RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 1: Gánh Rối Về Trấn
Xe chở đồ nghề của gánh Hứa Ký tới cổng đông Bình Dao vào lúc nắng sớm vừa trèo qua mặt thành. Lý Tiểu Sơn ngồi ở mép xe, hai chân thả xuống đung đưa…
Nội dung chương
Xe chở đồ nghề của gánh Hứa Ký tới cổng đông Bình Dao vào lúc nắng sớm vừa trèo qua mặt thành.
Lý Tiểu Sơn ngồi ở mép xe, hai chân thả xuống đung đưa theo nhịp bánh gỗ lăn trên đường đá. Hắn mười bảy tuổi, theo gánh đã bảy năm, từ cái năm lên mười được sư phụ dắt tay rời trấn này trong một đêm mưa mà hắn chỉ còn nhớ lờ mờ mùi đất ướt và tiếng bánh xe nghiến bùn. Bảy năm đi khắp Sơn Tây rồi sang Hà Bắc, ngủ nhờ sân đình, ăn cơm độn khoai ở những thôn không nhớ nổi tên, hắn tưởng mình đã quên hẳn Bình Dao. Vậy mà khi xe qua khỏi lũy tre đầu trấn, khi mái ngói xám và tường thành cũ hiện ra sau lớp sương mỏng, ngực hắn bỗng thắt lại một cái rất lạ, như người đi xa nghe lại tiếng gọi cơm từ bếp nhà mình.
Đi đầu là Vương Nhị Hổ, bốn mươi tuổi, vai rộng như cánh cửa, vừa đẩy càng xe vừa thở phì phò. Sau xe là Trương Quế Phương, vợ hắn, ba mươi lăm tuổi, tay xách rổ kim chỉ và bọc quần áo diễn, thỉnh thoảng lại nhắc chồng đi chậm kẻo hòm gỗ trên xe xóc. Còn sư phụ của Tiểu Sơn, Hứa Minh Đức, năm mươi sáu tuổi, phường chủ của gánh, đi riêng một bên đường, tay chống gậy trúc mà lưng vẫn thẳng, râu đã bạc quá nửa, mắt nhìn xuống đất như đang đếm từng viên đá lát.
Suốt quãng đường từ ngoài đồng vào, sư phụ không nói một lời nào.
Tới lúc xe sắp lăn qua cổng thành, ông bỗng giơ tay lên.
- Dừng lại.
Nhị Hổ ghì càng xe, bánh gỗ khựng giữa vệt nắng. Sư phụ bước xuống vệ đường, đứng yên rất lâu. Ông không nhìn cổng thành, cũng không nhìn người qua lại đang ngoái đầu tò mò. Ông nhìn về phía bắc trấn, nơi những mái nhà chen nhau và xa hơn nữa là một dãy nóc cao có treo đèn lồng đỏ dù ban ngày vẫn chưa tắt hẳn. Tiểu Sơn biết phía ấy là khu nhà giàu của trấn, nhà nào cũng có sân rộng và cổng sơn son, nhưng hắn không hiểu sư phụ nhìn gì ở đó mà mặt lại căng như dây đàn sắp đứt.
Quế Phương khẽ hỏi:
- Ông chủ, có chuyện gì không? Vào trấn thuê rạp sớm còn kịp dựng màn trước tối.
Lão Hứa không đáp ngay. Một lúc sau ông mới thu mắt lại, giọng khàn đi vì đường xa:
- Không có gì. Đi tiếp. Tới thẳng rạp Khánh Phong, đừng dừng ở phố.
Nhị Hổ lẩm bẩm trong miệng rằng rạp ấy bỏ hoang đã lâu, sao không thuê sân đình cho rẻ và khô ráo, nhưng thấy sắc mặt sư phụ, hắn lại im, hì hục đẩy xe đi.
Trấn Bình Dao buổi sáng mồng hai tháng chín âm lịch nhộn nhịp hơn Tiểu Sơn tưởng. Phố chính lát đá xanh, hai bên là tiệm vải, tiệm thuốc, quán mì bốc khói. Mùi than củi, mùi quế hồi từ hàng khô và mùi da thuộc mới quyện vào nhau. Đám trẻ con chạy theo xe của gánh một đoạn, chỉ trỏ vào những hòm gỗ buộc dây thừng, đoán già đoán non xem trong ấy có rối đầu gỗ hay mặt nạ hát tuồng. Một bà bán đậu phụ còn gọi với theo, hỏi tối nay có diễn không, diễn ở đâu. Quế Phương cười, đáp lớn cho cả phố nghe:
- Gánh Hứa Ký diễn vở Bạch Hạc Nữ Tướng ở rạp Khánh Phong, tối ngày kia mở màn, bà con nhớ tới xem.
Nghe tới tên Khánh Phong, mấy người đứng gần quầy đậu phụ đưa mắt nhìn nhau. Bà bán hàng hạ giọng hẳn:
- Rạp ấy à? Rạp ấy lâu lắm không mở đèn rồi đấy.
Quế Phương vẫn cười như không nghe ra ý khác trong câu nói, còn Tiểu Sơn thì nghe rất rõ. Hắn đã đi theo gánh đủ lâu để biết, ở mỗi trấn, người ta luôn có một nơi mà khi nhắc tới, giọng họ tự nhiên nhỏ xuống.
Rạp Khánh Phong nằm ở phía đông trấn, cạnh miếu Thành Hoàng. Từ phố chính rẽ vào một con ngõ đá, đi hết ngõ là thấy sân đất rộng, giữa sân có cây hòe già tán lá che gần hết mái rạp. Rạp không lớn, nhưng là rạp xây hẳn hoi bằng gạch và gỗ, khác hẳn những sân khấu dựng tạm bằng tre nứa mà gánh vẫn diễn ở các thôn. Mái ngói âm dương phủ rêu xanh ở những chỗ trũng. Cửa lớn đóng kín, hai cánh gỗ lim đã bạc màu, bản lề rỉ sét. Trên bậc thềm, lá khô và bụi đường chất thành từng vệt, như đã nhiều năm không có dấu chân người bước lên dọn dẹp.
Người giữ rạp là một ông già gầy, lưng hơi còng, người trấn gọi là ông Từ. Ông đã bảy mươi tuổi, ở trong gian nhà ngang nhỏ bên hông miếu Thành Hoàng, vừa trông miếu vừa trông rạp. Nghe tiếng xe dừng ngoài sân, ông chống gậy đi ra, mắt nheo lại nhìn gánh từ đầu tới cuối, rồi dừng rất lâu ở mặt Lão Hứa.
- Các vị là gánh rối muốn thuê rạp?
Lão Hứa gật đầu, lấy từ trong ngực áo ra một túi vải nhỏ:
- Thuê mười ngày trước mắt. Diễn đêm, đóng cửa rạp ban ngày để dựng màn và tập vở. Giá ông cứ nói thẳng.
Ông Từ không vội nhận túi tiền. Ông nhìn túi vải, rồi lại nhìn người, bàn tay đặt trên đầu gậy khẽ run:
- Rạp này rẻ thì rẻ thật, nhưng tôi phải nói trước. Mười mấy năm nay không có gánh nào dám diễn đêm ở đây trọn một tuần. Sân khấu còn tốt, màn cũ còn treo được, ghế gỗ còn đủ, chỉ là... người xem không phải lúc nào cũng là người.
Nhị Hổ bật cười khùng khục:
- Ông già dọa khách thuê nhà đấy à? Người xem không là người thì là gì, là ma ngồi xem chắc? Ma xem thì cũng phải trả tiền vé chứ.
- Nhị Hổ.
Chỉ hai tiếng của Lão Hứa, tiếng cười tắt ngay. Sư phụ chắp tay trước ông Từ, giọng điềm tĩnh:
- Ông trông rạp, biết lệ của rạp, cứ nói hết. Chúng tôi đi diễn xa, nơi nào cũng có chuyện của nơi ấy. Thuê hay không là việc của chúng tôi.
Ông Từ thở dài, lúc này mới đón lấy túi tiền, nhưng tay ông run rõ hơn, tiền xu trong túi va vào nhau kêu lanh canh rất khẽ.
- Tôi chỉ dặn một câu nữa. Đêm diễn, đừng để đèn tắt giữa vở. Rạp này sợ tối hơn sợ vắng.
Nói rồi ông lụm cụm đi mở khóa cửa rạp.
Cánh cửa lim vừa hé, một luồng hơi lạnh và mùi ẩm mốc phả ra, mang theo mùi gỗ cũ, mùi vôi tường và một mùi gì ngai ngái như da thuộc để lâu trong hòm kín. Tiểu Sơn bất giác rùng mình. Bên trong rạp tối om, chỉ có vài vệt sáng lọt qua khe mái dột, chiếu xuống hàng ghế gỗ bám bụi thành những vệt sáng xiên. Sân khấu ở cuối rạp cao hơn nền đất chừng nửa thước, ván gỗ còn chắc, hai bên có lối lên xuống hẹp. Chính giữa sân khấu vẫn treo sẵn một tấm màn vải trắng cũ của rạp để lại, vải đã ngả vàng, mép dưới sờn và thủng vài lỗ nhỏ như mắt kim.
Quế Phương bước vào, đưa tay quệt một đường trên mặt ghế, nhìn lớp bụi dày trên đầu ngón tay mà tặc lưỡi:
- Bụi thế này, quét cả ngày chưa chắc sạch. Nhưng được cái kín gió, đêm diễn đèn sẽ sáng và ấm.
Ông Từ mở hết hai cánh cửa cho sáng lọt vào, rồi ngồi xuống bậc thềm, vừa trông gánh dọn dẹp vừa kể lể những chuyện không đầu không cuối về rạp. Ông nói sân khấu này từng có đoàn hát lớn về diễn ba đêm liền, khán giả ngồi chật tới tận sân miếu. Ông nói bể nước sau rạp chưa bao giờ cạn, dù những năm hạn nhất giếng trong trấn đều trơ đáy. Tiểu Sơn vừa nghe vừa quét, thấy ông già nói chuyện như nói với chính những bức tường quanh mình, như thể mười mấy năm giữ một nơi bỏ hoang đã làm ông quen bầu bạn với im lặng.
Cả gánh bắt tay vào việc ngay. Quế Phương xắn tay áo, lấy chổi rơm quét mạng nhện giăng đầy ở góc sân khấu và trên xà nhà, từng mảng mạng nhện rủ xuống như màn the cũ bám bụi xám. Nhị Hổ kê lại mấy hàng ghế lệch, thử độ chắc của ván sân khấu bằng cách dậm chân lên từng tấm, tấm nào kêu cọt kẹt thì đánh dấu để chêm lại sau. Tiểu Sơn được giao vá lại tấm màn vải trắng cũ của rạp để dành làm màn dự phòng: hắn ngồi bên cửa sổ hậu trường, kim chỉ trong tay, khâu từng lỗ thủng nhỏ, mũi kim đi qua lớp vải đã mục làm hắn phải hết sức nhẹ tay kẻo vải rách to thêm. Màn riêng của gánh thì sư phụ không cho ai động vào vội, ông tự tay kiểm tra từng mép vải, vuốt phẳng từng nếp gấp rồi mới cho treo lên khung, che kín tấm màn cũ phía sau.
Tới khi nắng đã đứng bóng, sân khấu mới tạm ra hình ra dáng. Bụi quét dồn thành đống ngoài cửa, ghế ngồi đã thẳng hàng, và trong rạp không còn tối om như lúc mới mở cửa nữa. Ông Từ nhìn tấm màn mới treo mà gật gù, nói có màn có đèn vào thì rạp lại giống rạp, chỉ mong đêm diễn đừng có chuyện gì ngoài tiếng vỗ tay.
Nhị Hổ và Tiểu Sơn khiêng đồ từ xe xuống: hòm quần áo diễn, bó que tre dự phòng, trống nhỏ, kèn, phách, mấy cuộn dây, tấm màn riêng của gánh được gấp cẩn thận trong vải dầu, và hai hòm gỗ quan trọng nhất. Một hòm là hòm rối chính, dài, nặng, bốn góc bọc đồng, khóa bằng ổ khóa sắt lớn. Một hòm nhỏ hơn là hòm đàn, đựng cây đàn nguyệt của sư phụ, mà Tiểu Sơn biết bên trong còn có một ngăn phụ khóa kín hắn chưa từng thấy mở bao giờ.
Việc khiêng hòm rối chính luôn là việc của sư phụ và Nhị Hổ. Lần này sư phụ lại phá lệ, gọi Tiểu Sơn tới đỡ một đầu:
- Con đỡ đầu này. Nhẹ tay. Đi chậm qua ngưỡng cửa, đừng để hòm chạm vào khung cửa.
Tiểu Sơn luồn tay xuống đáy hòm. Gỗ hòm lạnh và nặng hơn hắn nghĩ nhiều, như thể bên trong không chỉ có mấy con rối bằng da và tre. Hắn nghiến răng nhấc lên cùng Nhị Hổ, còn sư phụ đi bên cạnh, một tay đỡ giữa thân hòm, mắt không rời ổ khóa. Ba người bước từng bước qua sân, lên bậc thềm, tiến về phía cửa rạp đang mở.
Đúng lúc hòm rối vừa qua khỏi ngưỡng cửa, khi cả xe ngoài sân đã dừng hẳn, không còn ai chạm vào hòm ngoài ba người đang khiêng và mặt đất dưới chân hoàn toàn yên tĩnh, Tiểu Sơn nghe thấy từ trong hòm vang lên một tiếng tre khẽ kêu, nhỏ và khô, như một khớp tre tự cựa mình trong bóng tối.