Quỷ Nhập Tràng - Chương 25: Yên Nghỉ Trong Đất Mẹ Đồng Tháp
Ánh sáng màu cam nhạt rọi qua rặng dừa nước mé rạch, xua đi màn sương dày đặc giăng kín bờ kênh suốt ba đêm ròng rã. Gió sớm mang theo hơi lạnh lành lạnh…
Nội dung chương
Ánh sáng màu cam nhạt rọi qua rặng dừa nước mé rạch, xua đi màn sương dày đặc giăng kín bờ kênh suốt ba đêm ròng rã. Gió sớm mang theo hơi lạnh lành lạnh của ngọn gió chướng cuối năm, thổi qua những tàu chuối non đẫm nước, làm rụng xuống từng giọt sương mai tí tách trên nền đất xốp.
Tôi ngồi tựa lưng vào bậu cửa gỗ, hai bàn tay đan chặt vào nhau để kìm lại những cơn run rẩy hãy còn đọng lại trong từng thớ thịt. Mùi khói rơm đốt đồng từ ngoài ruộng trôi vào thoang thoảng, hòa quyện với mùi trầm hương ngào ngạt đang tỏa ra từ lư đồng trên bàn thờ vong. Cảm giác lạnh buốt thấu xương nơi gót chân, thứ ám khí hôi hám của bùn lầy rạch sâu và tiếng móng vuốt cào xé trong đêm tối rốt cuộc đã lùi xa, chìm khuất sau ranh giới le lói của vầng thái dương vừa nhô lên khỏi ngọn tràm.
Căn nhà ba gian của gia đình tôi tại ấp 4 xã Mỹ Trà sáng nay đông đúc hơn thường lệ. Bà con chòm xóm từ đầu kinh tới cuối rạch lục tục kéo sang từ lúc gà gáy le te. Những người đàn ông mặc áo sơ mi bạc màu cẩn thận xắn tay áo, kiểm tra lại dây chão, đòn khiêng và giá đỡ đóng bằng gỗ tràm chắc nịch. Mấy cô, mấy thím trong xóm quấn khăn rằn quanh cổ, lui cui bưng những khay nước trà sen ấm nóng, những đĩa bánh ít trần đặt lên các dãy bàn kê tạm dưới rạp tang che bạt xanh ngoài sân.
Không một ai nhắc lại những tiếng gầm rú kinh hồn xé toạc màn đêm hay sự rung chuyển của nền nhà gạch nứt toác đêm qua. Thầy Hai Thìn đã dặn kỹ từ trước rạng đông, người sống phải giữ lòng thanh tịnh, mọi biến cố tai ương trong đêm tối phải chôn chặt dưới đáy lòng để linh hồn người khuất núi được thanh thản rời bến mê.
Má tôi, sau hai ngày kiệt sức vì lo sợ và khóc than, nay đã gượng dậy nổi. Bà mặc bộ đồ bà ba đen sạch sẽ, cẩn thận chải lại búi tóc rồi bước đến cạnh tôi. Bàn tay gầy guộc, thô ráp vì quanh năm làm cỏ vườn của má đặt lên vai tôi, truyền sang hơi ấm bình dị của tình mẫu tử.
- Uống ngụm trà gừng nóng cho lại sức đi con. Sắp đến giờ làm lễ bái quan rồi - Má nói khẽ, giọng khàn đặc nhưng ánh mắt đã lấy lại được vẻ an định vốn có.
Tôi đón lấy chén trà từ tay má, hớp một ngụm nhỏ. Vị cay nồng của gừng tươi và vị ngọt ấm của đường phèn lan dần xuống cuống họng, làm tan biến đi những dư vị đắng chát nghẹn ứ suốt mấy đêm liền không chợp mắt.
Bên cạnh cỗ quan tài bằng gỗ sao, cha tôi và thằng Tùng đứng túc trực hai bên. Cha Hậu mặc chiếc áo dài tang bằng vải xô trắng, đầu thắt khăn tang trắng xóa, hai mắt ông trũng sâu nhưng dáng đứng vững chãi của người con trưởng gánh vác việc họ vẫn hiên ngang như cây cột cái trong nhà. Thằng Tùng cầm cây gậy tang bằng tre cật cắm thẳng xuống đất, đầu cúi thấp, nét bồng bột thường ngày biến mất, thay vào đó là sự trầm tĩnh của một chàng trai vừa bước qua lằn ranh sinh tử để bảo vệ mái ấm của gia đình.
Chiếc áo quan bằng gỗ sao nằm ngay ngắn giữa gian chính, phủ tấm vải điều đỏ thắm in hình hoa sen và chữ Thọ màu vàng. Bốn góc quan tài được Thầy Hai Thìn đóng chặt bằng bốn chiếc nẹp gỗ sao ngâm nước ngũ vị hương, không còn một kẽ hở nào để âm khí lọt ra ngoài. Cụ Thời, người ông hiền từ cả đời cày sâu cuốc bẫm của tôi, giờ đây đã thực sự yên nghỉ bên trong lớp áo quan ấm áp, thanh thản rời xa những xiềng xích ma quái của loài mèo đen nghịch mệnh.
Thầy Hai Thìn bước vào giữa gian nhà, trên người khoác chiếc áo tràng nâu giản dị. Ông cầm cành dương liễu nhúng vào chén nước cam lồ đặt trên bàn thờ hương án, vẩy đều khắp bốn góc nhà và xung quanh cỗ áo quan. Tiếng chuông đồng nhỏ trên tay ông khẽ reo lên từng tiếng leng keng trong trẻo:
- Giờ hoàng đạo đã đến. Lễ bái quan khởi sự!
Bốn vị đạo tỳ khỏe mạnh tiến vào, cúi đầu lạy trước linh cữu bốn lạy theo đúng nghi thức cổ truyền của tang lễ miền Tây. Cha tôi bước lên, quỳ sụp xuống chiếu hoa, vái lạy thi hài cụ Thời lần cuối cùng trước khi đưa cụ ra đồng. Những tiếng tụng kinh cầu siêu của ban hộ niệm từ chùa Phật học ngoài thị xã Cao Lãnh bắt đầu cất lên trầm bổng, hòa cùng tiếng mõ nhịp nhàng gõ đều đặn vào thinh không.
Thầy Hai Thìn quay sang nhìn tôi, ánh mắt nghiêm cẩn trao cho tôi chiếc khung gỗ bọc vải lụa trắng:
- Tuyết, cháu là cháu gái đích tôn, cháu hãy ôm di ảnh của nội dẫn đường. Đi thẳng một mạch, mắt nhìn về phía trước, lòng giữ vẹn chữ hiếu chữ tình.
Tôi run run đón lấy tấm di ảnh của nội. Trong bức hình chụp năm tám mươi tuổi, nội tôi mặc áo bà ba trắng, chòm râu bạc như cước xõa dài trước ngực, nụ cười hiền hậu với những nếp nhăn đuôi mắt ánh lên vẻ bao dung của người già vùng sông nước. Tôi ghì chặt khung hình vào lồng ngực, cảm nhận rõ rệt lớp kính mát rượi áp sát vào vạt áo tang.
- Động quan! - Giọng người chấp lệnh vang lên vang rền, xé toạc bầu không khí tĩnh mịch.
Tám đạo tỳ đồng loạt luồn hai thanh đòn khiêng bằng gỗ tràm bản lớn qua đáy quan tài. Tiếng hô đồng thanh dõng dạc cất lên. Chiếc quan tài nặng trịch được nâng bổng lên khỏi mặt đất một cách nhịp nhàng, êm ả. Tiếng phèng la đánh lên những hồi giòn giã, tiếng kèn tây tấu lên khúc tiễn biệt não nùng quen thuộc của những đám ma miệt đồng bằng.
Tôi bước những bước đầu tiên ra khỏi ngạch cửa, dẫn đầu đoàn người đưa tiễn. Phía sau tôi là cha tôi chống gậy tang đi giật lùi. Vừa đi vừa cúi đầu lạy linh cữu cha mình theo tục lệ "cha đưa mẹ đón". Thằng Tùng đi bên cạnh đỡ lấy cánh tay cha, từng bước chân hai cha con in hằn trên nền đất sũng nước. Má tôi cùng các cô bác thân quyến đi nối dài phía sau, khăn tang trắng bay phất phơ giữa ngọn gió sớm.
Đoàn tang rời khỏi khoảng sân gạch quen thuộc, tiến bước ra con lộ đất đỏ chạy dọc theo bờ rạch Mỹ Trà. Mặt trời đã lên cao chừng con sào, rải những sợi nắng vàng óng ả như mật ong xuống mặt nước rạch đang lững lờ trôi xuôi về hướng sông Tiền. Những khóm lục bình trôi bồng bềnh, nở rộ từng chùm hoa tím biếc dưới ánh mai.
Bà con lối xóm đứng kín hai bên bờ rào râm bụt. Khi đoàn xe tang và linh cữu đi qua, những người nông dân chân lấm tay bùn đều tự động cởi nón lá cầm trên tay, kính cẩn cúi đầu tiễn biệt cụ già thọ nhất ấp. Vài cụ già cùng thời với nội tôi đứng tựa gốc dừa, đưa tay lau đi giọt nước mắt thương tiếc người bạn già đã về miền mây trắng.
Chúng tôi đi xuyên qua cánh đồng lúa đang thì con gái xanh mướt của vùng Cao Lãnh. Mùi hương lúa non ngọt ngào quyện chặt lấy hương trầm thơm ngát từ bó nhang lớn tôi cầm trên tay. Cánh đồng trải rộng mênh mông tít tắp đến tận chân trời, gió đồng thổi lồng lộng làm phần phật vạt áo xô trắng của tôi. Mỗi bước chân giẫm trên bờ ruộng đất sét dẻo quánh, tôi lại nhớ đến những ngày ấu thơ được nội cõng trên lưng đi thăm từng bờ mương, nhặt từng bông lúa rụng. Đôi bàn tay chai sần của nội từng dắt tôi đi qua những mùa nước nổi trắng đồng, dạy tôi biết yêu từng hạt gạo phù sa, dạy tôi biết kính sợ những điều thiêng liêng huyền bí của đất trời Nam Bộ.
Khu đất huyệt mộ của dòng họ Lê nằm trên một giồng đất cao ráo, xung quanh được bao bọc bởi một rặng tràm xanh ngắt và những hàng chuối xiêm sum sê tàu lá. Đây là nơi cụ Thời đã tự tay chọn lựa từ nhiều năm trước khi nhắm mắt, nơi có thể phóng tầm mắt nhìn bao quát toàn bộ cánh đồng lúa bạt ngàn và ngắm dòng kênh Mỹ Trà lượn quanh như dải lụa.
Huyệt mộ sâu hơn một sải tay đã được các chú bác đào sẵn từ chiều hôm trước, thành huyệt vuông vức, đất sét vàng óng, khô ráo và thơm mùi bùn mới. Bốn góc huyệt cắm bốn cây cờ ngũ sắc nhỏ bay phần phật trong gió sớm.
Thầy Hai Thìn bước tới mép huyệt, tay cầm chiếc bát sành đựng gạo, muối và tiền đồng cổ. Ông đọc một bài văn khấn cầu thổ thần long mạch, xin phép cho người quá cố được gởi thân xác ngàn năm vào lòng đất mẹ. Từng nắm gạo muối trắng tinh được rải đều xuống đáy huyệt, phát ra những tiếng lộp bộp giòn tan trên lớp cát vàng lót nền.
- Hạ huyệt! - Thầy cất tiếng hô, âm hưởng vang vọng giữa cánh đồng vắng.
Tám sợi dây chão bện bằng vỏ dừa chắc nịch từ từ nhả ra. Cỗ quan tài bằng gỗ sao hạ dần xuống đáy sâu của lòng đất. Mọi người nín thở theo dõi từng tấc hạ xuống, không một tiếng động va chạm, không một sự trục trặc nào xảy ra. Chiếc quan tài nằm ngay ngắn, vững chãi giữa lòng huyệt mộ, hướng đầu về phía dòng rạch Mỹ Trà, đúng theo hướng phong thủy mà cụ Thời hằng mong ước lúc sinh thời.
Cha Hậu quỳ sụp bên mép huyệt, hai bàn tay vốc lấy một nắm đất sét vàng đầu tiên, từ từ thả xuống mặt nắp quan tài. Tiếng đất rơi lộp bộp trên mặt gỗ dội lên, nghe trầm đục và xót xa như đứt từng khúc ruột.
- Ba đi thanh thản nghen ba... Con cháu xin giữ trọn đạo hiếu, chăm lo cho nếp nhà họ Lê yên ấm... - Giọng cha nghẹn ngào, những giọt nước mắt nóng hổi rơi lã chã xuống nắm đất vàng.
Thằng Tùng bước lên, hai vai run lên bần bật, nó vốc nắm đất thứ hai thả xuống:
- Nội an nghỉ... cháu sẽ chăm sóc cho cha má và chị hai...
Tôi tiến lại gần bờ huyệt, hai tay dâng nén nhang cháy đỏ lên trán, rồi cúi đầu vốc lấy một nắm đất phù sa mịn màng. Đất mát lạnh, mang hơi thở nồng nàn của ruộng đồng Đồng Tháp. Tôi thả nắm đất xuống dưới sâu, mắt nhắm nghiền lại, thầm thì trong tâm khảm lời tạ tội muộn màng. Tôi tạ tội với nội vì đã từng có những giây phút sợ hãi, xa lánh chính thân xác của người đã nuôi nấng mình khôn lớn; tạ tội vì nỗi hoảng loạn đã làm vấy bẩn sự tôn nghiêm trong giờ phút lâm chung của người.
Những người thợ phụ bắt đầu dùng xẻng xúc từng lớp đất lấp đầy miệng huyệt. Từng nhát xẻng đưa xuống dứt khoát, vun cao dần nấm mồ đất sét mới tinh giữa đồng lúa. Tiếng tụng kinh của các sư thầy lại vang lên, lời kinh trầm ấm như dòng nước mát tưới tắm, xoa dịu đi mọi nỗi đau thương mất mát của cõi trần ai.
Chỉ một khắc sau, nấm mồ tròn trịa đã được đắp xong xuôi, cao hơn mặt đất chừng ba gang tay, phẳng phiu và trang trọng. Tấm bia đá khắc tên tuổi, năm sinh năm mất của cụ Lê Văn Thời được đặt trang nghiêm ở đầu ngôi mộ. Xung quanh nấm mồ, những vòng hoa cúc trắng, hoa cúc vàng rực rỡ được cắm kín mít, tỏa hương thơm ngát dưới ánh mặt trời buổi ban trưa.
Tôi cắm bó nhang lớn vào chiếc bát hương bằng sành đặt trước bia mộ. Khói nhang màu lam cuộn tròn bốc thẳng lên bầu trời xanh biếc không một gợn mây.
Đứng trước nấm mồ mới đắp của nội, lòng tôi dâng lên một niềm kính cẩn vô hạn đối với những phong tục tâm linh ngàn đời của mảnh đất này. Tôi đã hiểu vì sao người miền Tây quê tôi coi trọng từng nghi lễ tang ma đến vậy. Từ chiếc khăn liệm, sợi chỉ ngũ sắc, cành dâu tằm cho đến những lời răn dạy về giờ trùng, giờ phạm, hết thảy đều không đơn thuần là sự mê tín hoang đường. Đó là kinh nghiệm máu xương, là tấm khiên che chở cho người sống và là con đường dẫn lối cho người chết được siêu sinh tịnh độ, giữ gìn sự cân bằng mong manh giữa cõi dương trần và thế giới vô hình u uất.
Cơn gió đồng lại thổi qua, lay động những dải ruy băng trắng trên các vòng hoa. Cảm giác bình yên, nhẹ nhõm lan khắp cơ thể tôi, như thể một gánh nặng ngàn cân vừa được dỡ bỏ khỏi bờ vai.
- Đi về thôi con, nắng lên cao rồi - Cha Hậu bước lại, vỗ nhẹ vào vai tôi, giọng ông đã lấy lại được vẻ trầm ấm, can trường.
Tôi gật đầu, lau đi giọt nước mắt còn đọng trên khóe mi rồi quay gót cùng gia đình theo con đường bờ ruộng trở về nhà.
Đi được chừng vài mươi bước, một linh cảm mơ hồ khiến tôi khẽ nghiêng đầu nhìn sang mé mương rạch chạy dọc theo bờ rặng tràm rợp bóng mát. Dưới một gốc tràm già xù xì tỏa bóng êm đềm, ánh nắng vàng rọi qua kẽ lá tạo thành những đốm sáng lung linh trên nền cỏ xanh non.
Nằm khoanh tròn trên một mô đất khô ráo, một con mèo mướp vàng béo tròn đang lim dim sưởi nắng. Bộ lông màu vàng cam pha những vệt vằn nâu nhạt mượt mà óng ả dưới ánh ban mai. Khi nghe tiếng bước chân của đoàn người, nó khẽ mở đôi mắt tròn xoe màu hổ phách trong veo, không hề có chút tà khí hay ánh xanh le lói ma quái nào. Nó ngáp dài một cái lười biếng, để lộ chiếc lưỡi hồng hào nhỏ xíu, rồi lại cuộn tròn cái đuôi sam quanh mình, phát ra những tiếng "gừ... gừ..." êm ái, thanh bình của loài vật nuôi gần gũi trong mái nhà thôn dã.
Tôi mỉm cười, một nụ cười thật sự thanh thản sau chuỗi ngày đen tối. Tà khí của con hắc miêu rạch sâu đã hoàn toàn tan biến, bóng ma của Quỷ Nhập Tràng đã vĩnh viễn bị chôn vùi dưới dòng nước mát của đất mẹ phù sa.
Phía trước tôi, dòng kênh Mỹ Trà vẫn muôn đời trôi xuôi, mang theo phù sa bồi đắp cho những mùa lúa mới. Ánh bình minh rực rỡ đã phủ khắp mảnh đất Cao Lãnh thân thương, mở ra một ngày mới tinh khôi, an lành cho xóm ấp, và khắc sâu vào tâm khảm tôi bài học thiêng liêng về tình thâm gia đình cùng những điều huyền bí không thể nào quên của đời người.