RỐI DA NGƯỜI Ở BÌNH DAO - Chương 46: Lời Khai Của Kẻ Phi Tang

Trời chưa sáng hẳn thì tư dinh họ Triệu đã bị phong tỏa. Gia đinh của huyện nha đứng thành hai hàng từ cổng sắt tới bậc thềm sảnh tiệc, không ai được ra…

Nội dung chương

Trời chưa sáng hẳn thì tư dinh họ Triệu đã bị phong tỏa.

Gia đinh của huyện nha đứng thành hai hàng từ cổng sắt tới bậc thềm sảnh tiệc, không ai được ra vào nếu không qua mắt Huyện trưởng Phùng Quốc Đống. Trong sảnh, bàn tiệc vẫn nguyên như lúc lửa tắt: chén đĩa vỡ lăn dưới chân ghế, rượu đổ thành vệt thẫm trên khăn trải, mùi dầu đèn cháy dở quyện với mùi tro lạnh. Cây đèn dầu lớn của gánh đã đổ nghiêng sau tấm màn cháy dở, chỉ còn một đám tro xám quyện vào nhau ở mép màn mà không ai dám động tới.

Trình Dật Phong ngồi ở ghế kê sát cột lớn phía tây, nửa chiếc gương vỡ bọc trong khăn vải đặt trên đầu gối, mu bàn tay phải quấn một dải vải trắng mà máu vẫn rỉ ra thấm thành một đường mỏng. Vết rạch của ông không sâu, nhưng thẳng và sắc tới mức viên thư lại nhìn hai lần mới dám ghi vào sổ. Suốt từ lúc lửa tắt, ông chỉ ngồi nhìn người của huyện nha khiêng thi thể của Triệu Vĩnh Khang vào gian buồng phía đông, và nhìn Mã Phúc Toàn vẫn quỳ ở góc bàn tiệc dài, hai tay chống xuống nền gạch, như thể không còn đứng dậy nổi nữa.

Phùng Quốc Đống bước ra từ gian buồng phía đông, tay áo xắn tới khuỷu, mặt không còn chút máu nào. Ông ta đã ngồi ghế khách suốt đêm thọ, đã thấy cái bóng rời màn, đã thấy đầu của chủ nhà rơi xuống bàn, và chính sự có mặt ấy khiến việc khám nghiệm không thể làm qua loa. Ông ta cho gọi viên khám nghiệm già tới, bắt khám ngay trong dinh, trước mặt phu nhân, hai vị công tử và quản gia.

Viên khám nghiệm lật tấm khăn phủ mặt người chết lên, xem kỹ vết cắt ở cổ hồi lâu, rồi lắc đầu.

- Bẩm quan, vết này mỏng và thẳng quá. Dao bếp, dao rựa, kiếm của gia đinh trong dinh, không thứ nào để lại đường cắt như thế này được. Lưỡi của chúng dày, đi qua thịt thế nào cũng để lại chỗ rách ở hai đầu. Vết này như bị một cạnh mỏng hơn lưỡi dao rất nhiều lướt qua, mỏng tới mức máu còn chậm một nhịp mới phun.

Phùng Quốc Đống hỏi lại một lần nữa cho cả sảnh nghe.

- Trong dinh đêm qua, có ai tới gần ghế chủ tọa trước khi xảy ra chuyện không.

Không ai đáp. Hơn năm mươi quan khách đã được cho về từ nửa đêm, người nào cũng khai giống người nào: đèn điện tắt, vở diễn đang tới hồi hai, cái bóng trên màn lớn dần, rồi nó bước ra khỏi mặt vải. Không ai thấy một người sống nào bước tới sau lưng Triệu Vĩnh Khang. Mấy gia đinh hầu rượu thề rằng họ chỉ thấy một màn khói đen lướt qua, và thanh đao trong tay hình khói ấy hạ xuống trước khi bất kỳ ai kịp kêu lên.

Triệu Sĩ Kiệt đứng bên cửa buồng, mặt hốc đi như người vừa qua một cơn sốt dài. Hắn nghe hết, tay nắm chặt khung cửa, không chen vào một lời. Tôn Ngọc Liên ngồi ở ghế trên cùng, hai tay đặt trên đầu gối, mắt nhìn thẳng về phía tấm màn cháy dở. Bà đã trắng một đêm không chợp mắt, và vẻ bình tĩnh của bà là thứ bình tĩnh của người đã nghe tới sự thật cuối cùng.

Đúng lúc viên thư lại lật sang trang mới của sổ khám nghiệm, Mã Phúc Toàn ngẩng đầu lên.

Hắn đã khóc suốt từ lúc Lão Hứa bước vào ngọn lửa, khóc tới mức hai mắt sưng húp và giọng khàn đặc. Băng vải ở cổ tay phải của hắn, nơi vết rạch của đêm tổng duyệt chưa kịp lành, đã thấm máu lại vì hắn chống tay xuống gạch quá lâu. Hắn bò bằng hai đầu gối tới trước mặt phu nhân và Huyện trưởng, dập đầu xuống nền gạch ba cái, rồi nói một câu khiến cả sảnh lặng đi.

- Bẩm quan, bẩm phu nhân. Việc năm xưa, để tôi khai. Tôi không chịu nổi nữa rồi.

Phùng Quốc Đống ra hiệu cho thư lại ngồi xuống ghi chép. Sĩ Kiệt bước lên nửa bước rồi dừng lại, như người vừa muốn ngăn một cánh cửa mở ra, vừa biết mình không còn sức đóng nó lại.

Mã Phúc Toàn khai chậm, từng đoạn một, và mỗi đoạn hắn nói ra đều làm cho gian sảnh lạnh thêm một phần.

Năm 1914, gánh Hứa Ký về Bình Dao diễn ở rạp Khánh Phong. Cô gái hát giọng nữ tướng của gánh tên là Hứa Tú Nương, mười bảy tuổi, con gái duy nhất của phường chủ. Đêm cuối cùng gánh ở lại trấn, Triệu Vĩnh Khang khi ấy vừa tiếp quản mỏ than lớn nhất vùng, uống rượu ở hậu trường rạp, gọi cô gái vào buồng trong với cớ thưởng tiền hát. Cô gái không chịu, chống cự, và hắn đã cưỡng bức cô ngay trong buồng hậu trường chật hẹp sau sân khấu, rồi khi cô dọa sẽ kêu lên cho cả gánh nghe, hắn bóp cổ cô cho tới khi cô tắt thở trên tấm chiếu cũ của rạp.

- Là ông chủ làm, giọng của Mã Phúc Toàn vỡ ra ở đúng chỗ ấy. Tôi khi ấy là quản sự mỏ, đứng gác ở ngoài cửa buồng. Tôi nghe hết. Tôi nghe tiếng nó vùng vẫy, nghe tiếng ghế đổ, rồi nghe im bặt. Khi ông chủ mở cửa ra, mặt ông ta trắng bệch, bảo tôi vào lo cho sạch.

Việc lo cho sạch, theo lời hắn khai, là việc hắn đã làm bằng cả hai tay và mang theo suốt mười hai năm. Hắn cùng hai người làm tin cẩn đã lấy sợi dây thừng gai của rạp, treo thi thể cô gái lên xà buồng hậu trường, thắt nút cho giống hệt một người tự vẫn trong cơn tủi nhục. Ngay trong đêm ấy, hai trăm đồng đại dương từ tủ của mỏ được mang tới huyện nha lo lót, để hồ sơ kết lại bằng bốn chữ tự vẫn vì thất tiết. Trang khám nghiệm, trang duy nhất ghi những vết bầm ở cổ không giống vết dây treo, đã bị chính tay hắn xé khỏi tập hồ sơ và đốt trong bếp của huyện nha ngay đêm hôm sau.

- Phường chủ khi ấy tới nhận xác con, hắn nói tiếp, mắt không dám nhìn về phía tấm màn. Ông ấy không làm ầm lên. Ông ấy chỉ xin được tự tay đắp cho con một nấm mộ đất ở nghĩa địa phía tây, chôn theo chiếc áo lụa trắng và ít đồ dùng của nó. Xong việc, ông ấy bỏ trấn ngay trong đêm mưa, gánh tan từ dạo đó. Tôi tưởng chuyện đã chôn xong rồi. Mười hai năm nay, đêm nào tôi nhắm mắt cũng nghe nó hát ở đâu đó trong nhà này, hát đúng câu hát cũ mà nó hát dở trong đêm cuối cùng. Tôi uống rượu cho quên, mà càng uống càng nghe rõ.

Hắn dập đầu một lần nữa, trán rớm máu trên nền gạch lạnh.

- Đêm qua nó về đòi mạng ông chủ, là đúng nợ của ông chủ. Còn tôi, tôi xin quan bắt tôi ngay bây giờ. Tội phi tang, tội lo lót, tội giúp kẻ có tội che giấu mười hai năm, tôi nhận hết.

Thư lại ghi chép không ngẩng đầu lên được. Phùng Quốc Đống cho người còng tay quản gia ngay giữa sảnh. Hai tiếng khóa sắt khép lại vang khô trong gian phòng còn đầy mùi tro, và Mã Phúc Toàn không hề chống cự. Hắn chỉ đưa cổ tay phải còn băng vải ra trước, để mặc người của huyện nha khóa cả hai tay lại với nhau.

Tới lúc ấy, Phùng Quốc Đống mới quay sang nhìn đạo sĩ ngồi ở góc cột.

- Trình đạo trưởng có mặt trong sảnh từ đầu đêm, lại là người giơ gương ra trước cái bóng. Đạo trưởng nhận định việc đêm qua là thế nào, xin nói cho quan phủ nghe để ghi vào hồ sơ kết án.

Cả sảnh quay về phía ông.

Dật Phong đứng dậy chậm rãi. Nửa chiếc gương vỡ trong khăn vải nặng trĩu trên tay ông, và ông biết rõ mình sắp nói điều gì, cũng biết rõ mình sắp giấu điều gì. Ông nói rành rọt, đủ chậm để thư lại chép kịp từng chữ.

- Bẩm quan, đây là tà vật dưỡng bì phát tác. Có một nhánh phường rối xưa dùng da của người chết oan thuộc thành hình nhân, nuôi oán khí trong tấm da suốt nhiều năm. Tấm da ấy chỉ tỉnh khi có đèn lửa chiếu qua màn lúc đang diễn, và khi oán khí đã tích đủ, cái bóng của nó có thể rời màn đi lại trong vùng sáng của ngọn đèn. Nghệ nhân tạo ra nó đã cố giữ nó bằng nghề của phường suốt nhiều năm, tới đêm qua không giữ nổi nữa. Khi cái bóng vượt khỏi tầm tay, chính nghệ nhân ấy đã bước ra gọi nó dừng lại, rồi ôm nó lao vào cây đèn dầu lớn, lấy lửa thiêu tấm da và lấy mạng mình dập oán khí, cứu lấy cả sảnh tiệc này. Nếu ông ta không làm thế, đêm qua người chết không chỉ có một.

Ông dừng ở đó. Ông không nhắc tới giao kèo ba trăm đồng và hai lần từ chối trong mười hai năm. Ông không nhắc tới đoạn tơ tằm đã mục ở cổ tay phải của con rối, đoạn tơ mà một người cha đã tự tay thay vào từ trước đêm tổng duyệt. Ông không nhắc tới lá thư tuyệt mệnh giấu trong ngăn đáy hòm đàn, lá thư cho thấy người cha ấy đã định chết ngay từ đầu. Những điều ấy, ông chôn xuống cùng nửa chiếc gương đã vỡ trong khăn vải của mình, và ông hiểu mình sẽ mang món nợ nói dối này theo tới tận ngày về núi chịu tội trước sư môn.

Phùng Quốc Đống gật đầu, cho thư lại ghi nguyên văn lời nhận định ấy vào hồ sơ, và đóng dấu son lên bản khai của quản gia. Vụ việc đêm thọ được kết lại là tà vật phát tác, nghệ nhân tạo vật đã chết cháy khi cố dập lửa cứu khách, không truy thêm người sống nào về cái chết của Triệu Vĩnh Khang. Còn vụ án năm 1914 được lập thành một hồ sơ riêng, chờ định tội.

Triệu Sĩ Kiệt đứng bên cửa buồng nghe hết. Khi ánh mắt của Dật Phong chạm vào mắt hắn, hắn nhìn đạo sĩ rất lâu. Trong cái nhìn ấy có sự biết ơn vì một phần sự thật của nhà họ Triệu đã được chôn xuống, có nỗi nhục của một người con vừa nghe tội của cha mình qua miệng kẻ khác, và có cả sự im lặng lựa chọn. Hắn không đính chính, không tố thêm. Hắn chỉ quay mặt đi, bảo gia đinh lo việc đưa thi thể cha mình vào quan tài.

Ngoài sân, trời đã sáng hẳn. Người của huyện nha áp giải Mã Phúc Toàn qua sân đá xanh hướng ra cổng sắt. Khi đi ngang qua khoảng sân trước sảnh, nơi tấm màn cháy dở còn phơi một góc ra ngoài cửa, hắn bỗng dừng lại, ngoái đầu nhìn vào trong lần cuối cùng.

- Mười hai năm nay, đêm nào ta cũng nghe nó hát, hắn nói, giọng nhẹ tới mức hai người áp giải phải ghé tai mới nghe rõ. Bây giờ thì hết rồi. Cho ta đi tù cũng được.

Cùng lúc ấy, ở cuối dãy bếp, cánh cửa kho củi bị người của dinh mở khóa theo lệnh thả người. Vương Nhị Hổ bước ra, đầu tóc rối bù, tay vẫn còn ôm bộ trống nhỏ của mình, ngơ ngác đứng giữa sân dinh đã thành hiện trường, nhìn đoàn người còng tay quản gia đi qua mà không hiểu một đêm thọ đã đổi cả ngôi nhà này thành thứ gì.

Chương khác

Xem thêm