THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 2: Công Văn Chép Dở
Chiều ngày mười hai tháng tám, Khải từ bến Vãn Độ trở về phủ nha thì chồng công văn tồn đã chờ sẵn trên án thư của phòng văn thư, cao gần một gang tay.…
Nội dung chương
Chiều ngày mười hai tháng tám, Khải từ bến Vãn Độ trở về phủ nha thì chồng công văn tồn đã chờ sẵn trên án thư của phòng văn thư, cao gần một gang tay. Tri phủ Cố Minh Đức đi kiểm đê ở hạ du đã hơn mười ngày chưa về, mọi việc thường ngày trong phủ dồn cả vào tay Phó tri phủ và mấy viên sư gia. Còn giấy tờ từ các hương, các trạm và các tiệm buôn gửi tới thì cứ việc nằm chồng lên nhau mà chờ. Vì lệ của phủ là việc gì không gấp thì để đại nhân về xét, mà việc gì cũng có người nói là không gấp cả.
Phòng văn thư buổi chiều nóng và ngột. Cửa sổ mở ra sân sau, gió sông thổi vào mang theo hơi nước nhưng không làm căn phòng mát hơn được bao nhiêu. Khải rửa tay, thay chiếc áo đã thấm mồ hôi ở bến, ngồi vào án, mài mực và bắt đầu chép. Nghề thư lại là nghề của sự kiên nhẫn: mỗi tờ trình phải chép thành hai bản, một bản lưu phủ, một bản trình lên trên, chữ không được sai một nét. Con số không được nhầm một hàng, vì một nét sai có khi đổi cả số phận của một con người, điều này thầy đồ dạy Khải từ ngày hắn còn ngồi chép thuê ngoài chợ.
Hắn chép tờ trình thuế ruộng của hương hạ, chép đơn xin sửa cầu của thôn ngoài, chép báo cáo thiệt hại sau cơn mưa đầu tháng của trạm đò. Sư gia họ Vương ngồi ở án bên cạnh, vừa phe phẩy quạt vừa thỉnh thoảng ngẩng lên dặn một câu:
- Tờ nào là việc tiền nong thì chép kỹ. Tờ nào là việc kiện cáo vặt thì chép tắt cũng được, đại nhân về cũng không đọc hết đâu.
Khải dạ một tiếng, tay vẫn chép đều. Hắn không chép tắt bao giờ, dù là việc vặt nhất. Đó là thói quen, cũng là chút kiêu hãnh lặng lẽ duy nhất của một người thư lại nghèo: chữ của hắn chép ra, người đọc có thể không đọc, nhưng không thể nói là sai.
Gần cuối chồng giấy, hắn gặp một tờ trình không giống những tờ còn lại.
Tờ trình viết trên giấy dó mỏng, chữ nắn nót nhưng nét bút run, không đề tên người gửi, chỉ đề bốn chữ trình lên phủ nha ở đầu tờ. Nội dung đọc qua một lần làm tay Khải chậm lại. Người viết nặc danh báo rằng ngoài trấn, ở thôn phía thượng lưu sông, có một xưởng đúc tiền giả hoạt động đã lâu, tiền giả tuồn ra theo đường sông và đường sòng bạc ở bến, làm hại dân lành và làm thiệt kho thuế của quan. Cuối tờ trình có một câu đọc lên nghe như lời đe dọa, lại cũng như lời van xin của một người đã hết đường: nếu phủ nha không tra xét việc này. Người viết sẽ tố cáo thẳng lên tỉnh trước rằm tháng tám, dù phải mất mạng cũng tố.
Khải đọc lại lần thứ hai, chậm hơn. Hắn nghĩ tới những đồng tiền sáng loáng trong két sắt ở tiệm ông Ngô buổi trưa, nghĩ tới những lời đồn rời rạc ở bến về tiền nhẹ, tiền giả mà người ta chỉ dám nói nửa câu rồi thôi. Hắn chép tờ trình ấy thành hai bản cẩn thận hơn mọi tờ khác, từng chữ một, rồi mang cả bản gốc và bản chép đặt lên trên cùng chồng giấy trình sư gia xem trước khi niêm phong lưu trữ.
Sư gia họ Vương cầm tờ trình, đọc lướt bằng đôi mắt đã quen đọc tắt mọi thứ. Ông ta đọc tới câu cuối thì nhíu mày, gõ ngón tay xuống mặt án hai cái, rồi đặt tờ trình xuống, xếp nó vào giữa chồng giấy chờ xét ở góc án, phía dưới mấy tờ trình thuế.
- Việc nặc danh, không người làm chứng, không vật chứng. - Ông ta nói. - Lại dính tới tiền giả, thứ việc động vào là động tới cả dây. Đại nhân đang đi kiểm đê, để chờ đại nhân về xét. Giờ mà trình lên Phó tri phủ, ngài ấy cũng xếp lại đó thôi.
- Nhưng trong tờ trình có nói sẽ tố lên tỉnh trước rằm, thưa ông. - Khải nói khẽ. - Nếu tỉnh biết trước phủ, e rằng trên trách xuống.
Sư gia cười nhạt, nụ cười của một người đã ngồi ở phòng văn thư hai mươi năm và biết rõ trách nhiệm rơi xuống đầu ai và không rơi xuống đầu ai.
- Cậu Khải lo xa. Người dám tố lên tỉnh thì đã không viết giấy nặc danh giấu trong chồng trình của một cái bến đò. Cứ xếp lại. Trời sập còn có người cao hơn chống.
Khải không nói thêm. Hắn trở về án của mình, chép nốt mấy tờ cuối trong ánh đèn dầu vừa được người coi phủ mang vào thắp. Nhưng dòng chữ trong tờ trình nặc danh cứ trở lại trong đầu hắn, nhất là cái hạn trước rằm tháng tám. Hôm nay đã là mười hai. Rằm chỉ còn ba ngày. Hắn liếc nhìn chồng giấy chờ xét ở góc án bên kia, nơi tờ trình mỏng nằm im lìm giữa những tờ thuế ruộng vô tội. Và hắn hiểu tờ giấy ấy sẽ nằm ở đó rất lâu, lâu hơn ba ngày nhiều, có khi lâu cho tới khi điều nó báo trước đã xảy ra rồi.
Trời tối hẳn khi Khải chép xong tờ cuối cùng. Mưa nhỏ bắt đầu rơi ngoài sân phủ, thứ mưa tháng tám của vùng sông nước, không lớn, không ồn, chỉ rả rích và dai, làm mái ngói đen bóng lên dưới ánh đèn. Khải khoác áo tơi, ôm bọc sổ tay của mình trong ngực áo cho khỏi ướt, chào người gác cổng rồi đi bộ về nhà trọ ở phố dưới. Đường về của hắn phải qua bến Vãn Độ và qua cây cầu gỗ nhỏ bắc qua lạch nước sau tiệm ông Ngô, một lối tắt mà người ở bến vẫn đi mỗi tối.
Bến buổi tối mưa vắng hẳn. Các quán đã đóng gần hết, chỉ còn quán chè của bà Tôn ở đầu bến còn le lói ánh đèn, rồi ánh đèn ấy cũng tắt khi Khải đi ngang, tiếng then cửa gỗ cài lại vang lên khô khốc trong mưa. Bà Tôn đóng quán sớm hơn mọi ngày, Khải thoáng nghĩ vậy, vì thường ngày quán chè của bà bán tới tận đầu giờ Tuất cho khách chờ đò đêm. Nhưng hắn không nghĩ lâu, mưa đang thấm qua vai áo tơi và hắn chỉ muốn về nhà trọ cho mau.
Tiệm của Ngô Đức Tài đã đóng cửa. Điều làm Khải dừng chân chính là sự im lặng của nó. Thường ngày, giờ này trong tiệm còn ánh đèn dầu hắt qua khe cửa, tiếng ông Ngô cộng sổ và tiếng con chó mực nằm sau quầy thỉnh thoảng gừ lên trong họng với người qua đường. Tối nay, cửa tiệm khép kín, đèn tắt hẳn, tối om và im phăng phắc như một căn nhà không người. Con chó cũng không sủa khi Khải đi ngang, dù hắn bước khá gần bậc hiên nơi ban ngày Đại Trụ ngồi ăn bánh. Có lẽ ông chủ đi vắng, người làm về sớm, Khải tự nhủ, và mưa làm chó lười sủa. Hắn ghi nhớ giờ ấy một cách vô thức, như ghi nhớ mọi giờ giấc hắn đi qua trong ngày: đầu giờ Hợi chưa lâu, tiệm đã tối đèn.
Hắn lên cầu gỗ. Mưa gõ nhẹ trên mặt cầu, nước lạch bên dưới đen và phẳng. Đi tới giữa cầu, hắn nghe tiếng mái chèo khua nước rất nhẹ ở phía bến, một tiếng khua kìm nén, cẩn thận, khác hẳn tiếng chèo đò ồn ào ban ngày. Khải dừng lại, nép vào bóng tối của thành cầu mà nhìn xuống.
Một chiếc thuyền nhỏ không đèn vừa tách khỏi bến, ngay phía sau tiệm ông Ngô. Thuyền đi rất chậm lúc đầu, mũi thuyền hướng về phía thượng lưu, về phía những rặng tre tối đen nơi có biệt viện lớn của nhà quyền thế ngoài trấn mà dân bến ít khi nhắc tên thành tiếng. Người trên thuyền chèo mái rất nhẹ, mỗi nhát chèo đều như được tính để không làm nước kêu. Mưa nhỏ làm mặt sông mờ đi, Khải không nhìn rõ mặt người ấy, chỉ thấy một bóng người ngồi ở đuôi thuyền, và bóng ấy nhỏ dần, mờ dần, rồi lẫn vào bóng tối của dòng sông như một giọt mực tan trong nước.
Khải đứng trên cầu một lúc lâu, mưa thấm ướt cả hai vai, cho tới khi mặt sông lại phẳng lặng hoàn toàn như chưa từng có chiếc thuyền nào đi qua. Hắn tự cười mình trong bóng tối. Thuyền đánh cá đêm vẫn thường đi không đèn để cá khỏi giật mình, người ở bến nói vậy từ ngày hắn còn nhỏ. Chuyện ấy có gì lạ đâu. Hắn bước xuống cầu, đi nhanh về nhà trọ, treo áo tơi lên móc, ăn qua loa bát cơm nguội chủ trọ phần cho. Rồi ngồi xuống chiếc bàn nhỏ bên cửa sổ mà mở cuốn sổ tay riêng của mình ra, cuốn sổ hắn ghi những việc không thuộc hồ sơ của phủ.
Hắn cầm bút, chấm mực, và viết một dòng mà chính hắn cũng không hiểu vì sao mình viết. Viết xong rồi nhìn dòng chữ ấy rất lâu trong ánh đèn dầu chập chờn vì gió lùa qua khe cửa:
Đêm mười hai, thuyền không đèn đi lên phía biệt viện.
Trước khi gập sổ, hắn lật lại mấy trang trước của cuốn sổ tay, những dòng ghi chép rời rạc của nửa tháng làm việc ở bến: ngày mồng tám. Ông Ngô cho nhà họ Chu vay thêm hai mươi đồng, lấy ruộng làm tin; ngày mồng mười, một người ở thôn ngoài trả nợ thiếu ba đồng bị giữ lại chiếc vòng bạc của vợ. Ngày mười một, Đại Trụ gánh hàng qua bến, được ông Ngô cho nửa gói thuốc lào vì trời nắng gắt. Toàn những việc nhỏ, nhỏ tới mức không hồ sơ nào của phủ thèm chứa, nhưng Khải vẫn ghi, vì hắn tin rằng đời người ở trấn này nằm trong những việc nhỏ ấy nhiều hơn nằm trong công văn. Hắn thêm ngày tháng vào đầu dòng vừa viết, mười hai tháng tám, rồi mới gập sổ.
Mưa vẫn rơi đều ngoài mái hiên nhà trọ. Khải gập sổ lại, thổi tắt đèn, nằm xuống nghe tiếng mưa cho tới khi ngủ thiếp đi, không biết rằng ở phía bến, trong căn tiệm tối đèn kia, có một việc đã xảy ra mà tới rạng sáng mai cả trấn sẽ phải thức dậy vì nó.