Sau Bức Màn Nhung - Chương 1: Gánh Cải Lương Ba Đời

Chiếc ghe bầu chở đoàn cải lương Ngọc Hoa Ban rẽ nước tấp vào doi đất bồi trước cổng đình Vĩnh Phước khi con nước lớn cuối năm vừa mấp mé mép bờ bao. Gió…

Nội dung chương

Chiếc ghe bầu chở đoàn cải lương Ngọc Hoa Ban rẽ nước tấp vào doi đất bồi trước cổng đình Vĩnh Phước khi con nước lớn cuối năm vừa mấp mé mép bờ bao. Gió chướng từ phía mặt sông Tiền thổi thốc qua rặng bần ven bãi, mang theo hơi phù sa tanh nồng quyện lẫn mùi khói un muỗi khét lẹt từ xóm lò gạch phía bên kia cồn. Cây đòn dong của mái đình cong vút, phủ kín rêu xanh đen kịt, đâm thẳng lên nền trời đùng đục ráng chiều như một mũi dao gỉ.

Nguyễn Hồng Loan ngồi ở mép mui ghe, hai ngón tay thon dài gõ nhịp xuống tấm ván gỗ ướt sũng. Cô nâng chiếc gương cầm tay mạ kền, cẩn thận dùng đầu ngón út dặm lại viền son đỏ thẫm trên đôi môi cong cớn. Khuôn mặt cô đào hai mươi tư tuổi tròn trịa, đôi mắt sắc lẹm tô đuôi xếch ngược đúng nét một cô đào lẵng kiêm đào võ đang thời kỳ rực rỡ nhất. Sau chuyến diễn ba đêm liên tiếp tại thị xã với vai Thanh Xà đầy ma mị trong tuồng cũ dựng lại, tên tuổi Hồng Loan bắt đầu leo lên hàng chữ nổi trên pa-nô quảng cáo. Cô quen với ánh đèn pha công suất lớn rọi thẳng vào mi mắt, quen với những bó hoa bọc giấy bóng kính thơm ngát của đám công tử miệt vườn. Việc chiếc ghe của gánh hát gia đình ba đời này quay ngược mũi lái về rúc vào khúc sông hẻo lánh này làm cho cô nghẹn ứ một nỗi bực dọc.

"Đi đâu không đi, cuối năm cuối tháng lại chui rúc vào cái xó đình ma thiêng nước độc này không biết."

Loan lẩm bẩm, cất cây son vào túi xách da bóng rồi hất hàm nhìn xuống mũi ghe.

Đám hậu đài đang bì bõm lội dưới bùn non kéo dây thừng cột vào gốc cây còng già. Bầu Đạt - cha của Loan, đồng thời là người kế thừa gánh hát này từ thời ông nội - đội chiếc nón cời bạc màu, hai ống quần xắn cao quá gối, đang chỉ trỏ quát tháo râm ran:

"Mấy đứa nhẹ tay với cái bàn loan coi! Rương phục trang của cô Bảy tụi bây khiêng hai người một đầu, đứa nào làm trượt tay rớt xuống bùn thì trừ nửa tiền cơm bữa nay nghe chưa!"

Loan nhếch môi, ngón tay mân mê sợi dây chuyền vàng tây nơi cổ. Cô Bảy - cái tên Bạch Vân lúc nào cũng được ông Bầu Đạt đặt lên đầu lưỡi trước tiên. Mười hai năm qua, gánh hát Ngọc Hoa Ban này sống nhờ giọng ca mùi mẫn cùng đôi mắt u uất của Bạch Vân trong những vai đào thương nát ruột nát gan. Nhưng bây giờ thời thế đã khác. Khán giả trẻ chẳng còn ai rảnh rỗi ngồi nghe ngâm trọn mười hai câu vọng cổ bi thương, họ thích những màn vũ đạo lả lướt, những cú hất đuôi rắn lấp lánh kim sa cùng tiếng rít đanh thép mà Loan thể hiện trên sân khấu. Vậy mà khi dọn bến, chiếc rương da viền đồng của Loan vẫn bị vứt ngổn ngang dưới khoang thuyền hẹp, nhường chỗ cho hàng chục kiện đồ nghề cùng chiếc rương sơn son nặng chịch của người đàn bà ba mươi sáu tuổi kia.

"Cô Loan lên bờ đi kẻo nước ròng sình lầy khó bước."

Thằng Chắt - chân chạy vặt của gánh, vừa quẹt mồ hôi trán vừa chìa bàn tay lấm lem bùn đất ra định đỡ.

Loan liếc nhìn bàn tay đen đúa của nó, khẽ nghiêng người tránh né, tự mình nhón gót giày cao gót bước lên cây cầu khỉ ghép bằng hai thân tre đực:

"Tránh ra, đụng trúng hư hết vạt áo lụa của tao. Lo mà khiêng cái rương phấn của tao vào buồng trong cho đàng hoàng. Để ẩm nước một chút phấn là mày không xong với tao đâu."

Thằng Chắt rụt tay lại, cúi gằm mặt dạ khẽ rồi luồn qua đám thùng gỗ chạy đi tìm đòn gánh.

Khuôn viên đình Vĩnh Phước rộng mênh mông nhưng vắng ngắt. Sân đình lát gạch tàu màu đỏ au đã nứt toác nhiều chỗ, cỏ gấu mọc lỉa chỉa chen qua từng kẽ nứt. Hai bên tả vu, hữu vu là những hàng cột gỗ lim to bằng một vòng tay người ôm, bên trên treo lủng lẳng mấy chiếc đèn lồng giấy rách nát, tơi tả theo từng cơn gió lạnh. Gian võ ca nằm ngay trước chính điện, nơi chiếc sàn gỗ dựng tạm chuẩn bị được dựng lên bằng những tấm phản dày cộp.

Ở gian chái sau võ ca, không khí ngột ngạt vì mùi ẩm mốc của những góc tường lâu ngày không có ánh mặt trời rọi tới. Bầu Đạt cùng mấy người thợ mộc trong ban đang kê chiếc bàn dài bằng gỗ trắc để làm nơi lập bàn thờ Tổ nghề tạm thời suốt chuỗi ngày lưu diễn.

Bạch Vân đã đứng ở đó từ lúc nào. Chị mặc bộ bà ba lụa màu mỡ gà giản dị, mái tóc dài vấn gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm sừng đen nhánh. Gương mặt chị không hề dặm chút phấn son nào nhưng nét thanh tú, nhẫn nại vẫn hiện rõ từng đường nét trên sống mũi cao và đôi mày lá liễu. Chị đang cẩn thận dùng một tấm khăn vải trắng nhúng nước thơm lau từng góc cạnh của chiếc lư hương bằng đồng cổ.

"Chị Bảy chu đáo quá hén."

Loan bước vào, đôi gót giày gõ côm cốp xuống nền gạch tàu lạnh buốt, phá tan bầu không khí tĩnh mịch của gian chái.

Bạch Vân dừng tay, ngẩng lên nhìn cô đào trẻ. Ánh mắt chị trầm lắng, không có vẻ gì là bực bội trước giọng điệu xách xé kia:

"Loan mới lên bờ đó hả em? Đi lại cẩn thận, đình làng tôn nghiêm, lại là chốn đất khách quê người, ăn nói nhỏ nhẹ kẻo kinh động các bậc tiền hiền."

Loan bĩu môi, ngồi thụp xuống một góc chiếc ghế đẩu mục gần đó, vắt chéo chân:

"Trời đất ơi, năm nào cũng cúng bái ba cái lệ này. Thời buổi nào rồi mà chị cứ làm như đình này có ma không bằng. Tụi mình đem lời ca tiếng hát tới phục vụ bà con kiếm chén cơm, chứ có phải tới đây làm chuyện xằng bậy đâu mà thần thánh quở phạt."

Bạch Vân khẽ thở dài, đặt chiếc lư đồng ngay ngắn vào giữa tấm vải đỏ trải trên bàn thờ:

"Tổ nghiệp cho mình cái giọng, cho mình cái danh, thì mình phải giữ cái nết em à. Đất này hồi xưa là vùng chiến địa, ngôi đình này từng hứng biết bao nhiêu đợt đạn pháo, dưới nền gạch này có bao nhiêu vong linh ngã xuống em đâu có biết. Với lại, gánh hát mình đi tới đâu, việc đầu tiên là phải an vị bàn thờ Tổ cho nghiêm cẩn. Em đừng nói những lời báng bổ như vậy, bề trên nghe thấy thì tội lắm."

"Tổ nghề cũng phải nhìn coi ai là người kéo khán giả tới rạp chớ."

Loan chống cằm, ánh mắt lướt qua khám thờ bằng gỗ mít sơn son thếp vàng đã bạc màu. Trong khám thờ, bài vị Tổ nghiệp sân khấu nằm khuất sau bức rèm điều đã ngả sang màu tím thẫm. Bên cạnh bàn thờ, chiếc rương trang phục riêng của Bạch Vân được đặt trang trọng trên một chiếc kệ gỗ cao ráo, hoàn toàn cách biệt với đống hòm xiểng hỗn độn của đoàn đang chất đống ngoài hành lang.

Đó là một chiếc rương cổ bằng gỗ gõ đỏ, bốn góc bọc đồng sáng loáng, nắp rương chạm nổi hình song long chầu nguyệt. Chiếc rương này theo gánh hát từ thời ông nội của Loan truyền lại cho đào chính đệ nhất của đoàn. Suốt mười hai năm nay, người chạm tay vào ổ khóa bằng thau của nó chỉ có một mình Bạch Vân. Bất kể Loan có nổi tiếng đến đâu, có được khán giả săn đón ra sao, chiếc rương ấy vẫn nằm ngoài tầm tay của cô. Nó là biểu tượng của ngôi vị quán quân trong gánh hát ba đời này, là thứ khẳng định ai mới là linh hồn thực sự của đoàn cải lương Ngọc Hoa Ban.

Loan nhìn chằm chằm vào chiếc rương son, lồng ngực hơi phập phồng vì một cảm giác tức tối khó tả.

"Hôm nay dợt tuồng gì vậy cha?" Loan quay sang Bầu Đạt, giọng cố ý cất cao át đi tiếng gió rít ngoài hiên.

Bầu Đạt vừa lau mồ hôi trên cổ vừa bước lại, nhìn hai cô đào rồi bảo:

"Tối mai diễn mở màn hội đình, ban tế lễ yêu cầu diễn vở Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài. Bạch Vân vẫn thủ vai Chúc Anh Đài, còn Loan vào vai Thanh Xà giúp vui trích đoạn mở màn để khuấy động không khí trước."

"Lại là đào nhì?" Mắt Loan nhướng lên, hai bàn tay siết chặt lấy mép túi xách. "Cha tính để con nhảy múa làm trò lót đường cho chị Bảy suốt đời hay sao? Vai Chúc Anh Đài con hát trọn bài văn tế mượt mà không thua ai, tại sao không cho con hát chính một đêm?"

Bầu Đạt trừng mắt nhìn con gái, hạ giọng gắt:

"Mày im cái miệng lại! Ở đây là đất đình làng, các cụ lớn tuổi chỉ thích nghe giọng ca mùi mẫn, đĩnh đạc của chị Bảy mày. Cái nết diễn lả lướt, uốn éo của mày chỉ hợp với đám thanh niên ngoài chợ. Liệu mà tập trung dợt lại cho nhuyễn mấy ngón tay múa kiếm đi, đừng có ở đó mà tị nạnh!"

Nói rồi, Bầu Đạt quay lưng bước vội ra phía sân võ ca để chỉ huy đám thợ căng phông màn.

Bạch Vân không nói thêm lời nào. Chị rút ba nén nhang trầm, châm lửa vào ngọn đèn dầu hỏa đặt trên bàn thờ rồi cẩn thận cắm vào bát nhang. Mùi trầm thơm ngát tỏa ra, lập tức xua bớt mùi ẩm mốc của gian nhà cổ. Chị đứng lặng im hồi lâu, hai tay chắp trước ngực, đôi mắt khép hờ thì thầm khấn nguyện.

Loan đứng dậy, bước chân nện mạnh trên nền gạch đi thẳng ra ngoài hiên. Sự uất ức dồn lên tận cổ họng khiến mặt cô nóng bừng. Đào chính mười hai năm thì đã sao? Giọng ca của Bạch Vân dù có ngọt ngào đến mấy thì cũng đã bắt đầu lộ ra những nốt hụt hơi ở những đoạn lên cao trào. Tuổi tác không tha cho một cô đào thương nào cả. Vậy mà tất cả mọi người trong gánh hát này, từ người cha ruột cho đến đám hậu đài quét dọn, đều đối xử với Bạch Vân như một bà hoàng không thể thay thế.

Chiều muộn buông xuống rất nhanh trên bến sông. Ánh hoàng hôn đỏ quạch như một vệt máu loang lổ trên mặt nước dập dềnh. Gió mỗi lúc một lạnh, cuốn theo những đám lá bàng khô bay xào xạc trên mặt sân đình rộng thênh thang.

Ở góc cánh gà của rạp hát dựng tạm, chú Tư đờn kìm đang ngồi bệt trên chiếc chiếu rách, cặm cụi vặn chốt so dây đàn. Chú Tư năm nay ngoài sáu mươi, một bên mắt đã mờ đục vì chứng thiên đầu thống, nhưng ngón đờn kìm của chú được xem là linh hồn của toàn bộ dàn nhạc cổ trong gánh.

"Tưng... tình... tang..."

Tiếng tơ nilon bật lên khô khốc giữa không gian tịch mịch. Chú Tư khẽ nghiêng tai, ngón tay gầy guộc gảy một đoạn Nam Ai não nùng. Giai điệu trầm đục lướt qua những hàng cột lim, dội ngược vào các bức tường vôi lở loét rồi tan biến vào bóng tối đang đặc quánh lại dưới các góc mái ngói âm dương.

Loan dừng bước bên cột đình, đưa mắt nhìn về phía sau hậu trường. Mấy tấm màn nhung đỏ thẫm che chắn buồng thay đồ đã được treo lên xà ngang. Màu đỏ của lớp vải nhung qua hàng chục năm lưu diễn đã phai thành một màu đỏ bầm u tối, bám đầy bụi bặm và mùi mồ hôi lưu cữu. Khi gió sông thổi thốc qua khe ván, những tấm màn khẽ lay động, phập phồng như lồng ngực của một thực thể sống đang nằm im thở dốc.

"Chú Tư nè," Loan bước lại gần chỗ người nhạc công già, giọng nói hạ thấp xuống mang vẻ tò mò, "ngôi đình này hồi xưa có chuyện gì mà cha con với chị Bảy cứ làm như sợ sệt dữ vậy?"

Chú Tư ngừng tay đờn, ngước con mắt còn lành lặn lên nhìn Loan. Ánh mắt ông già đùng đục, soi vào mặt cô đào trẻ một cách kỳ lạ:

"Cô Ba không biết thiệt hay giả bộ hỏi chơi vậy?"

"Con biết gì đâu. Hồi trước gánh mình đi diễn miệt Cao Lãnh, Sa Đéc, có ghé qua đây bao giờ đâu."

Chú Tư đặt cây đờn kìm lên đùi, với tay lấy chiếc bình trà sứt quai bên cạnh, nhấp một ngụm nước chát ngắt:

"Hồi bốn mươi năm trước, gánh hát của ông nội cô từng về đây diễn ba đêm liền. Đêm cuối cùng, đào chính của gánh hồi đó bị đứt mạch máu họng ngay trên sân khấu võ ca này, máu phun đỏ cả tấm màn nhung rồi chết tươi trước mặt hàng trăm khán giả."

Loan rùng mình, nhưng miệng vẫn cố gượng cười:

"Chắc tại cô đào đó bị bệnh lao phổi hay bệnh gì nặng trong người thôi chớ gì."

"Không phải bệnh tật gì hết," Chú Tư lắc đầu, giọng nói trầm hẳn xuống, chỉ đủ cho hai người nghe giữa tiếng gió rít qua rặng bần, "hồi đó cô ấy cậy mình có nhan sắc, có giọng ca vàng, nên không coi ai ra gì. Trước giờ diễn, cô ấy dám đem thứ trái cấm của nhà nghề vào buồng phấn ăn giấu, lại còn lớn tiếng cười cợt, bảo mấy điều kiêng kỵ của Tổ nghề chỉ là trò bịp bợm của mấy ông bầu già. Đến khi bước ra sân khấu hát lớp phụng hoàng, chữ chưa kịp nhả ra khỏi môi thì cổ họng đã cứng đờ, rồi ngã gục xuống sàn gỗ."

Loan nuốt khan một ngụm nước bọt, cảm thấy da gà nổi rần rần dọc hai cánh tay:

"Rồi... rồi sao nữa chú?"

"Sau cái chết đó, đình này bị bỏ hoang miết mười mấy năm trời, không một gánh hát nào dám bén mảng tới. Người ta đồn rằng, những đêm trăng mờ, dân chài lưới đi ngang khúc sông này vẫn nghe thấy tiếng đờn kìm nỉ non từ trong võ ca vọng ra, kèm theo tiếng khè khè như tiếng rắn bò trên mái ngói. Năm nay ông Bầu Đạt vì kẹt tiền bến bãi, lại được ban tế lễ đình trả giá cao nên mới bấm bụng nhận lời về đây mở màn lưu diễn cuối năm. Cô Ba đừng có bướng bỉnh nữa, phận con gái theo nghề hát, cái gì kiêng thì phải kiêng cho trót."

Loan không đáp lời. Cô quay đầu nhìn lại gian chái sau võ ca. Ánh sáng leo lét từ ngọn đèn dầu trên bàn thờ Tổ hắt ra những vệt bóng đen dài ngoằng, đổ xiêu vẹo lên những bức vách gỗ bạc màu. Chiếc rương cổ sơn son của Bạch Vân nằm im lìm trong góc tối, như một con quái vật đang cuộn mình ngủ say.

Một cơn gió mạnh bất thần thổi tạt qua sân đình, làm tắt phụt ngọn đèn bão treo ở cửa rạp. Không gian chìm ngập trong bóng tối đen đặc chỉ trong một cái chớp mắt.

Từ trên thanh xà gồ cao ngất vắt ngang mái đình, một tiếng cọt kẹt khô khốc vang lên rợn người. Tiếng động ấy nghe như có một vật gì đó rất nặng vừa dịch chuyển trên lớp ngói cổ.

Loan giật nảy mình, ngửa mặt nhìn lên trần nhà tối om. Giữa những khoảng trống đen ngòm của các vì kèo bằng gỗ lim, dường như có hai đốm sáng mờ đục đang lặng lẽ nhìn xuống cô, kèm theo một luồng gió lạnh buốt mang theo mùi tanh tưởi của bùn lầy và da thịt thối rữa phả thẳng vào gáy.

"Ai trên đó vậy?" Loan run rẩy cất tiếng hỏi, nhưng giọng cô lọt thỏm giữa tiếng sóng vỗ ì oạp dưới chân bờ bao.

Đáp lại cô chỉ là tiếng những chiếc chuông gió bằng đồng treo dưới góc mái võ ca va đập vào nhau loạn xạ, phát ra những âm thanh lanh lảnh, buốt giá đến tận xương tủy.

Chương khác

Xem thêm