RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 47: Hợp Táng
Sáng Ngày 18, khi đoàn áp giải quản gia vừa khuất sau cổng sắt, Lý Tiểu Sơn mới được người của huyện nha cho phép bước lại gần tấm màn cháy dở. Hắn quỳ…
Nội dung chương
Sáng Ngày 18, khi đoàn áp giải quản gia vừa khuất sau cổng sắt, Lý Tiểu Sơn mới được người của huyện nha cho phép bước lại gần tấm màn cháy dở.
Hắn quỳ xuống ở mép vùng tro, hai tay run tới mức phải đặt hẳn xuống nền gạch mới giữ được thăng bằng. Đám tro xám ở chỗ cây đèn lớn đổ nghiêng đêm qua đã nguội, tro của một tấm da và tro của một con người quyện chặt vào nhau thành từng mảng mỏng. Hắn không dám thò tay vào ngay. Hắn chỉ nhìn, và trong đầu hắn vẫn còn nguyên tiếng gọi cuối cùng của sư phụ, tiếng một người cha gọi con về nhà, rồi tiếng lửa bùng lên nuốt trọn cả hai người trong vùng sáng.
Tôn Ngọc Liên bước tới sau lưng hắn từ lúc nào hắn không hay. Bà đã thay bộ áo tang trắng, tóc búi gọn, mặt không trang điểm. Bà đứng nhìn đám tro một lúc lâu, rồi nói bằng giọng khàn vì một đêm không ngủ.
- Thầy trò nhà ngươi định lo cho ông ấy thế nào, cứ nói. Việc trong dinh đêm qua, nhà này nợ gánh của ngươi một lời phải trái rõ ràng.
Tiểu Sơn rút từ ngực áo ra phong thư ngả vàng đã mở, hai tay dâng lên cho bà. Hắn đã đọc thuộc từng chữ trong thư từ sau màn đêm qua, nhưng lúc này hắn vẫn phải nói lại thành lời cho một người ngoài nghe lần đầu tiên: sư phụ dặn thiêu hòm rối, mang tro của cha chôn cạnh mộ của chị ở nghĩa địa phía tây, đừng để ai mở mộ ấy ra xem, và đừng bao giờ kể cho người ngoài nghe con rối được làm bằng gì.
Bà đọc thư ngay giữa sảnh còn đầy mùi tro, đọc chậm, môi mấp máy ở những chỗ nét chữ của người chết dặn về con gái mình. Đọc xong, bà gấp thư lại ngay ngắn, trả cho Tiểu Sơn bằng cả hai tay.
- Cứ làm đúng như lời ông ấy dặn, bà nói. Ta cho người lo liệu cùng ngươi. Tro thì cho vào tiểu sành tử tế, hòm rối thì thiêu ngay trong sân sau của dinh này, không để lại một mảnh nào cho người tò mò đào xới về sau. Riêng cây đàn và đồ nghề không dính tới vở ấy, gánh cứ mang đi.
Người làm của dinh mang tới một chiếc tiểu sành men nâu mới, miệng rộng, nắp đậy khít. Tiểu Sơn tự tay vốc từng nắm tro ở mép màn bỏ vào tiểu. Hắn vốc rất chậm, như sợ làm đau một người đang ngủ. Tro nhẹ tới mức hắn ngỡ ngàng: một người cha cao lớn, một tấm da nuôi mười hai năm, cộng lại cũng chỉ đầy lưng một chiếc tiểu nhỏ. Tới nắm cuối cùng, đầu ngón tay hắn chạm phải một mẩu tre cháy dở, khớp nối cuối cùng của con rối chưa cháy hết, đen thui và cong lại. Hắn bỏ cả mẩu tre ấy vào tiểu, đậy nắp, rồi lấy dây vải trắng buộc chặt miệng tiểu lại.
Triệu Sĩ Kiệt đứng ở cửa sảnh nhìn việc thu tro từ đầu tới cuối mà không bước lại gần. Khi tiểu sành đã buộc dây xong, hắn mới cho gọi viên quản lý mới của dinh tới, dặn một câu ngắn gọn rằng mọi chi phí hậu sự cho cha con họ Hứa cứ tính vào sổ của nhà họ Triệu, không được để gánh phải bỏ ra một đồng nào. Tiểu Sơn nghe thấy, cúi đầu cảm ơn, và Sĩ Kiệt chỉ gật đầu một cái rồi quay vào trong, như người muốn khép lại mọi món nợ của ngôi nhà này bằng tiền, vì ngoài tiền ra hắn không còn cách nào khác để đối diện với nấm tro ở mép màn kia nữa.
Ở sân sau của dinh, một đống củi khô đã được chất sẵn bên cạnh giếng. Hòm rối chính, đã cháy dở một góc từ đêm qua, cùng toàn bộ những con rối phụ bằng da lừa của gánh được người làm xếp lên đống củi. Tiểu Sơn đứng nhìn Lão Hứa cả đời giữ hòm rối như giữ mạng, còn giờ hắn phải tự tay châm lửa thiêu nó theo đúng lời dặn cuối cùng của ông. Hắn châm lửa ba lần mới bén, vì tay hắn run và vì gió sớm thổi tạt qua sân. Lửa bén vào gỗ hòm, bén vào những thân rối phụ, khói đen cuộn lên cao quá mái nhà ngang. Trong khói, không có tiếng hát nào, không có cái bóng nào hiện lên nữa. Chỉ có mùi da thuộc cháy khét và tiếng gỗ nứt tanh tách, rồi tất cả sụp xuống thành một đống than hồng yên lặng.
Hai thứ không bị đưa lên đống lửa: cây đàn nguyệt trong hòm đàn của sư phụ, và tấm màn phụ cũ của gánh. Người làm gói ghém cả hai, trao lại cho Trương Quế Phương đang đứng ở bậc thềm nhà ngang, mắt đỏ hoe, tay ôm chặt bọc đồ của gánh đã thu dọn xong từ sớm.
Gần trưa, ba người khiêng tiểu sành ra nghĩa địa phía tây trấn.
Vương Nhị Hổ đi đầu, vai vác chiếc xẻng mượn của dinh, bước chân nặng trịch của một người vừa qua một đêm bị nhốt và một buổi sáng nghe toàn chuyện chết chóc mà không hiểu hết. Trương Quế Phương đi giữa, hai tay giữ chặt miệng tiểu cho khỏi xóc. Tiểu Sơn đi sau cùng, ôm cây đàn nguyệt trước ngực như ôm một người bệnh. Đường ra nghĩa địa vắng, cỏ hai bên đường đã ngả màu úa của cuối thu, và không một ai trong trấn dám tới gần đoàn đưa tang lặng lẽ ấy để hỏi han.
Suốt quãng đường, Nhị Hổ có hai lần quay lại định hỏi Tiểu Sơn về đêm qua, về con rối, về người con gái mà đạo sĩ đã gọi tên giữa sảnh, rồi cả hai lần hắn đều thôi, chỉ hắng giọng và bước tiếp. Tiểu Sơn hiểu sự im lặng ấy và biết ơn vì nó. Có những điều, theo đúng lời dặn trong thư, hắn sẽ mang theo một mình, không kể cho cả những người đã cùng hắn ăn chung một nồi cơm suốt bảy năm. Quế Phương thì khẽ hát một câu hát ru rất nhỏ, không phải điệu của vở nào, chỉ là một câu hát cho người chết nghe đỡ lạnh trên đường ra bãi tha ma.
Ngôi mộ đất không bia nằm ở góc sâu nhất của nghĩa địa, dưới một gốc cây khô đã chết từ lâu. Tiểu Sơn nhận ra nó ngay, dù hắn chưa từng tới đây lần nào trong mười tám ngày ở trấn: một nấm đất thấp, cỏ mọc thưa, và ở đầu nấm đất chỉ có một phiến đá nhỏ cắm nghiêng, trên mặt đá khắc hai chữ đã mòn tới mức phải lấy đầu ngón tay miết theo rãnh mới đọc được. Hắn miết một lần, rồi miết lại lần nữa, và ngồi thụp xuống bên nấm đất. Đây là nơi sư phụ hắn đã tự tay đắp cho con gái mình năm 1914, chôn theo chiếc áo lụa trắng và ít đồ dùng, rồi bỏ trấn đi ngay trong đêm mưa. Mười hai năm, nấm mộ không bia này đã chờ người cha quay lại theo một cách không ai ngờ tới.
Nhị Hổ đào huyệt ngay bên cạnh nấm đất cũ, đất nghĩa địa cứng và lẫn nhiều sỏi nhỏ, lưỡi xẻng kêu cộc cộc theo từng nhát. Khi huyệt đã sâu vừa đủ, ba người cùng hạ tiểu sành xuống. Tiểu Sơn đặt hai tay lên nắp tiểu lần cuối trước khi lấp đất.
- Cha về với chị rồi, hắn nói khẽ, giọng nghẹn lại ở đúng hai chữ đầu tiên. Từ nay hai cha con ở cạnh nhau, không ai phải chờ ai nữa.
Đất được lấp lại từng xẻng một. Khi nấm đất mới đã đắp xong ngang bằng nấm đất cũ, Tiểu Sơn lấy tấm bia gỗ mà hắn nhờ thợ mộc của dinh khắc vội trong buổi sáng, cắm xuống đầu huyệt. Trên bia khắc đủ họ tên của cả hai cha con, dòng trên là Hứa Minh Đức, dòng dưới là Hứa Tú Nương, nét khắc còn mới và thơm mùi gỗ xẻ. Đây là lần đầu tiên sau mười hai năm, tên của người con gái ấy được đứng công khai trên một tấm bia, bên cạnh tên cha mình, ở một nơi ai đi qua cũng đọc được.
Hắn lấy từ bọc đồ ra chiếc lược sừng gãy răng mà sư phụ đã trao cho hắn giữ từ đêm ở rạp Khánh Phong, chiếc lược trên sống khắc một chữ Nương đã mờ. Hắn đặt chiếc lược lên nấm đất mới, lấy một hòn đá nhỏ chèn lên cho khỏi bay. Rồi hắn ngồi xuống, mở phong thư tuyệt mệnh ra, đọc lại trọn vẹn một lần nữa thành tiếng, cho cả hai người nằm dưới đất nghe, cho cả hai vợ chồng Nhị Hổ đứng sau lưng nghe. Đọc tới câu xin lỗi vì đã nuôi con bằng một nửa sự thật, hắn không đọc tiếp nổi nữa. Hắn gập thư lại, ôm lấy đầu gối, và khóc như một đứa trẻ vừa mất cha lần thứ hai trong đời, khóc giữa nghĩa địa vắng tới mức Quế Phương phải ngồi xuống bên cạnh, đặt một tay lên vai hắn và để yên cho hắn khóc cho hết.
Chiều hôm ấy, ở sân nhà ngang của dinh, vợ chồng Vương Nhị Hổ từ biệt.
Đồ đạc của họ chỉ có hai bọc vải và bộ trống phách đã cũ. Nhị Hổ nắm tay Tiểu Sơn rất chặt, nói gánh tan thì hắn đưa vợ về quê vợ ở Hà Bắc, làm nghề khuân vác ở bến sông, từ nay không theo nghề rối nữa, có cực cũng là cái cực của người sống, không phải đứng sau một tấm màn mà nghe người chết hát nữa. Quế Phương ôm Tiểu Sơn một cái như ôm em ruột, dặn hắn giữ cây đàn cho cẩn thận, ăn uống cho tử tế, đừng học theo sư phụ cái thói nhịn đói ngồi nhìn hòm rối cả đêm. Rồi hai vợ chồng dắt nhau ra cổng tây của dinh, đi về phía đường cái quan hun hút bụi. Gánh Hứa Ký Bì Ảnh Ban, bốn người tới Bình Dao ngày nào, tới chiều hôm ấy chính thức tan, chỉ còn lại một mình Tiểu Sơn đứng giữa sân nhà ngang trống hoác, với cây đàn, tấm màn phụ và một phong thư đã đọc tới thuộc lòng.
Trước khi rời nghĩa địa, Tiểu Sơn đã quay lại nhìn ngôi mộ mới một lần cuối và thề thành tiếng, tiếng thề của hắn vang rõ giữa bãi tha ma không một bóng người.
- Vở Bạch Hạc Nữ Tướng từ nay chết theo cha con họ Hứa. Ai hỏi tới, con chỉ nói nó là một vở diễn đã cháy.