RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 50: Tấm Màn Mới
Một năm sau, vào tháng chín âm lịch năm 1927, Lý Tiểu Sơn quay lại trấn cổ Bình Dao với một gánh rối nhỏ của riêng mình. Hắn đã mười tám tuổi, vai đã…
Nội dung chương
Một năm sau, vào tháng chín âm lịch năm 1927, Lý Tiểu Sơn quay lại trấn cổ Bình Dao với một gánh rối nhỏ của riêng mình.
Hắn đã mười tám tuổi, vai đã rộng hơn, giọng nói đã trầm xuống, và sau lưng hắn không còn là một hòm rối khóa kín của người khác nữa. Gánh của hắn chỉ có bốn đứa học trò mồ côi mà hắn nhận dạy nghề trong năm qua ở các trấn quanh vùng, đứa lớn nhất mười bốn tuổi, đứa nhỏ nhất mới mười một tuổi, cộng với hai con rối phụ mới thuộc bằng da lừa mà hắn tự tay làm lấy trong mùa đông, một cây đàn nguyệt cũ và một tấm màn trắng mới tinh chưa từng hứng một đêm diễn nào có người chết ở trong. Hội miếu của trấn mời gánh về diễn nhân dịp lễ thu, và hắn nhận lời không phải vì tiền công hậu hĩnh, mà vì có một nơi trong trấn này hắn cần quay lại đứng trước mặt một lần cho đàng hoàng.
Rạp Khánh Phong đã không còn nữa.
Người trong trấn kể rạp bị dỡ từ mùa xuân, gỗ tốt được tháo ra bán cho một nhà buôn ở phía nam, nền đất cũ nay là sân của một trường học nhỏ mới dựng. Tiểu Sơn đứng ở cổng trường vào buổi sớm ngày đầu tiên về trấn, nhìn qua hàng rào tre vào khoảng sân đất nện phẳng lì nơi từng có một sân khấu gỗ, từng có một buồng hậu trường chật hẹp, từng có một cây đèn dầu lớn cháy suốt những đêm diễn làm cả trấn mất ngủ. Trong sân, mấy đứa trẻ học trò đang đuổi nhau quanh một cây cột cờ mới, tiếng cười của chúng trong trẻo và ồn ào tới mức không còn một góc nào cho sự im lặng nặng nề của ngày xưa trú lại nữa. Hắn đứng nhìn một lúc, rồi quay đi, không bước vào sân, cũng không hỏi thêm một câu nào về ngôi trường.
Hắn dựng màn mới ngay tại sân đình của trấn.
Khung màn bằng tre mới chặt, còn thơm mùi tre tươi. Tấm màn trắng mới được căng phẳng, không một vết vá, không một vết dầu đèn nào hằn lên mặt vải. Vở diễn hắn mang về Bình Dao lần này là một tích xưa lành tính về một người nông dân và con trâu của mình đi cày qua một mùa hạn, tích mà bất kỳ gánh rối nhỏ nào ở vùng này cũng diễn được cho trẻ con xem và cười. Trong vở không có nữ tướng, không có đao kiếm, không có ai phải chết để câu chuyện được kể tiếp. Đứa học trò lớn nhất của hắn phụ trách gõ phách, hai đứa nhỏ hơn giữ phần hát bè, còn hắn ngồi vào vị trí của người điều rối, vị trí mà bảy năm trước hắn chỉ dám đứng nhìn từ chỗ giữ đèn ở bên cạnh.
Buổi chiều, trước giờ diễn, hắn một mình ra nghĩa địa phía tây.
Ngôi mộ hợp táng của cha con họ Hứa nằm ở góc sâu nhất của bãi tha ma, cỏ đã lên xanh phủ kín cả hai nấm đất cũ và mới, xanh tới mức từ xa nhìn lại chúng chỉ còn là một gò cỏ liền nhau không phân biệt được đâu là mộ của người cha đắp năm xưa, đâu là huyệt của tiểu sành tro chôn xuống một năm trước. Tấm bia gỗ hắn khắc vội trong buổi sáng hậu sự vẫn còn cắm ở đầu gò, gỗ đã ngả sang màu xám của nắng mưa, nét chữ khắc họ tên của hai cha con đã mờ đi một nửa, phải cúi xuống thật gần mới đọc được trọn vẹn. Chiếc lược sừng gãy răng hắn đặt lên mộ năm ngoái đã không còn ở chỗ cũ nữa, có lẽ đã mục vào đất sau một mùa mưa, hoặc đã được ai đó đi qua nhặt lấy. Hắn không tìm nó, cũng không đặt thêm một vật gì khác lên thay. Người chết đã có bia, có tên, có người nhớ tới đúng ngày là đủ rồi, không cần thêm một vật kỷ niệm nào để níu lại nữa.
Hắn lấy tay gạt lớp rêu mỏng bám ở chân bia, đặt xuống trước bia một bó hoa dại hái dọc đường và một nén hương, rồi ngồi xuống bên gò cỏ rất lâu mà không khấn một câu nào thành tiếng. Mọi lời cần nói, hắn đã nói hết vào một buổi chiều một năm trước rồi. Lần này hắn chỉ tới để cho hai người nằm dưới đất biết rằng đứa học trò giữ đèn năm xưa vẫn còn sống, vẫn còn làm nghề, và vẫn giữ đúng lời thề của mình. Trong bọc đồ hắn mang theo về trấn lần này, mảnh gương vỡ vẫn gói trong vải lanh ở đáy bọc, cây đàn nguyệt vẫn đeo trên vai, còn đồng xu bạc năm xưa vẫn nằm trong túi áo trong của hắn, đã mòn đi một cạnh sau bao nhiêu đêm ngậm trong miệng giữ đèn cho người khác.
Ở quán nước đầu đường về trấn, người ta kể cho hắn nghe những chuyện của một năm qua, bằng cái giọng thản nhiên của những người kể chuyện nhà hàng xóm.
Cố Lão Căn, nghệ nhân rối già ở phố tây, đã mất thọ trong mùa đông vừa rồi, mất ngay trong giấc ngủ ở nhà mình, thọ bảy mươi ba tuổi, con cháu lo tang lễ tử tế, cả phường rối cũ trong vùng đều tới đưa tiễn. Nhà họ Triệu thì suy hẳn từ sau đêm thọ năm ngoái: mỏ than lớn nhất đã phải bán đi một nửa để trang trải nợ nần và chi phí lo lót cho êm chuyện, Triệu Sĩ Kiệt gầy rộc đi trông thấy và ít ra khỏi cửa, còn Triệu phu nhân thì đóng cửa ăn chay từ đầu năm, không tiếp khách nữa. Quản gia cũ Mã Phúc Toàn vẫn đang ngồi tù ở huyện chờ xử vì vụ án mười hai năm trước, nghe nói trong tù hắn rất yên lặng, không kêu oan, không xin giảm án, chỉ xin người nhà mỗi tháng mang tới cho hắn một ít giấy vàng để tự gấp một mình trong buồng giam.
Tiểu Sơn nghe hết, không hỏi thêm, không bình một lời nào. Những người ấy, dù còn sống hay đã mất, đều đã đi tiếp phần đời của họ theo cái cách mà một đêm diễn ở sảnh tiệc năm ngoái đã định sẵn. Việc của hắn không còn nằm ở ngôi nhà phía bắc trấn ấy nữa. Việc của hắn tối nay nằm ở một sân đình sáng đèn, một tấm màn trắng mới, và bốn đứa trẻ đang chờ hắn về để học cách ngậm một đồng xu bạc cho đúng lệ của nghề.
Đêm diễn ở sân đình đông hơn hắn tưởng.
Dân trấn kéo tới ngồi chật cả sân gạch, trẻ con ngồi ở hàng đầu, người già ngồi ở bậc thềm đình. Không ai trong số họ nhắc tới vở nữ tướng năm xưa bằng một lời đòi diễn lại. Có lẽ một năm đã đủ dài để một trấn cổ học cách để yên cho người chết ngủ, và để cho một gánh rối mới được xem như một gánh rối mới, không phải như cái bóng của một gánh cũ. Tiểu Sơn treo tấm màn trắng mới lên khung tre, tự tay kiểm tra từng sợi dây buộc, từng que tre của hai con rối da lừa, rồi thắp cây đèn dầu mới của gánh mình lên sau màn. Ngọn lửa đứng yên, vàng và sạch, hắt ánh sáng qua mặt vải trắng thành một vùng sáng tròn và ấm.
Đứa học trò nhỏ nhất của hắn được giao giữ đèn trong đêm ấy. Nó ngồi đúng vào vị trí mà hắn từng ngồi suốt bảy năm, hai tay giữ chặt thân đèn, miệng ngậm đồng xu bạc của chính nó, mắt mở to nhìn cái bóng đầu tiên sắp hiện lên màn với vẻ hồi hộp của một đứa trẻ mười một tuổi lần đầu được giao một việc lớn. Giữa lúc chờ trống khai diễn, nó nhả đồng xu ra một thoáng, ngẩng đầu lên hỏi hắn bằng giọng thì thầm.
- Thầy ơi, sao diễn rối mà người giữ đèn lại phải ngậm xu bạc ạ. Miệng ngậm xu thì hát thế nào được.
Tiểu Sơn ngồi xuống bên cạnh nó, đặt một tay lên vai nó, và đáp bằng đúng giọng chậm rãi mà sư phụ hắn năm xưa đã dùng để dạy hắn những điều đầu tiên của nghề, nhưng lời đáp thì là lời của chính hắn, của một người đã đi qua một tấm màn có người chết ở trong và quay về được.
- Để nhớ rằng sau tấm màn, lời nói của người sống phải nhẹ hơn tiếng của người chết. Người giữ đèn không cần hát. Người giữ đèn chỉ cần giữ cho lửa đừng tắt, và giữ cho miệng mình đừng nói những lời không nên nói trong lúc người ta đang diễn. Con ngậm xu vào, giữ đèn cho sáng, thế là đủ giỏi rồi.
Đứa trẻ gật đầu, ngậm đồng xu bạc lại vào miệng, hai tay ôm chặt lấy thân đèn như ôm một vật báu.
Tiểu Sơn quay lại vị trí của người điều rối, treo lại tấm màn cho phẳng một lần cuối. Trong vùng sáng của ngọn đèn mới, cái bóng của chính hắn in lên mặt vải sạch, một cái bóng người ngồi ngay ngắn, hai tay đặt lên những que tre, không có thêm một cái bóng thứ hai nào đứng chồng lên phía sau nữa. Hắn nhìn cái bóng của mình một lúc và hiểu ra một điều giản dị mà hắn đã mất một năm và mất cả một người cha để học được: từ nay, tấm màn của hắn sẽ chỉ là một tấm màn, ngọn đèn của hắn sẽ chỉ là một ngọn đèn, và mọi cái bóng hiện lên trên vải sẽ chỉ do tay người làm ra, không do một ai khác.
Trống khai diễn nổi lên ở sân đình, tiếng trống đầu tiên vang đều và ấm trong đêm thu của Bình Dao. Tiểu Sơn hít một hơi, đưa hai tay lên những que tre của con rối người nông dân, và cái bóng đầu tiên của vở mới hiện lên trên tấm màn trắng, nhỏ, sạch, đi những bước chậm rãi của một người dẫn trâu ra đồng trong buổi sớm, hoàn toàn do hai bàn tay của một người sống làm ra.