Tản Viên - Chương 1: Nho Sinh Bị Bắt Sung
Mùi bùn nhão quyện với mùi máu tanh nồng bốc lên từ lòng con suối cạn dưới chân dãy Ba Vì. Nước suối đỏ quạnh phù sa sau trận mưa rào đầu thu, chảy xiết…
Nội dung chương
Mùi bùn nhão quyện với mùi máu tanh nồng bốc lên từ lòng con suối cạn dưới chân dãy Ba Vì. Nước suối đỏ quạnh phù sa sau trận mưa rào đầu thu, chảy xiết qua những gộp đá tai mèo lởm chởm. Dưới bóng râm thẫm tối của rặng nghiến ngàn năm, một đoàn người dài dằng dặc lê bước trong tiếng xích sắt va vào nhau lách cách.
Lê Minh nghiến chặt răng, dồn sức vào đôi bàn chân trần đang tứa máu vì gai góc. Chiếc gông gỗ sồi nặng ngót ba mươi cân đè nghiến lên hai bờ vai gầy, mép gỗ sắc cạnh cọ rách lớp áo vải thô, cứa sâu vào da thịt tạo thành những vệt tím bầm rỉ mủ. Hai cổ tay anh bị trói quặt phía trước bằng tao dây mây ngâm nước muối, siết chặt đến mức đầu các ngón tay chuyển sang màu xám đen, lạnh buốt.
Mỗi khi có ai đó trong hàng bước chậm lại, tiếng roi da trâu bọc chì lập tức rít xé gió rạch ngang lưng.
"Đi nhanh lên! Lũ mọi rợ phương Nam lười biếng!"
Tiếng quát the thé bằng thứ tiếng Hán rặt giọng Lạc Dương vang lên sau lưng Minh. Một tên lính Đường mặc giáp da thú, tay vung cán roi dài, giáng thẳng một phát vào gáy một ông lão đi ngay trước Minh. Ông lão ngã quỵ xuống lớp bùn lầy, miệng ộc ra ngụm máu bầm, hai cánh tay run rẩy cố bấu víu vào một rễ cây lộ thiên nhưng vô ích. Chiếc gông gỗ nặng nề đè trĩu đầu ông xuống vũng nước đục.
Minh vội vàng rướn người, dùng đầu gối tì vào vai ông lão, cố nâng ông dậy:
"Cụ Đặng, gượng lấy hơi mà thở, đừng nằm xuống!"
Chưa kịp dứt lời, ngọn roi da trâu đã quất ngược trở lại, quất rát bỏng mu bàn tay của Minh. Cơn đau thấu xương khiến các khớp ngón tay co giật.
"Thằng nho sinh hôi sữa kia, lo phận mình đi!" Tên lính Đường trợn trừng mắt ếch, mũi hếch lên ngửi ngửi không khí ẩm ướt của khu rừng, mặt lộ rõ vẻ ghê tởm vùng lam chướng. "Đến doanh trại trước giờ Thân mà thiếu một đầu người, quan tài bổ đầu từng đứa chúng mày thả trôi sông Bô Lăng!"
Cụ Đặng dưới chân Minh thở hắt ra một hơi yếu ớt. Đôi mắt đục ngầu của ông nhìn trừng trừng lên bầu trời xám xịt bị băm nát bởi những tán lá rậm rạp. Ông không gượng dậy nổi nữa. Hai tên lính khác lập tức bước tới, rút đoản đao bên hông, chặt đứt dây mây nối gông cụ Đặng với đoàn người rồi thô bạo hất xác ông lăn lông lốc xuống lòng vực sâu hun hút bên mép đường mòn. Tiếng va đập khô khốc của da thịt vào vách đá câm lặng chìm nghỉm giữa tiếng gầm gào của dòng nước lũ phía xa.
Lê Minh nuốt khan ngụm nước bọt đắng ngắt. Anh cúi đầu, hai bàn tay siết chặt lại thành nắm đấm.
Ba ngày trước, giáp binh của Tiết độ sứ Cao Biền bất ngờ ập vào ngôi làng nhỏ bên bờ sông Đà. Chúng đốt trụi những nếp nhà tranh, lùa trâu bò, cướp bóc thóc gạo và bắt bớ toàn bộ trai tráng tráng kiện. Minh vốn là một nho sinh nghèo sống bằng nghề dạy chữ cho con trẻ trong xóm, ban đêm chong đèn dầu lạc nghiên cứu thiên văn và thuật phong thủy địa lý cổ truyền do ông nội truyền lại. Khi giặc xông vào lều cỏ, chúng lục lọi đồ đạc và tìm thấy chiếc đãy vải chứa mấy cuốn sách địa chí viết tay cùng một chiếc địa bàn bằng gỗ mun đã mòn vẹt.
Tên dịch quan đi cùng lính thú lập tức nhận ra những ký hiệu phương vị tinh tú bát quái ghi chép bên trong. Hắn không chém đầu Minh như những người khác mà trói nghiến anh lại, đeo gông lớn, áp giải thẳng vào vùng núi rừng hiểm trở giáp ranh Ba Vì.
Đoàn tù nhân tiếp tục lê bước trong sự im lặng chết chóc. Rừng chiều buông xuống rất nhanh. Sương lam từ các hốc đá bắt đầu đùn ra, dày đặc và đặc quánh như mỡ lợn nguội, mang theo thứ hơi lạnh buốt thấu tận tủy sống. Rừng Tản Viên vốn nổi tiếng linh thiêng và hiểm ác, từ thuở xưa người dân bản địa chỉ dám đi men theo bìa rừng săn bắt, tuyệt nhiên không ai dám bước sâu vào vùng lõi khi mặt trời đã khuất bóng. Nhưng đoàn quân Đường dường như đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho chuyến đi này.
Phía trước đoàn phu, hơn trăm kỵ binh Đường triều cầm đuốc dẫn đường. Lửa đuốc không dùng dầu trẩu thông thường mà tỏa ra mùi khét lẹt của mỡ thú trộn lẫn với lưu huỳnh và bột chu sa đỏ quạch. Mỗi ngọn đuốc đều buộc thêm một lá bùa màu vàng vẽ đầy những nét ngoằn ngoèo tựa hồ như chân rết bằng mực đen.
Khi bóng tối nuốt trọn những đỉnh núi đá vôi, đoàn người rẽ vào một thung lũng hẹp nằm kẹp giữa hai vách đá dựng đứng như hai lưỡi rìu chém thẳng xuống đất. Đây là cửa ngõ dẫn vào doanh trại tiền tiêu của quân xâm lược.
Minh ngước mắt nhìn lên. Khung cảnh trước mắt khiến lồng ngực anh thắt lại vì kinh ngạc xen lẫn ghê rợn.
Giữa bãi đất bằng phẳng dưới chân vách đá sừng sững, một doanh trại khổng lồ mọc lên như một pháo đài sắt. Hàng trăm cọc gỗ lim vót nhọn cắm sâu xuống đất tạo thành lớp rào phòng ngự kiên cố. Nhưng điều làm Minh lạnh sống lưng là những công trình kỳ dị nằm rải rác xung quanh bãi đất.
Mười hai chiếc cột bằng sắt đen tuyền, to bằng thân người ôm, được đóng sâu xuống các gò đất cao thấp theo một trật tự quái đản. Trên thân mỗi cột sắt đều khắc chằng chịt các ký tự Lục Đinh Lục Giáp của Đạo gia phương Bắc. Dưới chân các cột sắt, đất đai đều nhuốm một màu đỏ thẫm nhớp nháp, bốc lên mùi hôi thối nồng nặc của xác động vật chết thối. Hàng chục chiếc lò rèn dã chiến đang đỏ lửa ngùn ngụt, tiếng đe búa nện chan chát vang động cả góc rừng, bắn tung tóe những chùm tia lửa đỏ rực vào màn sương xám.
"Quỳ xuống!"
Một cú đá mạnh giáng thẳng vào khoeo chân khiến Minh ngã dúi dụi xuống nền đất sỏi. Xung quanh anh, hàng trăm dân phu khác cũng bị dồn lại thành từng cụm, run rẩy co ro dưới họng giáo sắc lạnh của lính canh gác.
Một toán lính Đường áp giải Minh bước qua khoảng sân rộng, tiến về phía một ngôi nhà sàn bằng gỗ lớn dựng dựa lưng vào vách đá. Trên mái nhà sàn treo một lá cờ lớn màu đen thêu hình chim chu tước gãy cánh, viền cờ may bằng lụa trắng vẽ bát quái ngược chiều càn khôn.
"Bẩm Phàn Đô sát, kẻ mang địa bàn gỗ mun đã được giải tới." Tên lính hếch mũi quỳ sụp xuống chân cầu thang gỗ, cất giọng bẩm báo.
Từ trên căn nhà sàn bước xuống một người đàn ông trung niên mặc áo bào xanh viền gấm, đầu đội mũ sa đen, thắt lưng đeo một thanh đoản kiếm nạm ngọc bích. Khuôn mặt gã dài ngoẵng, đôi mắt ti hí ẩn sau gò má nhô cao, chòm râu dê lưa thưa dưới cằm khẽ rung lên mỗi khi gã thở. Đó là Phàn Chấn, Đô sát sứ kiêm phương sĩ tùy tùng thân cận của Tiết độ sứ Cao Biền.
Phàn Chấn cầm chiếc địa bàn gỗ mun của Minh trên tay trái, tay phải mân mê một cuộn giấy bản ngả màu vàng ố. Gã bước từng bậc thang gỗ xuống sân, đôi ủng da nện cồm cộp trên mặt đất ẩm. Gã dừng lại cách Minh ba bước chân, dùng mũi ủng hất cằm anh lên để quan sát.
"Mày tên gì?" Phàn Chấn hỏi, tiếng nói lơ lớ nhưng âm sắc lạnh lẽo như băng đóng đáy giếng.
"Lê Minh." Minh đáp, mắt nhìn thẳng vào mặt tên đô sát, không hề lẩn tránh.
"Một tên học trò làng rách rưới ở huyện Chu Diên mà lại có trong tay cuốn phong thủy đồ này?" Phàn Chấn giơ cuộn giấy bản lên, giọng nói mang theo sự nghi ngờ sâu sắc. "Bản đồ này vẽ địa thế từ ngã ba Hạc qua dòng sông Thao, men theo triền Tản Viên đến tận cùng hang động Ái Châu. Từng mạch nước ngầm, từng gò đất nổi đều đánh dấu bằng cổ tự Lạc Việt. Ai dạy mày những thứ này?"
Minh siết chặt hai bàn tay sau lưng gông:
"Gia truyền ba đời chép lại để giữ đất giữ làng, biết đường mà tránh lũ dữ, tìm đất dựng mồ mả cho ông bà tổ tiên. Người phương Nam chúng tôi sinh ra ở đâu thì biết sông núi ở đó, có gì lạ lùng."
Phàn Chấn bật cười khan khốc. Tiếng cười của gã khiến đám lính đứng canh quanh sân cũng phải rùng mình siết chặt chuôi đao. Gã tiến lại gần hơn, cúi thấp người xuống sát mặt Minh, phả ra mùi trầm hương nồng gắt lẫn với mùi tanh của chu sa.
"Tránh lũ? Đặt mồ mả tổ tiên?" Phàn Chấn gằn từng tiếng, ngón tay gầy guộc chọc mạnh vào ngực Minh. "Đừng hòng giấu giếm bản quan! Từng nét mực son trên tấm giấy này đều đánh dấu vị trí các long huyệt. Mày biết rõ con rồng ngầm của đất Giao Chỉ đang nằm uốn mình ở khúc nào dưới chân ngọn núi thiêng này."
Gã quay phắt người lại, chỉ tay về phía một góc sân trại.
Nơi đó, một nhóm thợ rèn đang kéo những thanh sắt nung đỏ rực từ trong lò lửa ra, dùng kìm lớn kẹp chặt rồi nhúng thẳng vào một chiếc bể lớn chứa đầy máu trâu đen. Tiếng xèo xèo man rợ bốc lên cùng đám khói mịt mù làm nghẹt thở cả khoảng sân.
"Tiết độ sứ đại nhân phụng mệnh Thiên tử đến đây để bình định man di, khai thông bờ cõi." Phàn Chấn nói tiếp, giọng gã trở nên sắc nhọn như dao cạo. "Nhưng đất phương Nam này chướng khí ngút trời, tà ma hoành hành, vương khí ngấm ngầm muốn chống lại thiên triều. Đại nhân dùng thuật trấn áp ba mươi sáu huyệt đạo lớn, đóng cọc sắt triệt tiêu long mạch, gom vương khí đất này về triều cống Trường An. Có kẻ bảo ngọn Tản Viên là đầu rồng, huyệt lớn nằm ngay dưới hẻm núi sương mù. Nhưng lũ thổ dân dẫn đường trước đây toàn là một lũ dối trá!"
Phàn Chấn vung tay ra hiệu. Hai tên lính Đường lập tức kéo xềnh xệch một người đàn ông lớn tuổi từ góc tối ra giữa sân. Người đó mặc áo chàm của người Mường, hai mắt đã bị móc mù, khắp người chằng chịt vết roi vọt tứa máu.
"Đây là lão Mo làng vùng Thượng Du," Phàn Chấn lạnh lùng cất giọng. "Hôm qua lão dẫn quân ta vào hẻm đá phía Tây, bảo rằng đó là nơi tụ khí của gò Kim Quy. Nhưng khi đại nhân cho đào sâu ba trượng xuống lòng đất, bên dưới chỉ toàn là bùn thối và rễ cây mục rỗng, làm gãy mất một mũi khoan huyền thiết của triều đình."
Gã rút thanh đoản kiếm nạm ngọc bên hông ra. Lưỡi kiếm sắc lẹm ánh lên một tia sáng xanh lét của chất độc tẩm trên thép.
"Chỉ sai đường, tội đáng muôn chết."
Lưỡi kiếm vung lên gọn gàng trong không trung. Một tiếng xé ngọt xớt vang lên. Đầu của người thầy mo rơi bịch xuống vũng bùn trước mặt Minh, máu tươi bắn tung tóe lên vạt áo thô và rỏ từng giọt xuống chiếc gông gỗ anh đang đeo. Đôi mắt mù lòa của chiếc đầu lâu vẫn mở trừng trừng nhìn về phía khoảng không vô định, miệng co giật vài cái rồi ngưng bặt.
Cảnh tượng tàn khốc diễn ra chớp nhoáng khiến toàn bộ tù nhân xung quanh nghẹt thở, những tiếng khóc thút thít của mấy đứa trẻ bị dồn ép nghẹn ứ lại trong cổ họng.
Lê Minh cảm thấy một luồng máu nóng xông thẳng lên đỉnh đầu. Trái tim anh đập thình thình như muốn vỡ tung lồng ngực. Sự căm hờn cuộn trào khiến các thớ thịt trên cánh tay gầy gò của anh căng cứng. Anh nhìn chằm chằm vào vũng máu đỏ tươi đang hòa lẫn vào dòng nước bùn dưới chân mình, rồi ngước nhìn lên vách đá sừng sững của núi Tản Viên phía xa xa.
Ngọn núi thiêng vẫn đứng sừng sững trong đêm tối, ba đỉnh núi nhô cao như ba ngọn giáo chọc thẳng vào tầng mây đen kịt. Nơi đó là nơi ngự trị của Sơn Thần, là cội nguồn che chở cho bao đời người dân đất Việt chống lại lũ lụt và giặc giã. Đám giặc phương Bắc này không đơn thuần chỉ muốn cướp bóc của cải hay bắt người làm nô lệ; chúng muốn dùng tà thuật cắt đứt gân cốt của non sông, biến mảnh đất này vĩnh viễn thành bãi tha ma câm lặng, đời đời kiếp kiếp không thể ngẩng đầu.
Phàn Chấn tra kiếm vào bao, lấy một chiếc khăn lụa trắng cẩn thận lau sạch vết máu trên tay áo. Gã quay lại, nhìn sâu vào đôi mắt đang rực lửa căm hờn của Minh.
"Thằng nho sinh, bản quan nhìn thấy trong mắt mày có sự hiểu biết." Phàn Chấn cười nhạt, ném chiếc địa bàn gỗ mun xuống đất ngay trước mặt Minh. "Mày biết chữ Hán, mày đọc được thiên văn, và mày nắm rõ từng mạch núi của vùng đất này hơn bất kỳ kẻ nào. Mày có hai con đường. Một là rơi đầu như lão già kia, biến thành một đống thịt thối nuôi giòi bọ trong rừng sâu. Hai là dùng tài cán của mày, làm phụ tá địa lý trong trướng của Tiết độ sứ đại nhân, giúp chúng ta vẽ lại toàn bộ thế núi Tản Viên Sơn và chỉ ra huyệt đạo phát sinh vương khí."
Minh không trả lời ngay. Anh nhìn chiếc địa bàn gỗ mun của ông nội nằm dưới bùn đất. Chiếc kim nam châm nhỏ bằng sắt vẫn đang rung rinh nhè nhẹ, không hề chỉ thẳng về hướng Nam mà chao đảo liên tục, dường như bị một lực hút vô hình từ sâu trong lòng vách đá Tản Viên kéo lệch đi.
Nếu anh chết ở đây, anh chỉ là một cái xác vô danh vùi trong hố sâu cùng những người phu xấu số. Đám giặc dù mất thời gian nhưng với binh lực hùng hậu và những phương sĩ tàn độc, sớm muộn gì chúng cũng sẽ mò mẫm phá hủy từng mạch đất thiêng.
Anh phải sống. Chỉ có sống sót bước chân vào trướng giặc, anh mới có cơ hội nhìn thấu mưu đồ tà độc của Cao Biền, và tìm cách cứu lấy linh khí của mảnh đất này.
Minh hít một hơi sâu, kìm nén cơn giận dữ đang gào thét trong lòng, hạ giọng xuống thật trầm:
"Tôi biết đọc phương vị các vì sao. Tôi cũng biết thế nước sông Đà đổi dòng theo từng mùa trăng."
Phàn Chấn nheo mắt lại, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười đắc ý:
"Rất tốt. Kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt."
Gã phất tay ra lệnh cho đám lính:
"Tháo gông cho nó! Đưa nó vào tắm rửa bằng nước lá ngải cứu, thay quần áo sạch sẽ rồi áp giải đến trước soái trướng của Tiết độ sứ. Đại nhân đang chờ người có thể nhìn thấu quẻ đất đêm nay."
Hai tên lính bước tới, dùng chìa khóa sắt mở chiếc khóa gông nặng nề. Khi thanh gỗ sồi vừa rời khỏi vai, một cảm giác nhẹ bẫng kỳ lạ ập đến, nhưng ngay sau đó là những cơn đau nhức buốt nhói từ những vết rách thịt truyền khắp cơ thể. Minh đứng lảo đảo, hai bàn chân tê dại như dẫm trên than hồng, nhưng anh vẫn cắn răng đứng thẳng lưng dậy, không để mình gục ngã trước mắt kẻ thù.
Anh bị hai tên lính kẹp nách lôi đi xuyên qua những dãy lều lính dầy đặc. Đi càng sâu vào trung tâm doanh trại, không khí càng trở nên đặc quánh và lạnh lẽo một cách bất thường. Gió rừng thổi qua các rặng tre phát ra những âm thanh rít rờn rợn như tiếng khóc than của hàng ngàn oan hồn bị chôn vùi dưới lòng đất.
Phía trước họ, một khu lều bạt khổng lồ dựng bằng lụa đen thêu chỉ vàng sừng sững hiện ra giữa màn sương mù dày đặc. Chung quanh chiếc lều lớn, hàng chục võ sĩ mặc giáp đen toàn thân, tay cầm trường thương đứng bất động như những pho tượng sắt.
Ở giữa khoảng sân trước lều bạt chính, một chiếc giá gỗ khổng lồ cao hơn đầu người được dựng lên vững chãi. Trên giá gỗ ấy căng rộng một tấm da thú màu trắng đục to lớn dị thường. Dưới ánh sáng ma quái của những chậu than củi cháy lập lòe, tấm da thú bốc lên một mùi tanh nồng đặc trưng của xứ tuyết phương Bắc.
Minh dừng bước chân lại. Lồng ngực anh thắt lại khi nhìn thấy những nét vẽ đầu tiên trên tấm da thú khổng lồ kia.
Đó là toàn bộ hình thể sông núi của đất Giao Chỉ, nhưng uốn lượn một cách quái dị như một con rồng đang bị vô số xích sắt khóa chặt tứ chi. Và ngay tại vị trí ngọn Tản Viên Sơn, một vệt mực đỏ thẫm như máu tươi đang được nhỏ xuống, loang dần ra trên nền da trắng lạnh buốt.