Quỷ Nhập Tràng - Chương 4: Đôi Mắt Xanh Bờ Ruộng

Lời thảng thốt của bác Ba Thợ Cốt rớt xuống giữa gian nhà tang hệt như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào chảo dầu đang sôi. Mùi tanh nồng từ lớp mỡ quánh…

Nội dung chương

Lời thảng thốt của bác Ba Thợ Cốt rớt xuống giữa gian nhà tang hệt như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào chảo dầu đang sôi. Mùi tanh nồng từ lớp mỡ quánh rịn ra trên mặt con dao rèn bốc lên ngùn ngụt, trộn lẫn với khói nhang trầm tạo thành một thứ tử khí đặc quánh khiến người ta buồn nôn.

Cha tôi đứng chết trân bên mép giường tre, bàn tay vừa buông khỏi cán dao vẫn còn run rẩy từng cơn. Gương mặt người đàn ông vốn quen dãi dầu mưa nắng trên đồng bãi Mỹ Trà lúc này cắt không còn một giọt máu. Cha nhìn trừng trừng vào lưỡi thép đã xỉn màu đen kịt, lồng ngực phập phồng gấp gáp dưới lớp áo tang thô ráp.

"Bác Ba... chuyện này... rốt cuộc là duyên cớ làm sao?" Tiếng cha tôi nghẹn lại nơi cổ họng, trầm đục và khô khốc.

Bác Ba Thợ Cốt không đáp lời cha ngay. Đôi mắt đục ngầu của ông lão làm nghề khâm liệm lâu năm dán chặt vào lớp chất lỏng nhờn nhẫy đang rỉ ra từ bụng thi thể. Ông vội vàng bước giật lùi lại hai bước, thọc tay vào túi áo bà ba rút ra một xâu tỏi củ nhỏ bằng ngón chân cái, ném mạnh xuống sàn đất chung quanh bốn chân giường.

"Tụ khí! Khí độc trong lục phủ ngũ tạng cụ chưa chịu tan!" Bác Ba hạ giọng, âm thanh rít qua kẽ răng run rẩy. "Cụ mất trúng giờ cấn, đất rạch Tràm lại đang mùa nước dâng, hơi lạnh dưới bùn xông lên dữ quá. Con dao này tôi chọn loại thép rèn bảy lửa của lò rèn ngã ba Vàm Bướm, bén ngót vậy mà vừa đè lên đã biến sắc. Đêm nay khó khăn trăm bề rồi anh Hậu ơi."

Mẹ tôi nghe tới đó thì hai chân mềm nhũn, phải bấu chặt lấy một bên cột nhà bằng gỗ căm xe để khỏi ngã quỵ. Bà liên tục đưa vạt áo bà ba lên chấm khóe mắt, miệng lẩm bẩm khấn vái mười phương chư Phật cùng cửu huyền thất tổ phù hộ độ trì cho người nằm trên chiếu được yên mồ yên mả. Thằng Tùng ngồi thụp dưới chân bàn thờ, hai tay bốc từng nắm tỏi đập giập rải thành một vòng tròn quanh manh chiếu cói, gương mặt nó tái mét, mắt dáo dác nhìn trần nhà đầy vẻ kinh sợ.

Tôi đứng tựa lưng vào bức vách gỗ, hai thái dương giật thình thịch từng cơn đau buốt. Không khí ngột ngạt đến mức buồng phổi tôi co thắt lại, hít vào toàn mùi tử khí ngai ngái cùng mùi mỡ động vật ươn thối bốc lên từ chiếc áo lụa đại phục. Cảnh tượng lưỡi dao đen kịt và những ngón tay co quắp của nội cứ xoay mòng mòng trước mắt tôi.

Là một đứa con gái học hành đến nơi đến chốn trên thành phố, tôi luôn tâm niệm rằng mọi biến đổi của thân xác con người sau khi tắt thở đều nằm trong quy luật phân hủy sinh học tự nhiên. Sự co rút của cơ bắp, việc rỉ dịch tử thi hay sự biến đổi của kim loại khi tiếp xúc với hợp chất lưu huỳnh bốc ra từ xác chết đều có thể giải thích bằng khoa học. Thế nhưng, đứng giữa gian nhà cổ âm u bên bờ rạch Tràm, nghe tiếng gió chướng rít liên hồi qua khe liếp và nhìn những khuôn mặt trắng bệch của người thân, những kiến thức sách vở trong đầu tôi bắt đầu lung lay dữ dội.

"Tuyết à, con xuống bếp múc một thau nước lạnh lên đây." Tiếng mẹ tôi cất lên yếu ớt, ngắt ngang dòng suy nghĩ hỗn loạn của tôi. "Đem thêm cái khăn mặt sạch để bác Ba lau rửa lại tay chân, lát nữa còn thắp tuần nhang đầu hôm."

Tôi gật đầu thật nhanh, chỉ mong tìm được một cớ để thoát ra khỏi gian nhà tang đang ngập tràn ám khí này.

Tôi quay gót, sải bước thật nhanh qua lối đi hẹp lát gạch tàu cũ mốc dẫn xuống chái bếp phía sau. Tiếng tụng kinh khấn vái rì rầm của bác Ba cùng tiếng sụt sùi của mẹ nhỏ dần lại sau lưng, nhường chỗ cho tiếng côn trùng rỉ rả ngoài bờ mương.

Chái bếp của căn nhà cổ được dựng bằng vách đất trộn rơm mục, mái lợp lá dừa nước đã ngả màu xám xịt sau bao mùa mưa nắng. Bên dưới sàn đất nện mấp mô, ba ông táo bằng đất nung nguội ngắt từ sáng, chỉ còn vài cọng củi tràm cháy dở nằm chỏng chơ. Ở góc bếp, một chiếc vại sành cỡ lớn đựng nước mưa hứng từ mái ngói đứng im lìm dưới ánh sáng lờ mờ hắt ra từ ngọn đèn dầu treo trên cột quân.

Tôi bước tới mép vại sành, với lấy chiếc gáo dừa múc một ngụm nước lạnh hắt thẳng lên mặt.

Hơi nước buốt giá làm da thịt tôi co rúm lại, cơn choáng váng trong đầu giảm bớt phần nào. Tôi cúi người nhìn vào mặt nước phẳng lặng trong vại. Dưới ánh đèn dầu leo lét, khuôn mặt tôi phản chiếu méo mó, hai mắt quầng thâm và bờ môi nhợt nhạt vì đói và sợ. Tôi vục cả hai bàn tay vào làn nước mát, cọ rửa thật mạnh lớp da thịt ở mu bàn tay - nơi lúc nãy tôi đã vô tình chạm vào những ngón tay lạnh ngắt của nội. Cảm giác buốt giá xuyên thấu xương tủy ấy dường như vẫn còn bám chặt lấy tôi, dai dẳng và u ám.

"Chỉ là co cứng tử thi bình thường thôi. Mình không được tự dọa mình." Tôi lẩm bẩm thành tiếng giữa gian bếp trống hoác, cố dùng chính thanh âm của bản thân để lấp đầy sự tĩnh mịch đang đè nặng.

Tôi đứng thẳng người, đưa tay kéo chốt mở cánh cửa sau của chái bếp. Cánh cửa gỗ ọp ẹp phát ra tiếng kêu kẽo kẹt rợn người khi mở rộng ra khoảng vườn tối đen như mực.

Gió chướng từ phía bờ ruộng thổi thốc vào mặt tôi, mang theo mùi ngai ngái của bùn non, mùi lá cây rụng đang phân hủy và hơi ẩm lạnh buốt của con nước rạch Tràm đang ngấp nghé bờ bao. Trước mắt tôi là một khoảng tối mênh mông, thăm thẳm của vùng đồng bãi Đồng Tháp khi đêm vừa sập xuống. Xa xa phía ngoài kia, ruộng lúa đang vào vụ nằm im lìm dưới bầu trời không trăng sao, ranh giới giữa đất và trời bị xóa nhòa bởi một màu đen đặc quánh.

Sát mé hiên sau là một rặng chuối hột mọc um tùm, chạy dài dọc theo bờ mương dẫn nước ra ruộng lớn. Những tàu chuối to bản, rách bươm vì gió quất vào nhau xao xác, tạo nên những âm thanh sàn sạt khô khốc hệt như tiếng móng tay sắc nhọn đang cào cấu trên vách nứa.

Tôi rùng mình, một luồng ớn lạnh từ từ bò dọc sống lưng. Lớp lông tơ trên hai cánh tay tôi bất giác dựng đứng cả lên.

Tôi cố mở to mắt để quan sát địa thế quanh vườn, chuẩn bị cho đêm canh tân đầu tiên sắp tới. Lời dặn dò nghiêm ngặt của bác Ba Thợ Cốt lúc chiều vẫn còn văng vẳng bên tai tôi: đêm canh giữ xác chết chưa liệm, tuyệt đối không được để bất kỳ con vật bốn chân nào bén mảng vào vòng bán kính mười thước quanh linh cữu. Gia đình tôi ở chốn đồng không mông quạnh này, xung quanh chỉ toàn mương rạch và gò mả hoang, loài vật qua lại nhiều không đếm xuể.

Bất chợt, một vệt sáng nhỏ lập lòe chao lượn giữa những tán lá chuối rậm rạp.

Tim tôi khẽ giật thót. Nhưng ngay sau đó, tôi thở phào một hơi nhẹ nhõm. Đốm sáng ấy nhấp nháy màu vàng xanh nhạt nhẽo, bay là đà từ mé mương lên rồi lượn qua thân một cây tràm cằn cỗi.

"Đom đóm bờ ruộng thôi, có gì đâu mà sợ." Tôi tự nhủ thầm, đưa tay xoa nhẹ hai bờ vai đang cứng đờ vì căng thẳng. Ở xứ Mỹ Trà này, cứ mỗi bận con nước lớn tràn đồng, đom đóm lại bu đầy trên các nhánh bần, nhánh tràm để tìm bạn tình. Những vệt sáng lân tinh chập chờn ấy là thứ cảnh tượng quen thuộc gắn liền với tuổi thơ tôi.

Tôi bước thêm hai bước ra khỏi ngưỡng cửa bếp, đứng trên bậc tam cấp bằng đá xanh trơn trượt để nhìn cho rõ hơn.

Tiếng ễnh ương dưới mương nước bỗng nhiên im bặt một cách kỳ lạ.

Sự tĩnh lặng bất ngờ ấy rơi ụp xuống không gian hệt như một tấm màn nhung đen kịt. Tiếng ve sầu, tiếng nhái bầu râm ran khắp bờ ruộng lúc nãy hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại tiếng gió thổi rít qua các kẽ lá chuối khô. Một áp lực vô hình nặng trĩu đè nghiến lên lồng ngực tôi, làm nhịp thở của tôi trở nên ngắt quãng.

Tôi nheo mắt nhìn sâu vào lùm chuối hột rậm rạp nhất, nơi giáp ranh giữa bờ mương và chân ruộng lúa.

Ở đó, sâu bên dưới những bẹ chuối khô rũ rượi mục nát, có hai đốm sáng khác vừa xuất hiện.

Chúng không hề bay lượn lờ chập chờn như lũ đom đóm bờ mương. Hai đốm sáng này hoàn toàn bất động, nằm song song với nhau ở độ cao chừng hai gang tay so với mặt đất ẩm ướt.

Sắc đóm ấy không mang màu vàng xanh mờ nhạt của côn trùng mùa nước nổi. Đó là một màu xanh lục biếc, xanh lè và sắc lạnh như hai mảnh ngọc bích bị ngâm dưới đáy giếng hoang ngàn năm. Hai đốm sáng ấy sáng rực một cách quái dị giữa màn đêm đen kịt, tỏa ra một thứ ánh quang ma quái làm rợn ngợp cả một góc vườn.

Toàn thân tôi cứng đờ lại như bị chôn chân xuống nền đất nện.

Đó không phải là đom đóm. Đốm sáng ấy có con ngươi, có chiều sâu của một sinh vật sống. Đó là một đôi mắt.

Đôi mắt màu xanh lè ấy đang nhìn trừng trừng, không hề chớp lấy một lần. Ánh nhìn của nó sắc bén và lạnh lẽo đến mức tôi cảm nhận rõ ràng từng đợt buốt giá đang đâm xuyên qua da thịt mình. Nó không hề nhìn vào tôi đang đứng sững nơi bậc cửa bếp. Tâm điểm của đôi mắt quái đản ấy ghim thẳng qua khoảng trống giữa hai cánh cửa gỗ, hướng thẳng vào gian nhà giữa - nơi đặt thi thể của ông nội tôi trên chiếc giường tre.

Từ trong bóng tối mịt mùng dưới gốc chuối, một cái bóng đen kịt bắt đầu chậm rãi trườn ra.

Sinh vật ấy di chuyển vô cùng êm ả, không gây ra một tiếng động nhỏ nào trên lớp lá mục ướt sũng. Bộ lông của nó đen tuyền từ đầu đến chân, đen đặc quánh đến mức như thể nó hút cạn mọi tia sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu sau lưng tôi. Dáng hình nó thon dài, uyển chuyển nhưng gầy guộc trơ xương, bốn bàn chân to bản cắm sâu vào lớp bùn lầy bờ mương.

Một con mèo đen.

Nhưng nó to lớn một cách bất thường, kích thước gần bằng một con chó con sáu tháng tuổi. Cái đuôi dài ngoằng của nó uốn lượn từng đợt trong không trung như một con rắn độc đang chuẩn bị vồ mồi. Hai vành tai nhọn hoắt vểnh ngược lên trời, chĩa thẳng về phía nhà tang hệt như đang lắng nghe từng nhịp khấn vái của người sống bên trong.

Hơi thở tôi nghẹn lại nơi cổ họng. Tôi muốn há miệng hét to lên để gọi cha, gọi bác Ba Thợ Cốt mang gậy gộc ra xua đuổi con thú dữ, nhưng thanh quản tôi như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Nỗi kinh hoàng tột độ khiến hai đầu gối tôi run bần bật, va vào nhau lập cập.

Con mèo đen tuyền dừng lại ngay mép bờ mương, cách tôi chưa đầy mười bước chân.

Nó từ từ chuyển dời ánh nhìn sắc lẹm từ gian nhà giữa sang phía tôi. Khi hai đốm mắt xanh lè ấy chiếu thẳng vào mặt tôi, tôi có cảm giác linh hồn mình như bị một lực hút cực mạnh kéo tuột xuống đáy vực sâu lạnh giá. Trong đôi mắt xanh biếc ấy không có sự sợ hãi của một loài súc vật hoang dã khi giáp mặt con người. Nó chỉ chứa đựng sự hung tợn, một thứ ác ý nguyên thủy đầy vẻ đe dọa và đói khát.

Nó nhe răng, để lộ ra hai chiếc nanh nhọn hoắt màu trắng đục dính đầy bùn đất nhớp nhúa.

Rồi, con quái thú ngửa cổ lên trời.

Một âm thanh kinh hoàng xé toạc màn đêm tĩnh mịch của ấp Mỹ Trà.

"Ngao... o... o... oe...!"

Tiếng gào thét rền rĩ, ai oán và the the chói tai phát ra từ cuống họng của con mèo đen, dội thẳng vào màng nhĩ tôi buốt nhói. Âm thanh ấy không hề giống tiếng kêu bình thường của loài mèo động đực, mà nó biến dạng thành tiếng khóc thét nghẹn ngào, ai oán đến xé ruột xé gan của một đứa con nít sơ sinh đang bị người ta bóp nghẹt cổ họng dưới nước.

Tiếng kêu ma quái ấy vang vọng khắp mặt rạch Tràm, đập vào rặng tràm già rồi dội ngược trở lại gian nhà tang, làm từng lớp ngói âm dương trên mái rung lên bần bật.

Tôi hét lên một tiếng thất thanh, lùi phắt lại phía sau vấp phải bậu cửa gỗ ngã nhào xuống sàn bếp. Chiếc gáo dừa trên tay tôi rơi xuống đất vỡ làm đôi, nước mưa bắn tung tóe lên vạt áo tang trắng muốt.

Bên trong gian nhà trên, tiếng chân người chạy rầm rập lập tức vang lên, kèm theo tiếng quát tháo thảng thốt của cha tôi:

"Tiếng gì vậy? Tiếng con gì ngoài vườn vậy Tuyết?"

Tôi vừa run rẩy gượng dậy nhìn ra ngoài hiên, đôi mắt xanh lè nơi bờ ruộng đã hoàn toàn biến mất vào bóng tối mịt mùng. Chỉ còn lại mùi tanh nồng của bùn non nồng nặc xộc thẳng vào buồng phổi, cùng một vệt bóng đen vừa vọt lướt qua xà gồ mái lá, hướng thẳng về phía nóc nhà tang nơi thi thể ông nội đang nằm chờ liệm.

Chương khác

Xem thêm