RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 7: Đạo Sĩ Tới Trấn

Chiều ngày thứ tư, khi nắng thu trên thành Bình Dao vừa ngả sang màu vàng sậm, Trình Dật Phong bước qua cổng phía bắc của trấn với một túi hành lý vải…

Nội dung chương

Chiều ngày thứ tư, khi nắng thu trên thành Bình Dao vừa ngả sang màu vàng sậm, Trình Dật Phong bước qua cổng phía bắc của trấn với một túi hành lý vải thô trên vai và một vật tròn gói kín trong khăn vải đeo sát bên hông.

Ông năm nay bốn mươi mốt tuổi, là đệ tử đời thứ ba của quán Thanh Hư ở chân núi Mao, hành nghề trấn trạch và xem việc âm dương cho người ta khắp vùng Sơn Tây đã gần hai mươi năm. Người mời ông lần này không phải một nhà nghèo gặp chuyện lạ, mà là phu nhân của họ Triệu, nhà buôn than giàu nhất trấn Bình Dao. Người nhà họ Triệu tới đón ông tận cổng trấn bằng xe ngựa, quản việc dẫn đường không nói nhiều, chỉ lặp lại một câu suốt quãng đường về tư dinh: phu nhân dặn, mời đạo trưởng tới xem giúp việc trong nhà, càng kín đáo càng tốt, vì nhà sắp có lễ lớn.

Tư dinh họ Triệu nằm ở phía bắc trấn, tường cao, cổng lớn, sân lát đá rộng tới mức tiếng vó ngựa gõ xuống nghe vang và lạnh. Trình Dật Phong được đưa thẳng vào gian phòng khách phía đông, nơi Tôn Ngọc Liên, Triệu phu nhân, đã chờ sẵn bên ấm trà chưa rót. Bà năm nay năm mươi tuổi, là vợ kế của Triệu Vĩnh Khang, người trong nhà ăn nói đều giữ chừng mực, mà chừng mực ấy không giấu nổi vẻ mệt mỏi đã tích lại nhiều đêm liền. Dưới mắt bà có quầng thâm mỏng, tay lần chuỗi hạt gỗ không ngừng, và khi bà mở miệng kể chuyện của mình, giọng bà nhỏ tới mức người hầu phải tự lui ra ngoài không cần ai dặn.

- Gần một tháng nay, đêm nào tôi cũng mơ cùng một giấc mơ. Mơ thấy một cô gái mặc áo trắng đứng ở cuối giường của tôi. Cô ấy quay lưng về phía tôi, tóc xõa xuống vai, đứng im không động đậy, cũng không nói một lời nào. Tôi gọi thì cô ấy không đáp. Tôi muốn tới gần thì chân mình nặng như bị giữ chặt trong chăn. Cứ đứng như thế rất lâu, rồi trời gần sáng thì không còn thấy nữa.

Bà ngừng lại, nuốt khan một cái.

- Điều làm tôi sợ nhất không phải giấc mơ. Người già ngủ không yên thì mơ cũng là thường. Điều làm tôi sợ là mỗi lần tỉnh dậy, trong phòng đều có một mùi rất nhẹ, ngai ngái và béo, như mùi sáp ong bị hơ gần lửa. Phòng tôi không thắp nến sáp ong. Người trong nhà kiểm tra khắp nơi, không có tổ ong, không có sáp chảy, mà mùi ấy cứ ở lại một lúc lâu rồi mới tan.

Trình Dật Phong nghe xong không vội phán điều gì. Nghề của ông dạy ông sợ nhất những lời kết luận nói ra trong lúc chủ nhà đang run. Ông chỉ hỏi thêm mấy câu rất chậm: giấc mơ bắt đầu từ hôm nào, trước đó trong nhà có ai ốm đau hay mất mát gì không, phòng ngủ có dời giường hay sửa sang gì trong năm nay không. Bà phu nhân trả lời rành mạch từng câu, và ở câu hỏi cuối cùng, bà bỗng khựng lại như tự mình vừa chạm vào một điều bà chưa từng để ý.

- Tính lại thì giấc mơ bắt đầu đúng vào những ngày trong trấn rộ lên tin đồn rằng có một gánh rối bóng nổi tiếng sắp trở lại Bình Dao diễn. Khi ấy người làm trong nhà bàn tán ở sân sau, nói gánh ấy ngày xưa từng qua trấn này, vở diễn hay lắm. Tôi nghe qua rồi quên ngay, vì nhà đang bận chuẩn bị lễ mừng thọ sáu mươi cho lão gia vào cuối tháng này. Mà lạ lắm, đạo trưởng ạ. Từ những ngày nghe tin ấy, đêm nào tôi cũng mơ, không sót một đêm nào.

Đúng lúc ấy, người con trai trưởng của họ Triệu bước vào phòng. Triệu Sĩ Kiệt, ba mươi hai tuổi, người quản lý các mỏ than của nhà này, áo quần chỉnh tề, nét mặt là thứ nét mặt của người quen ra lệnh hơn quen nghe chuyện. Hắn chào đạo sĩ bằng một cái gật đầu đúng lễ mà lạnh, rót trà cho mẹ rồi nói thẳng:

- Mẹ tôi tuổi đã cao, lại lo việc thọ yến ngày đêm nên ngủ không yên giấc, chuyện mơ mộng vốn không có gì lạ. Nhà này mời đạo trưởng tới là để trấn trạch cho yên lòng người già trước lễ lớn, làm một lễ cho chu toàn là được. Việc làm ăn của nhà họ Triệu bao năm nay dựa vào mỏ và người, không dựa vào giấc mơ. Mong đạo trưởng xem nhà thì xem nhà, đừng để mấy lời đồn ngoài phố làm nhà tôi thêm rối.

Trình Dật Phong mỉm cười, nhận chén trà bằng hai tay, không tranh một lời. Ông đã đi đủ nhiều nhà giàu để biết có những cửa nhà, người ta mời đạo sĩ tới không phải để nghe sự thật, mà để mua một sự yên tâm có đóng dấu của sư môn. Nhưng ông cũng biết một điều khác: người đàn bà ngồi trước mặt ông không diễn. Tay bà vẫn lần chuỗi hạt, và nhịp lần hạt ấy nhanh dần mỗi lần bà nhắc tới cô gái quay lưng trong giấc mơ.

Buổi chiều hôm ấy và cả sáng ngày thứ năm, Trình Dật Phong đi một vòng khắp tư dinh theo đúng phép trấn trạch. Ông xem hướng cổng và hướng giường, xem bếp, xem giếng, xem gian thờ của nhà họ Triệu, bấm quẻ ở sân chính và ở góc vườn phía tây nơi tường nhà đổ bóng lâu nhất. Kết quả làm chính ông cũng thấy lạ. Nhà này phong thủy không phạm đại kỵ, âm khí thường thấy ở những nhà có người mới mất hay đất từng là nghĩa địa đều không có. Đất của tư dinh là đất ở lâu đời, nền cao, khí sạch. Nếu chỉ nhìn vào nhà, ông gần như có thể nói ngay với bà phu nhân rằng trong nhà không có thứ gì bám theo cả.

Ông làm lễ trấn trạch sơ qua ở gian thờ cho đúng phép, thắp hương, đi một vòng quanh phòng ngủ của bà phu nhân và dừng lại ở cuối giường lâu hơn mọi chỗ khác. Ở đúng vị trí cô gái áo trắng đứng trong giấc mơ, sàn nhà không lạnh hơn, hương không tắt, quẻ không động. Mọi dấu hiệu đều lặng như mặt nước không gió. Mà chính sự lặng ấy mới làm ông không yên: những thứ thật sự bám theo một người thường để lại dấu vết ở nơi người ấy ngủ, còn ở đây, dấu vết duy nhất lại nằm trong lời kể của một người đàn bà thức dậy mỗi sáng với mùi sáp ong trong phòng.

Nhưng nếu thứ bám theo không ở trong nhà, mà ở trong giấc mơ của một người, và giấc mơ ấy lại bắt đầu đúng vào lúc một gánh rối trở về trấn sau nhiều năm vắng bóng, thì câu chuyện không còn nằm trong sân của tư dinh nữa.

Trưa ngày thứ năm, Trình Dật Phong xin phép ra phố một mình, nói là đi mua ít hương liệu trấn trạch còn thiếu. Ông đi chậm qua những con phố lát đá của trấn cổ, dừng lại ở các quán trà và sạp hàng, hỏi han dân phố về gánh rối đang diễn ở rạp Khánh Phong như một người khách phương xa hiếu kỳ. Và ở quán trà nào ông cũng nghe gần như cùng một câu chuyện, chỉ khác nhau ở mức phấn khích của người kể.

Người ta kể rằng gánh Hứa Ký mới về trấn có một vở độc môn tên là Bạch Hạc Nữ Tướng, hay tới mức đêm đầu tiên rạp chật kín không còn chỗ đứng, tiền thưởng ném lên sân khấu nhiều gấp ba lệ thường. Người ta kể con rối nữ tướng trong vở ấy múa gươm như người thật, bước đi, quay mình, vung đao đều sống động tới mức người xem quên mất đó chỉ là một tấm da mỏng sau màn vải. Một ông lão bán bánh ở góc phố nói một câu làm Trình Dật Phong dừng hẳn lại giữa đường:

- Hay tới mức người chết cũng muốn ngồi dậy mà xem, đạo trưởng ạ. Tôi xem một đêm rồi, về nhà tai còn nghe tiếng phách, mắt nhắm lại còn thấy cái bóng nó múa gươm.

Một người khác ở quán trà thì hạ giọng nhắc tới rạp Khánh Phong: rạp ấy bỏ hoang mười mấy năm, các gánh trước không ai dám diễn đêm ở đó vì những chuyện không nói rõ được, vậy mà gánh này vừa về đã dựng màn, thắp đèn và diễn liền, như thể họ quen với rạp ấy từ lâu lắm rồi.

Buổi chiều, Trình Dật Phong ghé qua rạp Khánh Phong. Rạp đang yên tĩnh giữa hai đêm diễn, cửa mở hé, sân trước vắng. Ông Từ giữ rạp ngồi vá lại một chiếc ghế gãy ở hiên, thấy khách lạ mặc áo đạo sĩ thì đứng dậy chào, rồi theo thói quen của người già giữ một nơi nhiều kỷ niệm, ông kể chuyện không cần ai hỏi sâu. Ông kể rạp này từng là rạp sang nhất vùng, kể đời chủ rạp chết oan treo cổ trong buồng hậu trường hơn mười năm trước, kể từ đó rạp bỏ hoang. Rồi ông kể một chuyện làm Trình Dật Phong phải đặt chén nước xuống bàn:

- Gánh Hứa Ký này không phải lần đầu tới Bình Dao đâu, đạo trưởng. Mười hai năm trước, năm một nghìn chín trăm mười bốn, họ từng tới đây một chuyến. Khi ấy phường chủ còn trẻ, gánh diễn đông khách lắm. Rồi không hiểu có chuyện gì, một đêm mưa lớn, cả gánh cuốn đồ bỏ đi ngay trong đêm, không chào ai một câu. Từ đó tới nay mới quay lại.

Trình Dật Phong nhìn ông già rất lâu. Trong đầu ông, mấy mảnh rời rạc của hai ngày qua bắt đầu tự tìm tới nhau: một giấc mơ bắt đầu khi có tin gánh rối sắp về trấn, một cô gái áo trắng đứng quay lưng không nói một lời, mùi sáp ong trong một căn phòng không thắp sáp, và một gánh rối từng bỏ đi trong đêm mưa cách đây đúng mười hai năm.

Ông hỏi ông Từ một câu, hỏi chậm và rõ từng chữ:

- Năm một nghìn chín trăm mười bốn ấy, trong gánh rối này, có ai chết không?

Ông Từ không trả lời ngay. Ông già đặt chiếc ghế đang vá xuống, nhìn quanh sân rạp vắng một vòng như sợ cả những bức tường cũ cũng nghe thấy, rồi hạ giọng xuống thấp tới mức Trình Dật Phong phải nghiêng người về phía ông mới nghe rõ:

- Có một người. Nhưng chuyện ấy qua lâu quá rồi, đạo trưởng ạ. Cả trấn này, người ta đã quen coi như không có người ấy bao giờ.

Chương khác

Xem thêm