Song Đồng Oán - Chương 10: Về nhà

Tiếng chuông chùa trên đường đèo ngân vang từng hồi trầm đục, len qua những rặng thông già rồi chìm nghỉm vào màn sương sớm. Sáng sớm hôm ấy, hơi lạnh…

Nội dung chương

Tiếng chuông chùa trên đường đèo ngân vang từng hồi trầm đục, len qua những rặng thông già rồi chìm nghỉm vào màn sương sớm.

Sáng sớm hôm ấy, hơi lạnh trên núi đá phả vào da thịt buốt giá. Ba mẹ tôi đến sớm hơn hai ngày so với dự tính ban đầu. Chiếc xe U-oát màu xanh rêu cũ kỹ của cơ quan ba nổ máy xình xịch dưới chân bậc tam cấp dẫn lên sân tam bảo, mùi khói dầu xốc lên khét lẹt lấn át cả hương trầm thoang thoảng nơi chốn tu hành.

Ba tôi mặc chiếc áo khoác gió sờn vai, bước vội vào sân chùa với vẻ mặt đầy âu lo. Mẹ tôi đi ngay phía sau, vừa nhìn thấy tôi ngồi co ro bên hiên nhà tăng liền lao tới, ôm chầm lấy tôi vào lòng. Bàn tay mẹ ấm áp xoa nắn khắp bả vai, cánh tay và hai bên đầu gối còn tím bầm những vết trầy xước vì cú ngã đêm trước. Mẹ sờ trán tôi, vừa xuýt xoa vừa rơm rớm nước mắt:

- Trời đất ơi, thằng bé gầy rộc cả đi thế này! Mặt mũi thì xanh xao như người ốm dở. Có chuyện gì xảy ra trên này vậy ba?

Ông nội tôi đứng tựa bên khung cửa gỗ lim của gian tăng phòng. Tấm áo cà sa màu nâu sòng khoác trên vóc dáng gầy gò của ông lộ rõ vẻ mệt mỏi. Gương mặt ông trũng sâu, hai quầng mắt thâm đen sau một đêm thức trắng tụng kinh gõ mõ. Đôi bàn tay gân guốc lần từng hạt tràng gỗ phát ra những tiếng lách cách khô khốc.

Ông nhìn ba mẹ tôi, giọng trầm khàn mang theo sự nghiêm nghị:

- Không có chuyện gì lớn. Thằng Phong nghịch ngợm trượt chân ngã ngoài vườn sau, xây xát nhẹ ngoài da thôi. Anh chị thu dọn đồ đạc cho cháu rồi đưa nó về dưới xuôi ngay đi. Rừng núi dạo này chướng khí nặng, không tiện cho trẻ con ở lâu.

Ba tôi thoáng ngập ngừng, đưa mắt nhìn về phía cánh rừng rậm rạp phía sau chùa rồi lại nhìn vẻ mặt hốc hác bất thường của ông nội. Ba toan mở lời gặng hỏi thêm, nhưng nhìn thấy ánh mắt cương quyết của ông, ba lại nuốt những lời định nói vào trong.

Chú Điền nhanh nhẹn gom mấy bộ quần áo cũ và đôi dép tổ ong của tôi nhét vào chiếc túi bạt xách tay. Chú không dám nhìn thẳng vào mắt tôi, đôi môi chú thỉnh thoảng mấp máy niệm Phật thầm trong miệng. Lúc đưa chiếc túi cho mẹ tôi, những ngón tay chú Điền run rẩy thấy rõ.

Trước khi tôi bước xuống bậc tam cấp, ông nội bước lại gần, đặt bàn tay khô ráp lên đỉnh đầu tôi. Hơi ấm từ lòng bàn tay ông truyền qua từng chân tóc, mang theo mùi gỗ trầm hương quen thuộc. Ông cúi xuống, thì thầm dặn dò với âm lượng vừa đủ cho một mình tôi nghe thấy:

- Về đến nhà, tuyệt đối không được nhắc lại những chuyện đã thấy trên này. Dù có ai gọi tên con trong mơ, tuyệt đối không được mở miệng thưa. Cầm lấy cái này, đeo sát vào người, không được tháo ra cho đến khi tròn một tháng.

Nói rồi, ông nhét vào túi áo ngực của tôi một gói vải đỏ nhỏ bằng ngón tay cái, được thắt nút bằng sợi chỉ ngũ sắc. Bên trong lớp vải cộm lên một miếng kim loại mỏng hình vuông. Tôi gật đầu lia lịa, hai mắt rưng rưng nhìn ông. Tôi muốn nói lời xin lỗi vì sự bướng bỉnh của mình, muốn ôm lấy vạt áo nâu của ông một lần nữa, nhưng ba tôi đã kéo tay tôi bước nhanh về phía chiếc xe U-oát đang nổ máy chờ sẵn.

Cửa xe cọt kẹt đóng lại. Tiếng chốt sắt va vào nhau khô khốc cắt đứt hoàn toàn không gian thanh tịnh của ngôi chùa.

Ba tôi ngồi ở ghế phụ phía trước, mẹ ôm tôi ngồi ở băng ghế sau. Bác tài xế gạt cần số, bánh xe bắt đầu lăn những vòng đầu tiên trên nền sỏi lạo xạo nơi góc sân.

Tôi tì cằm lên mép kính cửa sổ bám đầy bụi mờ, quay đầu nhìn lại khoảng sân chùa đang lùi dần về phía sau. Ông nội vẫn đứng bất động bên bậc thềm đá, bóng dáng già nua chìm giữa làn khói hương lãng đãng bay ra từ chánh điện.

Ngay lúc chiếc xe chuẩn bị rẽ qua cổng tam quan bằng đá rêu phong, ánh mắt tôi bỗng khựng lại nơi góc hiên dãy nhà tăng phía đông.

Dưới mái ngói âm dương phủ đầy địa y xám xịt, có hai bóng người nhỏ nhắn đang đứng nép mình sát cột gỗ lim.

Đó là chị Lan và chị Huệ.

Cả hai người họ đều mặc chiếc áo tràng màu lam rộng thùng thình quét chấm gót chân. Đầu họ cạo trọc tròn vo, nổi bật giữa nền vách đất xám ngoét. Gương mặt hai chị trắng bệch không có lấy một giọt máu, phẳng lặng không cảm xúc. Bốn con mắt đen đặc không có lòng trắng nhìn trừng trừng xuyên qua lớp kính xe, găm thẳng vào đôi mắt tôi.

Rồi bất chợt, khóe miệng của hai chị kéo dãn ra sang hai bên mang tai, tạo thành một nụ cười ngoác rộng méo mó đến rợn người.

Hai cánh tay gầy guộc, khẳng khiu thò ra khỏi ống tay áo lam thụng thịnh, từ từ giơ lên ngang mặt. Bàn tay hai chị vẫy qua vẫy lại nhịp nhàng theo gió, ngón tay dài ngoẵng khẽ ngoắc về phía tôi, như một lời chào tạm biệt đầy ám muội.

- Mẹ... Mẹ ơi... Tôi run rẩy túm chặt lấy vạt áo mẹ, hơi thở nghẹn ứ nơi lồng ngực - Hai chị đứng ở hiên chùa kìa mẹ.

Mẹ tôi giật mình, vội vàng nhìn theo hướng tay tôi chỉ ra ngoài cửa kính. Nhưng mẹ chỉ nhìn thấy khoảng sân vắng tanh cùng bóng lưng của ông nội đang quay bước vào trong tam bảo. Mẹ ôm chặt lấy tôi, vuốt nhẹ sống lưng trấn an:

- Làm gì có ai đâu con. Sương mù nhiều quá nên con nhìn nhầm đấy thôi. Nằm xuống đây ngủ một giấc đi, chiều là về đến nhà rồi.

Tôi không nhìn nhầm. Khi chiếc xe lắc lư vượt qua cánh cổng đá, qua khung kính phía sau xe, tôi vẫn thấy rõ hai bóng áo lam ấy bước ra khỏi mái hiên, đứng giữa sân chùa lộng gió, cánh tay khẳng khiu vẫn không ngừng vẫy vẫy.

Chiếc U-oát bắt đầu lao xuống con đường đèo quanh co uốn lượn ôm sát vách núi hiểm trở. Một bên là vách đá dựng đứng phủ đầy dây leo chằng chịt, một bên là vực sâu thăm thẳm ngập tràn sương trắng bốc lên cuồn cuộn. Tiếng động cơ xe gầm rú từng chặng khi bác tài xế về số thấp để ghìm tốc độ.

Tôi ngồi thu mình ở góc ghế sau, hai tay ôm chặt lấy chiếc bọc vải đỏ trước ngực. Tim tôi đập thình thịch từng cơn dồn dập.

Bác tài xế liếc nhìn gương chiếu hậu giữa xe, càu nhàu một câu:

- Đoạn đèo này sáng nay sương nặng hạt quá, nhìn gương chiếu hậu chẳng thấy rõ mặt đường phía sau.

Nghe thấy lời bác tài xế, một cảm giác tò mò xen lẫn ớn lạnh thúc giục tôi quay đầu nhìn qua ô kính tròn phía sau xe.

Màn sương mù dày đặc cuộn tròn theo từng vòng quay của bánh xe trên nền đường đất đỏ. Và rồi, giữa những dải sương mù trắng đục đang xoay tít ấy, hai bóng người màu lam bất ngờ hiện ra.

Hai cô gái áo lam đang chạy theo sau xe.

Hai đôi chân trần trắng bệch lướt thoăn thoắt trên mặt đường lởm chởm sỏi đá nhọn hoắt mà không hề chạm đất. Vạt áo lam phần phật bay trong gió đèo rít gào. Tốc độ của họ nhanh đến mức kinh hoàng, bám sát ngay phía sau đuôi xe chỉ chừng năm sáu mét. Gương mặt hai chị vẫn giữ nguyên nụ cười méo mó vô hồn, đôi mắt đen ngòm không chớp, đầu ngón tay khẳng khiu vươn dài về phía trước như muốn bấu chặt lấy thành xe sắt thép.

Tôi há hốc miệng, muốn hét to thành tiếng nhưng cổ họng tắc nghẽn lại như bị ai bóp nghẹt. Mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa ướt sũng cả chiếc áo len dày.

Chiếc xe quẹo gấp qua một khúc cua tay áo hiểm trở, tiếng lốp xe nghiến trét trên mặt đường phát ra âm thanh rợn người. Hai bóng áo lam phía sau không hề giảm tốc độ, họ trôi dạt theo khúc cua một cách nhẹ bẫng, bay là đà sát mép vực sâu. Tiếng cười khúc khích lanh lảnh của trẻ con bắt đầu lọt qua khe cửa kính xe, hòa lẫn vào tiếng gió rít bên ngoài:

Một... hai... ba... bắt được rồi...

Tiếng đếm nhẩm từng nhịp ma quái vang lên ngay sát bên tai tôi.

Tôi run rẩy nhắm chặt hai mắt lại, úp mặt vào lòng mẹ, hai bàn tay bịt chặt lấy hai tai. Toàn thân tôi co giật từng chập theo nhịp rung lắc của chiếc xe. Mẹ tôi thấy tôi run rẩy bất thường liền vội vàng lấy chiếc chăn mỏng đắp kín lên người tôi, miệng không ngừng lẩm bẩm những lời dỗ dành.

Chiếc xe tiếp tục lao đi vun vút trong màn sương mù mịt mù. Cảm giác lạnh buốt sau lưng mỗi lúc một đè nặng, như thể có những ngón tay băng giá đang cào nhẹ vào lớp tôn xe ngay sau đầu tôi. Phải mất gần hai tiếng đồng hồ sau, khi chiếc xe vượt qua cây cầu sắt bắc qua con suối lớn ở chân núi để ra đến đường quốc lộ phẳng lặng, hơi lạnh ghê rợn ấy mới dần tan biến. Ánh nắng ban trưa ấm áp chiếu rọi qua cửa kính xe, xua đi lớp sương mù ẩm ướt của vùng rừng núi phía sau lưng.

Khi tôi mở mắt nhìn lại qua khung kính, phía sau xe chỉ còn lại con đường nhựa thẳng tắp và những cánh đồng lúa xanh mướt trải dài dưới chân đồi. Hai bóng áo lam đã hoàn toàn biến mất.

Nhưng cơn ác mộng vẫn chưa chịu buông tha cho tôi.

Ngay buổi tối hôm trở về căn nhà nhỏ ở thị xã, tôi đổ bệnh nặng.

Cơn sốt cao ập đến dữ dội làm toàn thân tôi nóng rực như hòn than, nhưng bên trong xương tủy lại lạnh buốt đến mức răng đập vào nhau cầm cập. Tôi mê man suốt ba ngày ba đêm liền, uống bao nhiêu thuốc hạ sốt của trạm xá cũng không thuyên giảm.

Trong những cơn mê sảng đứt quãng, tôi liên tục nhìn thấy căn phòng ngủ của mình biến thành khoảng đất trống bên mép vực sau chùa. Dưới chân hai gốc cây đại thụ xù xì, hai tấm bia đá xám ngoét nứt toác ra, để lộ hai cánh tay khẳng khiu vươn lên túm lấy cổ chân tôi kéo xuống đáy vực đen ngòm. Tôi nghe thấy tiếng chị Huệ thì thầm đòi lại mái tóc dài, tiếng chị Lan rủ rỉ bảo tôi đếm đến ba để chị ấy nhảy xuống đón tôi.

Mỗi lần tôi giật mình choàng tỉnh, mồ hôi ướt đầm đìa ga trải giường, mẹ tôi lại ngồi bên cạnh vừa khóc vừa lau trán cho tôi.

Sang đến ngày thứ tư, cơn sốt của tôi vẫn chưa dứt thì một người họ hàng dưới quê hớt hải chạy xe máy đến nhà báo tin dữ.

Ông nội tôi ở trên chùa bỗng nhiên lâm bệnh nặng ngay sau ngày tôi rời đi.

Theo lời kể của chú Điền gửi về, đêm hôm tôi về xuôi, ông nội đã một mình lập đàn cầu siêu suốt đêm dưới chân hai gốc cây cổ thụ bên mép vực sau núi. Gió rừng đêm đó gầm thét dữ dội thổi tắt hết toàn bộ nến và nhang đèn trên bàn thờ tạm. Đến rạng sáng hôm sau, chú Điền ra tìm thì thấy ông nội nằm bất tỉnh bên cạnh hai phiến bia mộ đá, thân thể lạnh ngắt và kiệt sức hoàn toàn.

Cùng với người đưa tin, chú Điền gửi kèm theo một bức thư tay ngắn cùng một lá bùa màu vàng vẽ bằng mực chu sa đỏ au do chính tay ông nội gượng dậy viết trước khi hôn mê.

Ba tôi mở lá thư ra, giọng run run đọc từng chữ dặn dò của ông nội:

Trong tờ giấy ấy, mấy dòng chữ đỏ viết:

Đốt lá bùa này thành tro, hòa vào một chén nước mưa sạch cho thằng Phong uống nửa chén, nửa chén còn lại đem đổ ra ngã ba đường lúc chính ngọ. Nợ trần đã trả, duyên âm đã dứt, đừng bao giờ để nó quay lại ngọn núi này thêm một lần nào nữa.

Ba tôi không dám chậm trễ nửa phút. Ba dùng bật lửa đốt lá bùa vàng thành một nhúm tro đen mịn, cẩn thận hòa vào bát nước mưa hứng từ bể ngoài sân rồi ép tôi uống cạn một nửa.

Vị nước tro nhằng nhặng đắng và khét lẹt trôi qua cổ họng tôi. Nửa chén nước còn lại, ba cầm chạy thẳng ra ngã ba đầu ngõ hắt mạnh xuống nền đất sỏi đúng lúc mặt trời lên đến đỉnh đầu.

Kỳ lạ thay, chỉ nửa giờ sau khi uống bát nước bùa, mồ hôi hôi thối từ khắp các lỗ chân lông trên người tôi túa ra như tắm. Cơn sốt cao dai dẳng bấy lâu bỗng chốc hạ hẳn xuống. Đầu óc tôi dần dần tỉnh táo trở lại, cảm giác nặng trĩu đè lên lồng ngực suốt mấy ngày qua cũng tan biến đi đâu mất.

Nhưng sự bình phục của tôi lại được đánh đổi bằng một mất mát quá lớn.

Chập tối ngày hôm ấy, tiếng chuông điện thoại bàn nhà tôi reo lên từng hồi dồn dập. Ba tôi nhấc máy nghe, đầu dây bên kia là tiếng khóc nấc nghẹn ngào của chú Điền từ trạm bưu điện huyện.

Ông nội tôi đã viên tịch vào giờ Thân chiều hôm đó.

Ông ra đi một cách thanh thản trên chiếc giường tre đơn sơ trong tăng phòng, đôi tay già nua vẫn nắm chặt chuỗi tràng hạt bồ đề, gương mặt bình thản hướng về phía chánh điện.

Ba mẹ tôi lập tức thu xếp khăn gói, đưa tôi quay trở lại ngôi chùa trên núi để chịu tang ông.

Lần này trở lại, không khí ngôi chùa cổ bao trùm một màu tang tóc thê lương. Dải lụa trắng dài vắt ngang qua cổng tam quan, tiếng tụng kinh trầm bổng của các chư tăng từ khắp các chùa lân cận về hộ niệm vang vọng khắp thung lũng.

Sau tang lễ của ông nội, hai bóng áo lam không bao giờ xuất hiện trước mặt tôi hay bước vào trong những giấc mơ của tôi nữa. Gói vải đỏ ông trao cho tôi năm nào, tôi vẫn cất kỹ dưới đáy ngăn kéo bàn học như một kỷ vật thiêng liêng nhất của tuổi thơ.

Nhiều năm tháng trôi qua, tôi lớn lên, rời xa thị xã để lên thành phố học tập và lập nghiệp. Ngôi chùa cổ sâu trong núi năm xưa nay đã được tôn tạo lại khang trang hơn, con đường đèo hiểm trở cũng được trải nhựa phẳng phiu, mở rộng cho xe cộ tấp nập qua lại.

Thế nhưng, mỗi lần có dịp ghé thăm lại chốn xưa, những người dân đốn củi lâu năm sống dưới chân núi vẫn thường kể cho nhau nghe những câu chuyện kỳ bí lúc trà dư tửu hậu. Họ bảo rằng, vào những đêm rằm sương mù giăng kín đỉnh đèo, phía sau hàng rào tre dẫn ra mép vực sâu thẳm, người ta vẫn nghe thấy tiếng bước chân lạo xạo trên lá mục và. tiếng trẻ con cười đùa khúc khích vang vọng từ đáy vực sâu hun hút vọng lên, như thể vẫn có ai đó đang mải miết đếm từng nhịp, chờ đợi một người bạn cũ quay lại chơi cùng.

Chương khác

Xem thêm