RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 4: Ông Từ Kể Chuyện Rạp
Chiều ngày thứ hai chuyển sang ngày thứ ba, trong lúc cả gánh bận rộn với những việc cuối cùng trước đêm mở màn, Tiểu Sơn được sư phụ sai sang miếu Thành…
Nội dung chương
Chiều ngày thứ hai chuyển sang ngày thứ ba, trong lúc cả gánh bận rộn với những việc cuối cùng trước đêm mở màn, Tiểu Sơn được sư phụ sai sang miếu Thành Hoàng mượn thêm mấy chiếc chiếu cũ để trải thêm ở hàng ghế cuối của rạp.
Miếu nằm ngay cạnh rạp, cách một bức tường thấp và một khoảng sân gạch chung. Cây hòe già ở giữa sân vươn cành sang cả hai phía, như một chứng nhân đã đứng đó lâu hơn mọi người trong trấn còn sống. Ông Từ đang ngồi ở hiên miếu, trước mặt là ấm trà nguội và một đĩa lạc rang đã vơi quá nửa. Thấy Tiểu Sơn tới, ông gật đầu, rót cho hắn một chén trà, rồi hỏi han chuyện gánh, chuyện đường xa, chuyện hắn theo nghề từ năm bao nhiêu tuổi.
- Mười tuổi cháu đã theo gánh rồi à? Vậy là cái năm cháu rời trấn này, cháu chỉ là thằng bé con cao tới thắt lưng người lớn thôi nhỉ.
Tiểu Sơn ngạc nhiên:
- Ông nhớ cả chuyện ấy sao? Cháu còn chẳng nhớ rõ mặt mũi trấn này hồi ấy thế nào nữa.
Ông Từ cười, nụ cười của người già đã chứng kiến quá nhiều lớp người đến rồi đi:
- Ở một cái trấn cổ như thế này, người ta quên nhanh chuyện mới, nhưng nhớ rất dai chuyện cũ. Nhất là những chuyện gắn với cái rạp này.
Rồi ông bắt đầu kể, giọng đều đều như kể chuyện cho cháu trong nhà nghe trước khi ngủ, mà nội dung thì làm Tiểu Sơn càng nghe càng tỉnh táo.
Ông kể rạp Khánh Phong xây từ những năm cuối đời Thanh, do một thương nhân giàu có trong trấn bỏ tiền ra dựng, từng là rạp sang nhất cả vùng này. Đèn lồng treo từ cổng rạp ra tới tận đầu ngõ, đoàn hát nào về diễn cũng phải đặt lịch trước cả tháng. Thời rạp còn thịnh, trong trấn có câu nói đùa rằng muốn biết nhà ai có việc vui hay buồn, cứ nhìn xem họ có tới Khánh Phong nghe hát hay không. Rồi tới đời chủ rạp cuối cùng, mọi thứ bắt đầu lụi dần. Người chủ ấy là một người đàn ông trung niên làm ăn thua lỗ, nợ nần chồng chất, một đêm sau buổi diễn cuối cùng của một gánh hát lưu động, người ta phát hiện ông ta treo cổ trong buồng hậu trường, ngay trên chiếc xà ngang mà sau này các gánh vẫn dùng để treo màn. Quan nha tới xem qua rồi kết luận là tự vẫn vì nợ, gia đình bán rạp cho trấn quản lý chung, và từ đó rạp bắt đầu bỏ hoang từng năm một.
- Chuyện ấy cách đây hơn mười năm, cũng vào mùa thu như thế này.
Ông Từ nhấp một ngụm trà, nhìn ra sân gạch vắng:
- Từ sau đêm ấy, gánh nào tới diễn đêm ở Khánh Phong cũng gặp chuyện, ít thì một lần, nhiều thì không dám diễn tới đêm thứ hai. Có gánh kể rằng diễn tới nửa vở thì thấy dưới hàng ghế có một khán giả ngồi im từ đầu tới cuối, mặt trắng bệch và không có bóng đổ xuống đất. Có gánh kể rằng vở đã hạ màn, khán giả đã về hết, mà trong rạp vẫn còn tiếng vỗ tay lẻ loi vang lên từ hàng ghế trống. Lại có ông bầu gánh thề sống thề chết rằng nửa đêm ông ta nghe tiếng người đi lại trong hậu trường, ra xem thì không có ai, chỉ có tấm màn tự đung đưa dù cửa rạp đã khóa kín và ngoài trời không một ngọn gió.
Tiểu Sơn nghe mà sống lưng lạnh dần. Hắn nhớ lại dặn dò của ông Từ hôm mới tới về chuyện đừng để đèn tắt giữa vở, nhớ lại vẻ mặt của bà bán đậu phụ khi nghe tên rạp, và bỗng hiểu vì sao giá thuê một rạp xây hẳn hoi như thế lại rẻ bất ngờ tới vậy.
- Nhưng ông ơi, những chuyện đó... có thật không, hay người ta đồn thêm cho rạp có tiếng dữ để khỏi phải canh giữ?
Ông Từ lắc đầu chậm rãi:
- Ta giữ rạp này và giữ miếu này mấy chục năm. Ta chưa từng thấy ma. Nhưng ta thấy người. Người ta sợ một nơi không phải vì nơi ấy có gì, mà vì nơi ấy từng có chuyện mà không ai muốn nhắc lại cho rõ ràng. Cái sợ mơ hồ ấy mới ở lại lâu nhất.
Câu nói ấy làm Tiểu Sơn im lặng một lúc lâu. Hắn rót thêm trà cho ông già, rồi như một ý nghĩ tự bật ra, hắn hỏi về chuyện mà hắn đã thắc mắc từ hôm qua tới giờ, từ lúc nghe sư phụ dặn về đồng xu bạc và nhìn thấy vệt hoa sau lưng tấm da:
- Ông Từ, gánh của cháu... trước đây đã từng tới Bình Dao lần nào chưa?
Ông Từ đặt chén trà xuống, nhìn hắn một cái rất kỹ, như cân nhắc xem đứa trẻ trước mặt đã đủ lớn để nghe chuyện cũ hay chưa:
- Có. Một lần. Năm ấy là năm Giáp Dần, một nghìn chín trăm mười bốn, cách đây đúng mười hai năm. Khi ấy phường chủ của các cháu còn trẻ lắm, mới ngoài bốn mươi, lưng còn thẳng, tóc còn đen, mắt còn sáng hơn bây giờ nhiều. Gánh ngày ấy đông hơn bây giờ, đi diễn tới đâu cũng được người ta săn đón. Nhưng điều làm cả trấn nhớ mãi không phải phường chủ, mà là một cô gái trong gánh.
Ông dừng lại, mắt nhìn xa xăm về phía rạp đang sáng đèn dầu vì cả gánh đang thử màn ở bên trong:
- Cô gái ấy hát giọng nữ tướng. Ta già rồi, nghe hát cả đời người, mà chưa từng nghe giọng hát nào như thế. Trong trẻo mà có lực, lên cao không chói, xuống thấp không mờ, hát vai nữ tướng cầm gươm ra trận mà người nghe ở dưới rưng rưng như nghe chính người thân của mình dặn dò trước lúc đi xa. Đêm nào gánh diễn ở sân đình, cả trấn kéo tới, người ngồi không đủ chỗ thì đứng chen ở ngoài tường. Có người còn nói, chỉ riêng giọng hát ấy thôi cũng đủ nuôi sống cả một gánh rối.
- Sau đó thì sao ạ? Vì sao gánh lại bỏ đi và mười hai năm không quay lại?
Ông Từ thở dài một tiếng rất khẽ:
- Sau chuyến ấy, vào một đêm mưa lớn, gánh lặng lẽ rời trấn trong đêm, không chào ai, không hẹn ngày về. Hòm đồ nghề chất lên xe lúc nửa đêm, bánh xe bọc vải cho khỏi kêu. Người trong trấn sáng ra chỉ thấy sân đình trống trơn và một vệt bánh xe dài trong bùn hướng về cổng phía đông. Từ đó tới nay, không ai trong trấn gặp lại gánh ấy nữa, cho tới khi các cháu đẩy xe qua cổng thành hôm qua.
Ông không nói gì thêm về cô gái. Ông cũng không nói cô gái ấy về sau ra sao, còn sống hay đã mất, còn trong gánh hay đã rời đi từ lâu. Nhưng cách ông dừng lại đúng ở chỗ ấy, cách ông tránh nhìn thẳng vào mắt Tiểu Sơn khi nhắc tới đêm mưa, làm cho khoảng trống trong câu chuyện còn nặng hơn cả những gì đã được kể ra. Tiểu Sơn có cảm giác như trước mặt mình là một bức tường, ông Từ đã dẫn hắn đi dọc bức tường, chỉ cho hắn thấy bức tường cao và cũ tới đâu, nhưng nhất quyết không mở cánh cửa nào trên đó.
Trên đường ôm chiếu về, hắn đi ngang qua cửa hậu trường đang mở hé và nghe tiếng sư phụ thử đàn ở bên trong, chỉ vài nốt rời rạc rồi dừng, như người gảy đàn mà tâm trí đang ở một nơi khác rất xa. Hắn đứng lại nghe thêm một lúc, thấy lòng mình vừa tò mò vừa áy náy: tò mò vì chuyện cũ của gánh hóa ra dày hơn những gì hắn vẫn tưởng suốt bảy năm, áy náy vì hắn có cảm giác mình đang lén chạm vào một phần đời mà sư phụ đã cố ý gấp lại và khóa kín như ngăn đáy của hòm đàn.
Hắn ôm mấy chiếc chiếu cũ về rạp, trong lòng đầy những câu hỏi mà hắn biết không nên giữ lại lâu. Buổi tối, khi cả gánh đang ăn cơm, hắn đánh bạo hỏi sư phụ một câu rất nhẹ, như hỏi cho có:
- Sư phụ, người trong trấn kể ngày xưa gánh mình từng tới Bình Dao một lần, năm một nghìn chín trăm mười bốn, và khi ấy gánh có một người hát giọng nữ tướng rất hay. Có thật không ạ?
Đũa của sư phụ khựng lại trên miệng bát đúng một nhịp.
Rồi ông đặt đũa xuống, giọng bình thản tới mức Tiểu Sơn gần như tưởng mình vừa nghe nhầm sự khựng lại ấy:
- Người già hay nhớ sai, cũng hay kể thêm. Mười hai năm đi qua bao nhiêu trấn, gánh nào chẳng có người hát hay từng thời. Con ăn cơm đi, mai là đêm mở màn, đêm nay phải ngủ sớm, giữ đèn mà mệt thì hỏng cả vở.
Nhị Hổ tiếp lời ngay, nói chuyện trấn cổ nào chẳng có mấy ông già thích kể chuyện xưa cho trẻ con nghe, nghe cho vui tai thì được, đừng mang vào giấc ngủ. Quế Phương thì chỉ lặng lẽ gắp thêm thức ăn vào bát Tiểu Sơn, không nói gì, nhưng hắn để ý thấy chị cũng tránh nhìn sư phụ trong suốt quãng còn lại của bữa cơm.
Đêm ấy, cả gánh cùng nhau dán cáo thị ở đầu phố chính và ở cổng miếu Thành Hoàng. Tờ cáo thị viết bằng mực đen trên giấy đỏ, nét chữ của sư phụ rắn rỏi: gánh Hứa Ký Bì Ảnh Ban diễn vở độc môn Bạch Hạc Nữ Tướng tại rạp Khánh Phong, đêm mai mở màn, giá vé phải chăng, trẻ con đi cùng người lớn được đứng xem ở cửa. Người trong trấn đi ngang dừng lại đọc, bàn tán râm ran, có người nói nhất định phải đi xem vì tò mò với cái rạp bỏ hoang, có người nói muốn xem tận mắt con rối nữ tướng mà lời đồn ở các trấn khác ca ngợi đã lâu. Tiểu Sơn dán xong tờ cuối cùng ở cổng miếu, quay người định về rạp thì thấy sư phụ đang đi một mình qua khoảng sân gạch chung giữa miếu và rạp, bóng ông đổ dài dưới ánh đèn lồng treo ở hiên miếu.
Ông Từ giữ rạp đứng ở bậc thềm miếu, nhìn theo Lão Hứa đi qua sân miếu, lẩm bẩm một câu rất nhỏ, nhỏ tới mức Tiểu Sơn đứng gần đó phải căng tai mới nghe rõ từng chữ: lạ thật, người thì già đi, mà cái dáng cúi xuống mở hòm rối thì y hệt mười hai năm trước.