Song Đồng Oán - Chương 9: Hai bia mộ
Mùi trầm hương trong phòng ông nội nồng nặc đến mức vừa bước qua ngưỡng cửa, tôi đã bị sặc nghẹn ở cuống họng. Đó là thứ mùi ngai ngái, vừa cay vừa khét…
Nội dung chương
Mùi trầm hương trong phòng ông nội nồng nặc đến mức vừa bước qua ngưỡng cửa, tôi đã bị sặc nghẹn ở cuống họng.
Đó là thứ mùi ngai ngái, vừa cay vừa khét của những phong nhang đen thô mộc làm từ rễ cây rừng ngâm lâu năm, quyện với hơi ẩm mốc của những tấm vách gỗ lim đã xỉn màu vì thời gian. Trong căn phòng tối lờ mờ chỉ có một ngọn đèn dầu hoa kỳ vặn nhỏ bấc, ánh lửa đỏ quạch leo lét hắt bóng hai ông cháu in dài ngoằng lên vách nứa.
Ông nội đóng sập then cài bằng gỗ lim to bản lại. Tiếng then gỗ trượt trên rãnh phát ra âm thanh khô khốc chói tai. Ông chỉ tay về phía chiếc phản gỗ góc phòng, giọng đanh lại:
- Ngồi yên đấy. Từ giờ cho đến khi ba mẹ mày lên đón, cấm bước nửa bước ra khỏi cái cửa kia.
Tôi co rúm hai chân lên phản, ôm chặt lấy hai đầu gối. Toàn thân tôi run lên từng chập, răng va vào nhau lập cập phát ra những tiếng kêu lách cách. Vết bầm tím hình năm ngón tay trên cổ tay tôi - chỗ ban nãy chị Lan nắm lấy - lúc này đã chuyển sang màu xám đen, buốt lạnh thấu tận tủy sống dù da thịt xung quanh bắt đầu hầm hập nóng.
Căn phòng của ông nội nằm sâu ở chái đông chùa, tách biệt hoàn toàn với dãy tăng phòng và chánh điện. Cả gian phòng chỉ rộng chừng ba gian nhà lá, bày biện ngột ngạt và kỳ quái. Trên xà ngang chính giữa treo một tấm gương bát quái bằng đồng đã ố xanh, phủ một lớp bụi mỏng. Dưới tấm gương là chiếc bàn thờ nhỏ không có tượng Phật, chỉ đặt một chiếc bát hương cổ sứt quai, xung quanh cắm chi chít những chân nhang đỏ úa. Sát vách tường đất bên trái xếp ba chiếc hũ sành màu da lươn bịt vải điều đỏ buộc chặt bằng dây gai thô, góc phòng tỏa ra thứ mùi hăng hắc của vôi bột rắc khử uế.
Chú Điền gõ cửa cộc cộc, sau đó lách người bưng vào một chiếc mâm đồng nhỏ đặt bát cháo hoa loãng bốc khói cùng một chén nước thuốc sắc đen kịt. Mặt chú tái mét, hai bọng mắt thâm quầng, nhìn tôi bằng ánh mắt vừa thương hại vừa sợ sệt. Chú không dám nhìn vào chiếc bàn thờ nhỏ bên góc, chỉ lẳng lặng đặt mâm xuống mép phản rồi vội vã chắp tay cúi đầu lui ra ngoài, kéo then cửa lại thật cẩn thận.
Ông nội ngồi xếp bằng đối diện tôi, tay lần chuỗi tràng hạt bằng gỗ dâu. Mỗi hạt gỗ chạm vào nhau vang lên tiếng lách cách khô khan giữa gian phòng vắng lặng.
- Uống hết bát thuốc kia đi Ông nội trầm giọng bảo - Thuốc giải hàn khí đấy. Chậm chân một chút nữa thì hồn vía mày đã bay xuống tận đáy vực rồi.
Tôi run rẩy bưng chén thuốc đắng ngắt lên, nhắm mắt nuốt ừng ực từng ngụm lớn. Nước thuốc chảy đến đâu, một luồng nhiệt cay nồng xộc thẳng vào bụng đến đó, làm ngực tôi nóng ran lên nhưng hai bàn chân vẫn lạnh buốt như giẫm trên tảng băng.
Tôi bị nhốt trong căn phòng ấy suốt ba ngày liền.
Suốt ba ngày đó, ngoài tiếng chuông mõ tụng kinh rền rĩ của ông nội vào mỗi canh giờ tý và giờ ngọ, cả căn phòng chìm trong sự im ắng đến ngột ngạt. Ông nội gần như không ngủ. Ông ngồi bất động trước bàn thờ, miệng lầm rầm tụng niệm những bài kinh chiêu hồn, giải oan dài dằng dặc mà tôi không hiểu nổi một chữ. Mỗi khi đêm xuống, sương mù từ trên đỉnh núi lại sà xuống bao trùm lấy ngôi chùa cổ. Gió rừng rít từng hồi qua các khe cửa ván, tạo ra những âm thanh rên xiết rợn người.
Tôi nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông cũ kỹ, hai mắt trừng trừng nhìn lên trần nhà tối om. Có những đêm, trong tiếng gió rít gào bên ngoài hàng hiên, tôi nghe thấy rất rõ tiếng chân trần lẹp xẹp dẫm trên nền gạch ướt, cùng tiếng móng tay sắc nhọn cào nhè nhẹ vào then cửa gỗ: sột... soạt... sột... soạt...
Mỗi lần âm thanh ấy vang lên, ông nội lại gõ mạnh dùi chuông đồng. Tiếng "boong" ngân dài rung chuyển cả căn phòng, át đi tiếng cào xé ngoài cửa.
Đến đêm thứ ba, ngoài trời đổ một cơn mưa rào lớn. Nước mưa từ mái ngói rêu phong tuôn xối xả xuống sân chùa, gột rửa bớt phần nào sự ngột ngạt của núi rừng. Cơn sốt của tôi bắt đầu hạ bớt, nhưng nỗi ám ảnh về hai bóng áo lam bên bờ vực thẳm vẫn bám riết lấy tâm trí tôi như một cái gai cắm sâu vào da thịt.
Ông nội ngừng lần tràng hạt. Ông với tay khêu bấc đèn dầu cho ngọn lửa bùng lên một chút, sau đó rót một bát nước vối đặc đã nguội lạnh đẩy về phía tôi.
- Mày vẫn nhớ mặt hai đứa nó đúng không? - Ông nội cất tiếng, giọng khàn đặc vì nhiều đêm tụng kinh liên tục.
Tôi khẽ gật đầu, cổ họng nghẹn lại:
- Cháu nhớ... Chị Lan trán dô, mắt to, lúc cười để lộ chiếc răng khểnh... Chị Huệ thì ít nói hơn, da trắng bệch, cổ tay gầy như que củi... Hai chị đều cạo trọc đầu giống các chú tiểu trong chùa...
Ông nội thở dài một hơi thật nặng nhọc. Ông ngửa mặt nhìn lên xà nhà tăm tối, đôi mắt già nua đục ngầu chất chứa nỗi u uất dồn nén tự bao năm tháng.
- Chúng nó tên là Lan và Huệ thật. Nhưng chúng nó không phải là người sống. Chúng nó chết cách đây hai mươi ba năm rồi.
Nghe ông nói, dù đã lờ mờ đoán được từ đêm ở mép vực, tim tôi vẫn đập thịch một cái, gai ốc toàn thân dựng đứng lên.
- Hai mươi ba năm trước... Ông nội bắt đầu kể, giọng trầm đục hòa cùng tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái ngói Hồi ấy đất nước còn khó khăn, vùng núi này đói kém triền miên. Gia đình hai đứa nó ở dưới làng chân núi, nhà nghèo lại đông con nheo nhóc. Con Lan khi ấy mười hai tuổi, con Huệ mới lên mười. Ba mẹ chúng nó tin lời một lão thầy bói mù trong làng, bảo rằng hai đứa con gái này mang mệnh sát phụ, nếu nuôi trong nhà thì ba mẹ sẽ chết bất đắc kỳ tử, gia đình lụn bại.
Tôi nín thở lắng nghe, hai bàn tay vô thức bấu chặt vào mép chăn.
- Thế là người ta đem hai đứa nó lên gửi vào chùa này Ông nội tiếp tục, ánh mắt nhìn xoáy vào ngọn đèn dầu lay lắt Ba mẹ chúng nó quỳ lạy van xin nhà chùa nhận nuôi, bảo là cho chúng nó nương nhờ cửa Phật để tiêu trừ nghiệp chướng. Nhưng đứa trẻ con nào mà hiểu được chuyện nghiệp duyên? Chúng nó chỉ biết là mình bị chính ba mẹ ruột vứt bỏ. Ngày đưa lên chùa, người nhà đè hai đứa nó ra giữa sân, dùng kéo cắt phăng mái tóc dài đen nhánh của chúng nó đi, rồi cạo trọc lốc đầu chúng nó bắt mặc áo tràng lam.
Tôi rùng mình khi nhớ lại hình ảnh hai cái đầu trọc lốc tròn vo dưới ánh trăng mờ ảo hôm nọ. Khi ấy tôi cứ tưởng hai chị là ni cô tu hành từ nhỏ, không ngờ đằng sau đó lại là nỗi đau đớn đến thế.
- Hai đứa nó khóc lóc thảm thiết lắm Giọng ông nội chùng xuống, cay đắng Con Lan ôm lấy chân mẹ nó gào khóc, xin mẹ đừng cạo đầu, đừng bỏ rơi nó ở lại trên núi hoang. Nhưng ba mẹ chúng nó quay lưng bỏ đi thẳng một mạch xuống núi, không thèm ngoái đầu lại lấy một lần. Sau hôm đó, hai đứa nó như phát dại. Chúng nó không chịu ăn uống, suốt ngày ngồi nép vào góc tường sau chùa, ôm nhau khóc sưng cả mắt. Lòng oán hận của hai đứa trẻ non nớt đối với gia đình cứ thế tích tụ lại, đen ngòm và sâu hoắm.
- Rồi sao nữa hả ông? - Tôi run run hỏi, nước mắt tự nhiên ứa ra ở khóe mi.
- Được chừng nửa tháng, vào một đêm mưa bão mù trời đúng vào tháng bảy âm lịch Ông nội kể tiếp, giọng rùng rợn Nửa đêm, con Lan lén cạy then cửa nhà trù, dắt tay con Huệ trốn ra ngoài. Chúng nó định lần theo con đường mòn sau núi để chạy về nhà dưới xuôi tìm ba mẹ hỏi cho ra lẽ vì sao lại nhẫn tâm vứt bỏ chúng nó. Nhưng đường rừng sau chùa đêm hôm tăm tối, sương mù dày đặc lại trơn trượt vô cùng. Hai đứa trẻ con tay không tấc sắt, vừa chạy vừa khóc trong đêm tối mịt mùng...
Ông nội dừng lại một nhịp, nhấp một ngụm nước vối rồi gằn từng chữ:
- Chúng nó chạy lạc sang vạt rừng cấm, đến đúng khoảng đất có hai gốc cây đại thụ. Trong cơn hoảng loạn và mù mịt của mưa gió, con Huệ trượt chân ngã. Con Lan lao ra chộp lấy tay em gái để kéo lại, nhưng sức trẻ con làm sao giữ nổi. Cả hai đứa cùng trượt khỏi mép đá, rơi thẳng xuống đáy vực sâu hàng trăm thước.
Tôi rùng mình co rúm người lại. Tôi nhớ đến cảm giác hụt chân chới với khi tôi lao về phía mép vực đêm nọ. Nếu không có tiếng quát của ông nội làm tôi khựng lại và trượt ngã trên bãi rêu, thì chỉ một bước chân nữa thôi, tôi cũng đã lao đầu xuống đáy vực sâu hun hút ấy giống hệt như hai chị em họ năm xưa.
- Sáng hôm sau nhà chùa phát hiện thì đã quá muộn Ông nội tiếp lời, ánh mắt u tối Phải mất ba ngày sau, người ta mới men theo đường rừng vòng xuống đáy vực vớt được thi thể hai đứa nó lên. Thân thể chúng nó... nát bấy, vướng vào những bụi gai nhọn hoắt dưới chân vách đá. Nhà chùa cử người báo về cho gia đình, nhưng ba mẹ chúng nó sợ hãi không dám nhận xác, bảo rằng con gái đã gả cho cửa Phật thì sống chết là do Phật định đoạt.
Nắm tay tôi siết chặt lại vì tức giận và xót xa. Một nỗi uất nghẹn dâng lên làm nghẹn ứ nơi lồng ngực.
- Nhà chùa không còn cách nào khác, đành phải làm lễ khâm liệm cho hai đứa nó Ông nội thở dài Đáng lẽ phải đưa thi thể ra bãi tha ma dưới chân núi chôn cất, nhưng dân làng sợ oan hồn chết oan chết uổng mang lại xui xẻo nên kiên quyết ngăn cản. Cuối cùng, sư trụ trì tiền nhiệm đành cho chôn cất hai đứa nó ngay tại khoảng đất trống bên mép vực nơi chúng nó trượt chân rơi xuống. Hai gốc cây đại thụ được dùng làm nơi tựa linh hồn, dưới chân đẽo hai tấm bia đá vô danh cắm xuống làm dấu.
- Nhưng... tại sao hai chị lại cứ ở mãi chỗ đó hả ông? Tôi thút thít hỏi - Sao hai chị không đi đầu thai?
- Chết oan, lại chết trong nỗi oán hận tột cùng đối với trần gian thì làm sao siêu thoát dễ dàng được? Ông nội lắc đầu Oán khí của hai đứa nó bám chặt vào hai thân cây cổ thụ và vách vực sâu thẳm. Chúng nó vẫn nghĩ mình là những đứa trẻ bị bỏ rơi, bị cắt tóc cạo đầu oan uổng. Qua bao nhiêu năm tháng, hai linh hồn ấy biến thành thứ ma da chốn rừng thiêng nước độc, suốt ngày quanh quẩn bên mép vực để tìm kiếm người chơi cùng.
Ông nội nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng đầy nghiêm khắc:
- Con Lan kéo tay mày, con Huệ rủ mày chơi trốn tìm, bảo mày đếm một hai ba rồi chạy sang bắt... Mày có hiểu trò trốn tìm đó là gì không? Đó là trò dẫn xác! Chỉ cần mày chạy tới ôm lấy chúng nó, đôi chân mày sẽ hẫng một nhịp trên không trung, rơi thẳng xuống đáy vực để thế mạng cho chúng nó. Mày chết đi, linh hồn mày sẽ bị trói buộc lại cái đáy vực lạnh lẽo ấy vĩnh viễn, còn chúng nó thì mới có cơ hội thoát khỏi cái dốc đá oan nghiệt kia!
Mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa sau lưng tôi. Từng câu từng chữ của ông nội như những nhát búa nện thẳng vào màng nhĩ. Tôi nhớ lại nụ cười méo mó của chị Huệ, tà áo lam phấp phới trong màn sương đêm và cái vẫy tay đầy ma mị của chị Lan. Sự ngây thơ và tinh nghịch mà tôi tưởng là tình bạn trong mấy ngày qua hóa ra lại là một cái bẫy chết người rùng rợn đến thấu xương.
Thế nhưng, sâu thẳm trong lòng một đứa trẻ mười một tuổi như tôi, nỗi sợ hãi dần nhường chỗ cho một cảm giác xót xa, thương cảm đến nghẹn ngào.
Tôi không thể nào quên được ánh mắt buồn rười rượi của chị Huệ mỗi khi nhìn chằm chằm vào mái tóc dài của tôi lúc ngồi bên bậc đá giếng nước. Tôi cũng không quên được bàn tay gầy gò khẳng khiu của chị Lan khi cẩn thận nhặt từng quả trám rừng chia cho tôi ăn. Hai chị em họ cũng chỉ là những đứa trẻ con vô tội, khao khát được chơi đùa, khao khát có một người bạn trò chuyện giữa khu rừng hoang vắng bạt ngàn này.
Tôi ngẩng đầu lên nhìn ông nội, giọng nấc nghẹn ngào:
- Ông ơi... Ngày mai ba mẹ lên đón cháu về rồi... Cháu có thể ra sau núi thắp cho hai chị một nén nhang được không ông? Cháu muốn chào hai chị một tiếng... Cháu không giận hai chị đâu...
Nghe tôi nói, bàn tay đang lần tràng hạt của ông nội bỗng khựng lại.
Ông nhìn tôi trừng trừng hồi lâu. Trong đôi mắt già nua từng trải của vị sư già hiện lên một vẻ chua xót khó tả. Ông khẽ lắc đầu, ánh mắt hướng về phía then cửa gỗ lim đóng chặt, nơi bên ngoài màn mưa rừng vẫn đang gầm thét dữ dội.
- Không được đâu con Tiếng ông nội buông ra trầm buồn, hòa lẫn vào tiếng mưa rả rích - Chúng nó không còn ở đó để cho con chào nữa đâu.