn đặt cạnh vách ván, đưa cho mẹ uống lấy giọng rồi quay sang hỏi cha:
"Hồi nãy ở bến đò, con có gặp chú Tám Đờn. Chú nói việc khâm liệm ông nội phải đình lại, chờ qua giờ phạm trùng tang mới được phát tang hả ba?"
Cha tôi thở dài một hơi nặng nhọc, ngồi phịch xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít. Ánh mắt cha nhìn đăm đắm vào tấm rèm gió ngăn cách gian nhà giữa với gian buồng trong:
"Ông Tám coi ngày giờ trúng đó con. Nội mày nhắm mắt lúc canh tư sáng nay, rơi đúng vào giờ phạm cực xấu. Thầy phong thủy trên chùa làng cũng bấm quẻ y như vậy, bảo nếu vội vàng nhập quan trước trưa mai thì trong dòng họ sẽ có người bị bắt theo. Bởi vậy, họ hàng thống nhất giữ thi thể cụ trên giường tre trọn đêm nay, đến giờ Thìn sáng mai mới làm lễ khâm liệm."
Nghe cha nói, tôi cảm thấy một luồng gió lạnh từ ngoài vườn thổi hắt qua khe cửa sổ, mang theo mùi sình lầy ngai ngái của con rạch Tràm đang mùa nước nổi. Một đám tang truyền thống kéo dài ba ngày ở miệt vườn sông nước vốn dĩ đã nặng nề, nay lại thêm việc giữ xác chết chưa liệm qua đêm càng khiến bầu không khí thêm phần u tịch.
Tôi theo cha và mẹ bước ra sân trước. Lúc này, khoảng mười người đàn ông lối xóm thân cận đã có mặt. Tiếng cười nói thường ngày biến mất hoàn toàn, chỉ còn lại tiếng chặt tre lách cách, tiếng búa gõ đinh chang chát và tiếng bàn tán xì xào rất nhỏ. Họ dựng lên một cái rạp tang dã chiến bằng cột tre già và bạt dứa ba màu. Bốn góc rạp được néo chặt vào các gốc dừa và gốc bưởi quanh vườn bằng dây kẽm to bản.
Tôi xắn tay áo, cùng mẹ lau chùi mấy bộ bàn ghế gập bằng inox do ban trị sự ấp cho mượn. Nước giếng khoan múc lên lạnh ngắt, rịn qua kẽ tay buốt nhức. Cứ mỗi lần ngẩng đầu nhìn lên rèm tang trắng muốt bay phần phật trong gió chướng, tim tôi lại thắt lại. Từng dải vải xô trắng, từng cuộn nhang vòng đại cỡ mua từ chợ Cao Lãnh về được xếp ngay ngắn trên chiếc bàn dài đặt sát vách tường.
Bà con lối xóm đi qua ngõ đều dừng chân lại nhìn vào rạp tang với vẻ mặt ái ngại. Người miền Tây vốn trọng tình nghĩa, thấy nhà có đại tang đều sang phụ giúp một tay, từ việc mượn chén dĩa cho đến chặt củi nấu nước pha trà. Bác Năm Tôn, một lão nông ngoài sáu mươi tuổi, vừa phụ Tùng buộc chặt góc bạt vừa quay sang dặn dò cha tôi bằng giọng nghiêm nghị:
"Anh Hậu à, giữ xác qua đêm trong nhà gỗ rậm rạp như vầy nguy hiểm dữ lắm. Mùa này chuột đồng với thú hoang men theo mé rạch vô vườn nhiều vô kể. Đêm nay anh phải cắt cử người canh gác cẩn mật bốn phía cửa nẻo, tuyệt đối không cho súc vật lọt vô gian nhà giữa."
"Dạ, em biết rồi bác Năm. Chút nữa căng rạp xong, em cho giăng lưới cước bịt hết mấy cái lỗ thông gió quanh nhà." Cha tôi đáp lời, trán rịn ra những giọt mồ hôi bóng nhẫy dù gió ngoài sông vẫn thổi thốc vào từng cơn buốt lạnh.
Công việc dựng rạp tạm bợ kéo dài đến quá trưa mới hòm hòm. Khoảng sân trước đã được che chắn cẩn thận, những dãy bàn ghế được kê ngay ngắn thẳng hàng để đón khách viếng vào ngày mai. Đèn chiếu sáng chạy bằng bình ắc quy dự phòng cũng được thằng Tùng kéo dây sẵn sàng, phòng trường hợp điện lưới chập chờn như mọi bận.
Khi mọi người kéo nhau ra chái bếp uống nước trà, cha tôi khẽ vỗ vai tôi:
"Tuyết, mày vô nhìn mặt ông nội mày lần cuối đi con. Cả đời cụ thương mày nhất, đi học xa mấy năm trời, cụ cứ nhắc mày hoài."
Cổ họng tôi nghẹn đắng. Tôi gật đầu, bước theo sau lưng cha chậm rãi tiến vào gian trong.
Gian nhà giữa tối mờ mờ, chỉ có hai ngọn đèn cầy màu trắng cắm trên hai chiếc dĩa sứ đặt ở đầu linh cữu đang tỏa ra ánh sáng leo lét. Giữa gian phòng rộng, người ta đã dẹp hết giường tủ thường ngày, chỉ kê một chiếc giường tre mộc mạc trải một manh chiếu hoa bông còn thơm mùi cói mới.
Trên chiếc chiếu ấy, thi thể ông nội tôi - cụ Lê Văn Thời nằm thẳng đuột, bất động.
Cụ được mặc bộ đồ đại phục màu đen may bằng lụa bóng, hai tay đặt xuôi theo thân mình, đôi chân mang đôi vớ trắng tinh được buộc chéo ngón cái bằng một sợi chỉ đỏ theo đúng phong tục mai táng của xứ này. Một tấm vải xô trắng tinh trùm kín từ cổ xuống tận gót chân, để lộ ra gương mặt già nua đã bất động vĩnh viễn.
Tôi bước từng bước rụt rè đến bên mép giường tre. Hai gối tôi run rẩy, bất giác quỳ sụp xuống nền gạch tàu lạnh buốt.
Gương mặt ông nội tôi gầy gò, hốc hác sau những năm tháng chống chọi với tuổi già. Những nếp nhăn sâu hoắm trên trán và khóe mắt như đã phẳng lại, làn da ngả sang màu vàng vọt của sáp ong điểm xuyết những đốm đồi mồi sẫm màu. Hai mắt ông nhắm nghiền, khóe miệng mím chặt tạo nên một nét mặt vô cùng trang nghiêm nhưng cũng đầy vẻ u uất. Không gian xung quanh lặng ngắt như tờ, đến nỗi tôi có thể nghe rõ tiếng tim mình đập thình thịch trong lồng ngực và tiếng gió chướng rít qua khe cửa sổ gỗ.
"Nội ơi... con về trễ quá..."
Nước mắt tôi lã chã rơi xuống manh chiếu cói. Ký ức về những ngày ấu thơ bỗng chốc ùa về rõ rệt. Ngày tôi còn nhỏ, chính đôi bàn tay gầy guộc đầy vết chai sạn này đã dắt tôi đi qua những bờ đê mọc đầy cỏ may, hái từng trái bần chua chấm muối ớt cho tôi ăn. Cụ luôn là chỗ dựa vững chãi nhất cho cả cái gia đình họ Lê này giữa những biến cố thăng trầm. Vậy mà giờ đây, cụ nằm đó, câm lặng và bất động, không còn cất tiếng gọi con bé Tuyết của cụ nữa.
Bên cạnh tôi, mẹ Hoa quỳ xuống bưng mặt khóc nấc lên từng hồi. Cha tôi đứng sừng sững nơi chân giường, hai bàn tay siết chặt lại thành nắm đấm, cố kìm nén giọt nước mắt của người con trưởng gánh vác việc họ.
Thời tiết buổi trưa ở miền Tây Nam Bộ vào mùa này thường hầm hập như một lò than khổng lồ. Hơi nóng từ mái ngói âm dương phả xuống hầm hập, làm áo quần ai nấy đều ướt đẫm mồ hôi dính dấp. Không khí trong căn nhà gỗ ngột ngạt đến mức khó thở, ngọn lửa từ hai cây đèn cầy cứ chập chờn nghiêng ngả theo từng luồng gió quẩn.
Tôi nhìn xuống bàn tay phải của nội đang buông thõng bên mép manh chiếu. Những ngón tay gầy guộc trơ xương, nổi rõ những đường gân xanh ngoằn ngoèo dưới lớp da mỏng manh. Nỗi xót xa trào dâng mãnh liệt, tôi bất giác đưa cả hai bàn tay mình ra, run rẩy nắm lấy bàn tay gầy gò của người đã khuất để tìm kiếm một chút hơi ấm thân thuộc lần cuối.
Vừa chạm vào da thịt ông nội, tôi giật thót tim, toàn thân cứng đờ.
Bàn tay của cụ Thời lạnh ngắt một cách dị thường. Cái lạnh này không giống như cái lạnh của một người vừa mất vài tiếng đồng hồ giữa tiết trời Nam Bộ, mà buốt giá hệt như một tảng băng vừa vớt lên từ dưới đáy sông sâu. Cảm giác lạnh thấu xương xuyên qua da thịt tôi, chạy dọc theo cánh tay rồi xộc thẳng lên tận đỉnh đầu, khiến từng sợi lông tơ trên người tôi dựng ngược.
Tôi hoảng hốt mở to mắt nhìn xuống. Giữa căn phòng hầm hập nóng bức, các khớp ngón tay của thi thể cụ đã đông cứng lại từ bao giờ. Một cảm giác ghê rợn mơ hồ ập đến bóp nghẹt lấy tim tôi.
Tôi toan rụt tay lại vì kinh hãi, nhưng đúng vào lúc ấy, dưới ánh sáng vàng vọt run rẩy của ngọn đèn cầy, một sự việc dị thường đã diễn ra ngay trước mắt tôi.
Các đầu ngón tay khẳng khiu, tím tái của ông nội tôi bỗng nhiên giật giật.
Khớp ngón tay phát ra một tiếng rắc rất khẽ, khô khốc như cành củi gãy. Năm đầu ngón tay vốn đang duỗi thẳng và cứng đờ bỗng từ từ co quắp lại, gập sâu xuống mặt chiếu. Từng móng tay dài màu xám ngoét cào mạnh vào sợi cói, bấu chặt lấy manh chiếu hoa một cách dữ dội như thể người nằm dưới lớp vải liệm đang cố sức níu giữ lấy trần gian trong một cơn giãy giụa vô vọng.