Quỷ Nhập Tràng - Chương 5: Đêm Canh Đầu Bất An
Tiếng bước chân huỳnh huỵch nện trên ván sàn kéo tôi sực tỉnh khỏi cơn chết trân. Cha tôi cầm cây đèn bão chụp kính đỏ chạy xộc ra chái bếp, theo sau là…
Nội dung chương
Tiếng bước chân huỳnh huỵch nện trên ván sàn kéo tôi sực tỉnh khỏi cơn chết trân. Cha tôi cầm cây đèn bão chụp kính đỏ chạy xộc ra chái bếp, theo sau là bác Ba Thợ Cốt với cây rựa bén ngót lăm lăm trên tay. Ánh đèn dầu vàng vọt rọi quét qua vách ván, rọi vào mặt tôi đang tái ngắt, mồ hôi lạnh vã ra ướt đẫm hai bên thái dương.
"Con mèo đâu? Mày thấy nó chạy đàng nào Tuyết?"
Giọng cha tôi gằn xuống, khàn đặc vì lo lắng. Cha lia ngọn đèn bão ra mé rạch, nơi những tàu dừa nước đang rũ rượi trong bóng tối. Bác Ba Thợ Cốt thì không hỏi han gì, ông cụ bước nhanh xuống ba bậc tam cấp tráng xi măng nứt nẻ, dẫm cả đôi guốc mộc vào vũng bùn non bờ mương. Mũi rựa của bác chọc thẳng vào bụi chuối tiêu rậm rạp, khua khoắng một hồi phát ra những tiếng sột soạt khô khốc.
Tôi vịn tay vào mép cửa gỗ, hai khớp ngón tay trắng bệch vì bóp quá chặt:
"Nó vừa ở ngay đó, chỗ gốc chuối. Nó kêu một tiếng như con nít khóc rồi nhảy vọt lên xà gồ mái sau."
Bác Ba Thợ Cốt dừng tay rựa. Bác quay đầu nhìn lên khoảng mái ngói âm dương phủ đầy rêu xanh của căn nhà cổ. Dưới ánh đèn bão hắt ngược, gương mặt đầy những nếp nhăn sâu hoắm của người thợ cốt kỳ cựu co rút lại thành một mớ bòng bong u tối. Bác đưa tay sờ lên thân cây chuối, nơi có mấy vết cào sâu hoắm còn rỉ nhựa trắng nhờ nhờ.
"Đúng là móng vuốt mèo đen." Bác Ba lầm rầm, ngón tay dính nhựa chuối quẹt vội vào gấu quần. "Nó chưa đi xa đâu. Đêm nay là đêm nhập môn, tử khí người chết phát tán ra ngoài ruộng, giống mèo ma đánh hơi lẹ lắm. Anh Hậu, dắt con Tuyết vô nhà mau. Đóng chặt cửa sau, cài then sắt lại!"
Cha tôi không đợi nhắc lần thứ hai. Ông túm lấy khuỷu tay tôi kéo giật vào trong, lực tay mạnh đến mức làm tôi đau điếng. Cánh cửa gỗ dày cộp khép sầm lại, tiếng then sắt trượt vào ổ vang lên một tiếng cạch khô khốc giữa đêm vắng. Mẹ tôi lúc này cũng từ buồng trong bước ra, gương mặt nhợt nhạt, hai tay ôm khư khư bó nhang trầm chưa đốt.
Thằng Tùng ngồi thu lu trên chiếc ghế đẩu cạnh vách, đôi mắt đỏ ngầu vì thiếu ngủ và sợ hãi. Nó nhìn tôi trân trân, lắp bắp:
"Chị Hai... có phải con mèo mắt xanh hồi chiều ngoài bờ kinh không?"
Tôi không trả lời, chỉ khẽ gật đầu rồi ngồi sụp xuống chiếc ghế dài bằng gỗ gõ đỏ đối diện giường tang. Toàn thân tôi vẫn run rẩy sau tiếng thét ma quái ngoài vườn. Thứ âm thanh đó bám chặt vào màng nhĩ, buốt buốt rờn rợn như có ai cào móng tay trên mặt kính.
Bác Ba Thợ Cốt bước vào gian giữa, cởi đôi guốc dính bùn để ngay ngưỡng cửa. Bác đi quanh chiếc giường tre nơi thi thể ông nội đang nằm bất động. Ngọn đèn cầy trắng cắm trên đĩa sành đặt nơi đầu giường chập chờn rọi sáng lớp vải lụa đen phủ kín toàn thân cụ Thời. Con dao con bằng sắt rèn đặt ngang chấn thủy lúc này trông càng quái dị hơn. Vệt ối nhờn tanh tưởi vẫn rịn ra quanh thân dao, đọng lại từng giọt sền sệt bốc mùi hôi thối khó tả.
Bác Ba chắp hai tay sau lưng, thở dài một hơi nặng trĩu:
"Giờ này sắp sang giờ Tý rồi. Thằng Tùng với con Tuyết đêm nay phải thức trọn một đêm bên giường tang. Hai đứa là cháu đích tôn, cháu gái lớn, máu mủ ruột rà phải ngồi sát bên cụ để giữ hơi ấm cho gian nhà. Tuyệt đối không được rời mắt khỏi thi hài nội tụi bây. Hễ có tiếng động lạ hay bóng dáng con vật gì bò ngang qua là phải khua chiêng gõ mõ đuổi đi liền, rõ chưa?"
Thằng Tùng nuốt nước bọt cái ực, ngập ngừng nhìn sang cha:
"Cha với bác Ba không thức chung với tụi con sao?"
Cha tôi xua tay, nét mặt mệt mỏi hằn rõ sự tiều tụy sau một ngày lo liệu trăm thứ việc hậu sự:
"Tao với mẹ mày phải ra nhà sau phụ mấy chú bác trong họ vót nan tre, đan rào chắn quanh hè. Bác Ba còn phải xem lại hướng liệm với chuẩn bị bài vị cho rạng sáng mai. Gian giữa này giao cho hai chị em mày. Đừng có ngủ gục, mang tội bất hiếu với ông nội nghe chưa Tùng."
Dặn dò xong, cha tôi đốt thêm ba cây nhang lớn cắm vào lư hương đồng trước đầu giường rồi cùng bác Ba bước vội ra chái sau. Tiếng then cửa lại lách cách khép lại ở gian phụ, bỏ lại hai chị em tôi giữa một khoảng không gian ngột ngạt đến nghẹt thở.
Chiếc đồng hồ quả lắc treo trên vách gỗ căm xe gõ từng nhịp nặng nề. Tích tắc, tích tắc. Mỗi tiếng gõ như giọt nước buốt giá nhỏ thẳng xuống đỉnh đầu.
Tôi kéo chiếc ghế đẩu lại gần mép giường tre, cách thi thể ông nội chừng nửa sải tay. Thằng Tùng ngồi đối diện tôi bên kia bàn trà, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên mặt gỗ trắc bóng loáng. Không khí trong căn nhà cổ Mỹ Trà lúc này đặc quánh lại bởi mùi nhang trầm, mùi sáp đèn cầy cháy dở và nồng nặc nhất là thứ mùi tử khí tanh ngọt phát ra từ xác chết.
Đó là một thứ mùi quái đản xộc thẳng vào cuống họng. Nó lờ lợ, nhờn nhợt hệt như mùi thịt cá ươn bị bỏ quên dưới đáy hũ sành lâu ngày, xen lẫn chút tanh nồng của bùn non rạch Tràm. Tôi lấy vạt áo tang trắng bịt chặt mũi nhưng mùi hôi thối ấy vẫn bám riết lấy từng thớ thịt, len qua từng kẽ ngón tay làm lồng ngực tôi cồn cào buồn nôn.
"Chị Hai..." Thằng Tùng cất giọng thì thào, phá tan sự im lặng rợn người. "Em thấy lạnh sống lưng quá. Cái lạnh này ngộ lắm, không giống như gió ngoài sông thổi vô."
Tôi ngước nhìn em trai. Gương mặt thằng Tùng trắng bệch dưới ánh nến le lói, hai bọng mắt thâm quầng. Nó mới hai mươi lăm tuổi, xưa nay chỉ quen với công việc đồng áng, máy cày máy xới, chưa từng đối mặt với cái chết cận kề và kỳ dị thế này bao giờ.
"Ráng thức đi Tùng. Uống miếng trà nóng cho đỡ buồn ngủ," tôi rót một chén trà quế từ chiếc bình tích bọc vải vụn đưa sang cho nó.
Thằng Tùng đón lấy chén nước, hai tay nó run bần bật làm nước trà sánh ra ngoài vài giọt. Nó hớp một ngụm nhỏ rồi nhăn mặt:
"Trà nguội ngắt rồi chị ơi. Vừa châm nước sôi hồi nãy mà giờ lạnh tanh như nước đá."
Tôi sờ tay vào thân bình tích. Lớp vải bọc bên ngoài vẫn khô ráo nhưng nhiệt độ bên trong quả thật đã tụt xuống một cách bất thường. Hơi ấm của bình trà biến mất tăm, thay vào đó là cái lạnh buốt thấu xương như thể gian nhà này đang biến thành một hầm chứa đá ngầm dưới lòng đất.
Tôi quay sang nhìn người nằm trên giường tre.
Ông nội tôi nằm thẳng đơ, hai bàn chân buộc chỉ đỏ chĩa thẳng ra phía cửa chính. Lớp vải lụa đen phủ từ đầu đến chân cụ dập dờn rất nhẹ theo từng đợt gió lùa qua khe liếp. Trên ngực cụ, con dao con vẫn nằm im lìm. Tôi trừng mắt nhìn kỹ, những giọt chất lỏng nhờn nhầy trên lưỡi dao dường như rịn ra nhiều hơn lúc nãy. Chúng chảy tràn xuống mặt vải lụa, tạo thành một vệt sẫm màu tròn xoe ngay vùng bụng người chết.
Mùi tanh nồng từ thi thể lại bốc lên ngùn ngụt. Tôi cảm giác như ruột gan mình đang bị đảo lộn.
Thằng Tùng bắt đầu gà gật. Cả ngày hôm nay nó phải phụ khiêng bàn ghế, đào đất dựng rạp ngoài sân, sức lực thanh niên dù có dẻo dai đến đâu cũng không chịu nổi sự mệt mỏi cùng cực cộng thêm nỗi sợ hãi kéo dài. Đầu nó gục xuống mặt bàn trà rồi lại giật mình ngẩng lên, hai mắt đờ đẫn dại đi.
"Tùng! Không được ngủ!" Tôi vươn tay vỗ mạnh vào vai nó, giọng tôi gắt gỏng vì lo sợ. "Mày ngủ rồi lỡ có chuyện gì thì sao? Thức dậy coi!"
Thằng Tùng giật thót mình, chớp chớp mắt nhìn quanh quất:
"Em... em mệt quá chị Hai. Hai mắt em dính chặt lại rồi, mở không lên nổi. Em chợp mắt một lát thôi... chừng mười phút chị kêu em dậy nghen..."
"Mày khùng hả Tùng? Hồi nãy cha với bác Ba dặn sao? Không ai được ngủ hết!"
Thằng Tùng ậm ừ trong cổ họng, giọng nói nhỏ dần rồi tắt ngấm. Nó không buồn nghe lời tôi nữa, gối đầu lên hai cánh tay khoanh tròn trên bàn trà, hơi thở bắt đầu phát ra những tiếng khò khè nặng nhọc. Tôi tức giận định túm tóc kéo nó dậy, nhưng nhìn thấy bờ vai gầy guộc cùng những vết trầy xước trên mu bàn tay nó sau một ngày lao động cật lực, bàn tay tôi lại buông thõng xuống.
Sự bực bội trào lên trong ngực, xen lẫn nỗi cô độc ghê gớm. Giờ đây, chỉ còn mình tôi tỉnh táo giữa gian nhà tang vắng lặng này.
Đêm về khuya, không gian xung quanh ấp 4 xã Mỹ Trà chìm vào một thứ tĩnh mịch quái gở. Tiếng ếch nhái, ễnh ương ngoài đồng ruộng vốn dĩ râm ran suốt mùa nước nổi đêm nay bỗng nhiên bặt tăm. Không có lấy một tiếng dế kêu bên bờ rạch. Toàn bộ vạn vật dường như nín thở, nhường chỗ cho bóng tối đen đặc quánh đang bao trùm lấy ngôi nhà cổ.
Tôi ngồi thu mình trên chiếc ghế đẩu, hai bàn chân co lên thanh ngang của ghế. Chiếc bóng của tôi in trên vách ván gỗ căm xe, méo mó và dập dờn theo ánh nến. Mỗi lần mắt tôi đảo qua giường tang, da gà khắp người lại nổi lên từng chập.
Tôi nhìn thấy rõ từng nếp gấp trên tấm vải lụa đen. Dưới lớp vải đó là thân xác của ông nội tôi, người đàn ông hiền lành cả đời chỉ biết đến ruộng vườn, rẫy bắp. Vậy mà lúc này, nằm cách tôi chưa đầy một mét, thân xác ấy lại tỏa ra một áp lực vô hình nặng trĩu. Sự hiện diện của cái chết quá rõ ràng, quá trần trụi và lạnh lùng.
Bất chợt, một tiếng cót két vang lên từ trên trần nhà.
Tôi giật nảy mình, ngửa cổ nhìn lên những thanh xà gồ đen bóng vì ám khói. Mái ngói âm dương nằm im lìm trong bóng tối. Không có con thạch sùng nào bò qua, cũng chẳng có bóng dáng con chuột cống nào chạy nhảy. Nhưng tiếng cào sột soạt lại vang lên, lần này rõ ràng hơn, phát ra ngay phía trên vị trí đầu giường của nội.
Xoẹt... xoẹt...
Âm thanh nghe như móng vuốt của một con vật sắc nhọn đang cào cấu vào lớp gỗ căm xe cứng như đá. Từng mẩu bụi gỗ li ti rơi lả tả xuống chiếc màn tang màu trắng treo rủ bên cạnh.
Tim tôi đập loạn xạ trong lồng ngực, tiếng thình thịch vang dội bên tai như tiếng trống dồn. Tôi muốn hét lên gọi cha, muốn lay thằng Tùng dậy để nó cùng chứng kiến nỗi kinh hoàng này, nhưng thằng em trai tôi vẫn nằm bất động trên bàn trà, chìm sâu vào giấc ngủ li bì như bị trúng thuốc mê. Dù tôi có giẫm chân xuống ván sàn thật mạnh, nó cũng không hề nhúc nhích.
Tôi v với lấy chiếc que củi bằng gỗ tràm gác dưới chân bàn thờ, siết chặt trong tay làm vũ khí tự vệ. Bàn tay tôi ướt đẫm mồ hôi nhờn, lạnh ngắt.
Tôi nhìn chằm chằm vào chiếc đĩa sành đặt ngọn đèn dầu hỏa ở đầu giường người chết.
Đó là một ngọn đèn dầu phụng xưa cũ, chụp bằng ống khói thủy tinh thon dài. Ngọn lửa vàng cam vốn đang cháy đều đặn bỗng nhiên thu nhỏ lại chỉ bằng hạt đỗ. Tim đèn khẽ rung rinh, phát ra tiếng tí tách rất khẽ.
Gió trong nhà hoàn toàn lặng câm. Bốn bề cửa nẻo đã được cài then đóng chốt kín mít. Nhưng ngọn lửa đèn dầu không chịu đứng yên. Nó uốn éo, chao đảo một cách kỳ quái rồi đột ngột bốc cao lên chừng hai lóng tay.
Sắc vàng ấm áp của ngọn lửa biến mất.
Ngay trước mắt tôi, ngọn lửa đèn dầu chuyển sang một màu xanh lục biếc, xanh lét và lạnh lẽo hệt như màu mắt của con mèo đen tuyền ngoài bờ mương ban nãy. Ánh lửa xanh ma quái ấy tỏa ra một luồng sáng nhờ nhờ, bao trùm lên gương mặt phủ vải lụa của thi thể cụ Thời. Dưới thứ ánh sáng quái đản này, tấm vải đen dường như biến thành một màu tím sẫm tanh tao, làm nổi rõ đường nét gồ ghề của hốc mắt, sống mũi và khuôn miệng người chết nằm bên dưới.
Nỗi sợ hãi tột cùng bóp nghẹt lấy cuống họng tôi. Tôi muốn lùi lại nhưng hai chân tôi bủn rủn, dính chặt xuống sàn nhà như bị đóng đinh.
Chưa dừng lại ở đó, hai cây nến sáp trắng cắm trên đôi chân nến bằng đồng trước bàn thờ bỗng nhiên phát ra những tiếng xèo xèo dữ dội. Lửa nến không hề tắt, nhưng từ ngọn nến bắt đầu bốc lên từng luồng khói đen kịt, đặc quánh như khói đốt cao su. Khói đen cuộn tròn lại thành từng luồng dày đặc, bốc nghi ngút lên tận xà nhà dù không hề có một ngọn gió nào thổi qua gian giữa.
Mùi sáp ong cháy khét lẹt quyện với mùi dầu hỏa và mùi tử khí nhờn nhợt tạo nên một thứ xú khí nồng nặc đến nghẹt thở. Khói đen tràn xuống, lờ lững trôi là là quanh giường tang, nuốt chửng lấy đôi chân buộc chỉ đỏ của nội tôi trong một màn sương u ám.
Trong ánh lửa xanh lét ma quái và làn khói đen cuồn cuộn bốc lên từ hai ngọn nến sáp, tôi nghe thấy từ dưới lớp vải lụa đen phủ trên người ông nội phát ra một tiếng rên cực nhỏ, khàn đục như tiếng thở dài của một kẻ vừa tỉnh giấc dưới đáy mồ sâu.