THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 1: Bến Đò Vãn Độ
Sáng ngày mười hai tháng tám, sương trên sông Thanh Khê còn chưa tan thì bến đò Vãn Độ đã ồn như một cái chợ vỡ. Trần Văn Khải ôm chồng sổ bến đi theo…
Nội dung chương
Sáng ngày mười hai tháng tám, sương trên sông Thanh Khê còn chưa tan thì bến đò Vãn Độ đã ồn như một cái chợ vỡ. Trần Văn Khải ôm chồng sổ bến đi theo sau hai người lính lệ của phủ, chân bước trên những phiến đá xanh trơn ướt, vừa đi vừa cố giữ cho ống tay áo khỏi chạm vào những gánh hàng còn đọng nước sông. Hắn hai mươi bốn tuổi, làm thư lại ở phủ nha Chu Gia Giác đã ba năm, công việc hôm nay là đối chiếu sổ bến và thu thuế đò tháng bảy còn thiếu, một việc không khó nhưng rất dễ sai nếu người chép để mắt đi nơi khác.
Bến Vãn Độ là cuống họng của cả trấn. Đò ngang qua lại sông Thanh Khê từ khi trời còn tối, chở người, chở lợn, chở những sọt rau còn ướt sương và những bao gạo nặng trĩu vai. Hai bên bờ, tiếng gọi nhau í ới chen tiếng mái chèo khua nước, tiếng đòn gánh kẽo kẹt và tiếng trẻ con khóc đòi ăn sáng. Nhà ngói đen nối nhau san sát dọc bờ kênh, mái nào cũng rêu phong, bóng mái soi xuống mặt nước xám xanh, thỉnh thoảng bị một chiếc thuyền gỗ lướt qua làm vỡ ra thành trăm mảnh rồi lại tự khép lại như chưa từng có chuyện gì.
Khải thích buổi sáng ở bến, dù hắn ít khi nói ra. Ở phủ, giấy tờ có mùi ẩm mốc và mùi mực tàu; ở bến, mọi thứ có mùi sông, mùi bùn, mùi mồ hôi và mùi khói bếp, những mùi của người đang sống và đang phải sống cho kịp ngày. Hắn ngồi xuống chiếc ghế gỗ thấp trong mái hiên của trạm thu thuế, mở sổ, mài mực, bắt đầu chép tên từng chủ đò theo lời đọc của người lính lệ già. Chữ của Khải ngay ngắn, chậm và chắc, là thứ chữ của một người con nhà nông học được nhờ những năm ăn nhờ ở đậu nhà thầy đồ, viết một chữ cũng tiếc giấy như tiếc gạo.
- Cậu Khải chép nhanh tay lên, trưa nay còn phải qua tiệm ông Ngô đối chiếu sổ vay nữa. - Người lính lệ già nhắc, tay chỉ về phía đầu bến.
Khải ngẩng lên nhìn theo. Án ngữ ngay đầu bến, nơi con đường đá rẽ lên phố chính, là tiệm tạp hóa của Ngô Đức Tài, căn nhà hai gian mặt tiền rộng nhất bến, cửa gỗ lim lúc nào cũng mở một nửa như con mắt lim dim canh chừng cả bến đò. Tiệm bán đủ thứ: gạo, muối, dầu hỏa, vải thô, kim chỉ, thuốc lào, và phía sau quầy, trong ngăn kéo có khóa, là một thứ hàng không bày ra mặt: tiền cho vay. Ai trong trấn cần tiền gấp, từ người gánh hàng lỡ chuyến tới chủ thuyền cần sửa đáy, đều từng một lần bước qua ngưỡng cửa ấy và bước ra với một tờ giấy nợ gấp tư nhét trong ngực áo.
Ngô Đức Tài năm nay năm mươi lăm tuổi, người tầm thước, mặt vuông, râu thưa đã điểm bạc, đôi mắt nhỏ mà sáng quắc sau cặp kính lão gọng đồng. Ông ngồi sau quầy từ sáng sớm, tay trái đặt trên bàn tính, tay phải lật sổ, miệng tính nhẩm không thành tiếng. Điều cả bến đều biết, và Khải cũng biết từ ngày đầu xuống bến làm việc, là trên ngón cái của bàn tay trái ấy có một chiếc nhẫn ngọc bích to bản, mặt nhẫn khắc chữ Thọ, nước ngọc xanh sẫm đã lên bóng vì đeo lâu năm. Ông đếm tiền không tháo nhẫn, lật sổ không tháo nhẫn, cầm ấm trà cũng không tháo nhẫn. Có người ở bến từng nói đùa rằng muốn biết ông Ngô còn sống hay không, cứ nhìn ngón tay trái: nhẫn còn trên tay thì người còn trên đời.
Trưa hôm ấy, một người đàn ông trẻ gầy gò tới tiệm, áo đã sờn vai, quỳ hẳn xuống nền gạch trước quầy mà van xin khất nợ thêm mười ngày. Ngô Đức Tài không ngẩng lên ngay. Ông tính xong con số đang dở, đặt bút xuống đúng vị trí cũ, rồi mới nhìn người kia bằng ánh mắt không giận dữ, không thương hại, chỉ lạnh và rõ.
- Ta cho anh vay là tiền, không phải cho anh vay lời hứa. - Ông nói nhỏ nhẹ, giọng nhỏ tới mức người đứng ngoài cửa phải nín thở mới nghe thấy, và chính cái nhỏ nhẹ ấy làm người nghe sợ hơn bị quát. - Mười ngày nữa, đúng giờ này, mang đủ cả gốc lẫn lãi tới. Thiếu một đồng, ta lấy chiếc thuyền của cha anh để ở bến dưới. Anh ký thêm vào đây.
Người đàn ông run tay ký, mồ hôi rơi xuống giấy làm nhòe một nét chữ. Khải ngồi ở trạm thu thuế cách đó không xa, nghe hết, chép hết vào đầu như một thói quen không bỏ được của người làm thư lại: ai nợ ai, hạn bao giờ, lấy gì làm tin. Hắn không thương người vay kia hơn ai, cũng không ghét ông Ngô hơn ai. Ở bến này, vay và trả là luật, cũng như nước sông chảy xuống là luật. Hắn chỉ ghi nhớ, vì ghi nhớ là nghề của hắn.
Quá trưa, bến đông thêm. Một đoàn gánh hàng từ thôn ngoài vào, vai người nào cũng trĩu. Trong đoàn ấy có Trần Đại Trụ, nông dân ở thôn ngoài trấn, ba mươi tám tuổi, người cao lớn, lưng hơi còng vì gánh nặng nhiều năm, nước da đen sạm nắng gió. Ông gánh đôi sọt khoai và rau cho một nhà buôn ở phố trên, đòn gánh đặt trên vai phải, bước chân chắc và đều, tay phải giữ đầu đòn gánh, tay trái thỉnh thoảng quệt mồ hôi trên trán. Khải đã gặp ông vài lần ở bến, lần nào cũng thấy đòn gánh nằm trên vai phải, và đôi bàn tay của ông thì chai tay phải dày cộm. Sần lên như vỏ cây, dày gấp đôi tay trái, dấu của một đời người làm việc gì cũng dồn sức vào tay phải.
Đại Trụ giao hàng xong, ngồi nghỉ ở bậc đá trước tiệm ông Ngô, lấy bánh khô trong bọc ra ăn, uống nước chè xanh bà Tôn bán ở quán đầu bến. Ngô Đức Tài bước ra hiên, nhìn trời, nhìn nước sông, rồi nói với ông như nói với một người quen cũ của bến:
- Chiều nay nếu lỡ chuyến đò cuối, cứ ngủ ở hiên tiệm ta. Đêm ở bến gió sông lạnh, hiên tiệm có mái, lại gần chó, trộm không dám bén mảng.
- Dạ, cảm ơn ông chủ. - Đại Trụ đứng dậy, chắp tay, giọng thật thà. - Tôi gánh chuyến nữa lên phố, kịp thì về kịp, không kịp thì xin nhờ hiên nhà ông một đêm.
Ông Ngô gật đầu, quay vào trong, chiếc nhẫn ngọc trên ngón cái tay trái lóe lên một vệt xanh dưới nắng chiều. Khải chép xong sổ bến, đóng dấu triện nhỏ của trạm, rồi theo người lính lệ vào tiệm đối chiếu sổ vay. Trong tiệm mát và tối, mùi dầu hỏa chen mùi giấy cũ. Ông Ngô tự tay mở két sắt sau quầy cho người của phủ nhìn qua theo lệ kiểm tra cuối tháng, những xâu tiền đồng và những thỏi bạc, những đồng đại dương xếp ngay ngắn thành chồng, sáng loáng dưới ánh đèn dầu vừa thắp. Khải liếc qua, không đếm, vì việc của hắn chỉ là chép con số ông Ngô đọc, nhưng hắn quen nghề nên vẫn nhớ con số ấy rất rõ về sau này.
Chiều xuống nhanh trên sông nước. Đèn dầu trong các nhà ven bến lần lượt sáng, ánh vàng run rẩy trên mặt nước. Khải làm xong việc, ôm sổ ra bến chờ đò về phía phủ. Đò cuối ngày ít khách: một bà bán cá đã bán hết hàng, hai đứa trẻ ngủ gục trên vai mẹ, và Khải với chồng sổ buộc dây gai. Người lái đò là một ông lão gầy, quen mặt Khải từ lâu, chống sào cho đò rời bến trong tiếng nước vỗ mạn thuyền đều đều.
Đò ra tới giữa dòng thì Khải nhìn thấy bà cụ ấy.
Bà ngồi ở mũi thuyền, phía trước mặt hắn chừng ba bước chân, lưng còng, áo nâu ướt sũng dán vào người, nước nhỏ giọt từ vạt áo xuống ván thuyền thành từng giọt chậm rãi. Tóc bà bạc trắng, xõa ướt bết vào hai bên má hóp. Bà ngồi im, hai tay đặt trên đầu gối, nhìn về phía bờ bên kia như đang chờ ai. Khải nín thở. Hắn không nhớ bà lên đò lúc nào. Lúc đò rời bến, mũi thuyền trống, hắn chắc chắn như vậy, vì hắn đã nhìn khắp một lượt theo thói quen đếm người của người chép sổ.
- Bác lái đò ơi, bà cụ ngồi ở mũi thuyền là người làng nào vậy bác? - Khải hỏi khẽ, mắt không rời bóng người ướt sũng kia.
Ông lão lái đò không quay lại ngay. Ông chống thêm một sào nữa, rồi mới cười khàn khàn trong cổ họng:
- Mũi thuyền làm gì có ai, cậu Khải. Cậu lại thấy rồi phải không?
Khải chớp mắt. Mũi thuyền trống không. Ván thuyền khô rang, chỉ có cuộn dây thừng và chiếc nón mê của ông lão. Bà cụ biến mất như chưa từng ngồi đó, không một tiếng động, không một gợn nước bên mạn thuyền. Nhưng ngay dưới mũi thuyền, trên mặt sông phẳng lặng buổi chạng vạng, có một vòng sóng lăn tăn rất nhỏ đang từ từ lan ra, như vừa có vật gì nặng vừa rời khỏi mặt nước, hoặc vừa chìm xuống dưới nó.
- Năm ngoái, đoạn sông này vớt lên một bà cụ chết đuối, không ai nhận, chôn ở bãi tha ma ngoài bến. - Ông lão nói, giọng thản nhiên như kể chuyện giá muối lên xuống. - Người nhẹ bóng vía hay thấy bà ấy ngồi nhờ đò qua sông. Cậu nhẹ bóng vía từ nhỏ, cả trấn này ai mà không biết. Thấy thì thấy vậy thôi, đừng gọi tên, đừng hỏi han, qua sông là bà ấy tự đi.
Khải không đáp. Hắn ôm chồng sổ chặt hơn vào ngực, nghe tim mình đập thình thịch. Từ nhỏ hắn đã vậy: có những thứ người khác không thấy, hắn thấy thoáng qua ở khóe mắt, một bóng người đứng dưới gốc cây sau cơn mưa, một dáng ai ngồi ở bậc cửa nhà hoang. Người làng trêu hắn nhẹ bóng vía, mẹ hắn lúc còn sống thì dặn hắn thấy gì cũng làm như không thấy, đi qua cho nhanh. Hắn đã học được cách làm như không thấy suốt hai mươi bốn năm, và phần lớn thời gian, cách ấy có hiệu quả.
Đò cập bến bên kia. Khải bước lên bờ, nộp sổ ở trạm rồi đi về phía phủ nha khi đèn đường bằng dầu trong trấn bắt đầu được thắp. Đi được một quãng, không hiểu sao hắn ngoảnh lại nhìn về phía con đò vừa sang sông. Đò đã quay đầu, mũi thuyền trống không, ông lão chống sào chậm rãi giữa dòng nước xám. Mọi thứ bình thường như mọi buổi chiều khác ở Vãn Độ.
Chỉ có mặt nước dưới mũi thuyền, nơi bà cụ vừa ngồi, vẫn còn một vòng sóng lăn tăn rất nhỏ chưa tan hẳn, lan ra rồi mất hút vào bóng tối đang xuống trên sông Thanh Khê.