THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 3: Người Chết Ở Tiệm Đầu Bến

Rạng sáng ngày mười ba tháng tám, Khải bị đánh thức không phải bởi tiếng gà gáy mà bởi tiếng người chạy ngoài phố và tiếng mõ báo việc gấp từ phía bến…

Nội dung chương

Rạng sáng ngày mười ba tháng tám, Khải bị đánh thức không phải bởi tiếng gà gáy mà bởi tiếng người chạy ngoài phố và tiếng mõ báo việc gấp từ phía bến vọng lên. Hắn ngồi bật dậy trong nhà trọ, nghe thấy hai chữ chết người được ai đó hét to ngoài đường, rồi tiếng cửa mở ào ạt khắp dãy phố. Chủ trọ đập cửa phòng hắn, giọng hốt hoảng:

- Cậu Khải, người của phủ tới tìm, nói bến đò có án mạng, bộ đầu gọi cậu xuống ghi biên bản ngay bây giờ.

Khải khoác áo, ôm hộp bút nghiên và cuốn sổ biên bản của phủ, chạy theo người lính lệ cầm đèn lồng đi trước. Trời chưa sáng hẳn, mưa đêm qua đã tạnh, đường đá ướt và lạnh dưới chân trần trong giày vải của hắn. Càng tới gần bến, người càng đông: dân bến thức dậy hết, đứng chen nhau ở đầu con đường dẫn vào tiệm ông Ngô, mặt ai cũng trắng bệch trong ánh đèn lồng và ánh đuốc của lính lệ.

Tiệm tạp hóa đầu bến, căn tiệm tối om im lặng mà Khải đi ngang đêm qua, giờ cửa chính hé mở, đèn dầu trong tiệm đã được ai thắp lên. Ánh sáng vàng vọt hắt ra khe cửa lẫn với mùi tanh của máu khô làm Khải khựng lại một nhịp ở ngưỡng cửa. Bộ đầu Triệu Thiết Ngưu đã có mặt trong tiệm từ trước, người đàn ông bốn mươi tuổi vai rộng, mặt chữ điền, đứng chắn ngang quầy, thấy Khải thì chỉ gật đầu một cái ngắn ngủi:

- Cậu ghi cho kỹ. Người gánh nước phát hiện trước nhất, giờ là đầu giờ Mão.

Khải bước vào sau quầy và nhìn thấy Ngô Đức Tài.

Ông nằm ngửa trên nền gạch sau quầy hàng, đầu nghiêng về phía két sắt, hai mắt mở hé, miệng hơi há như câu nói cuối cùng chưa kịp ra khỏi cổ họng. Chiếc áo dài nâu ông mặc hôm qua nhàu nát, vạt áo trước ngực và bên sườn trái đẫm máu đã khô đen lại thành từng mảng cứng. Một chiếc ghế gỗ đổ nghiêng bên cạnh, chân ghế gãy một thanh. Két sắt sau quầy mở toang, cửa két dựa vào tường, bên trong trống rỗng, chỉ còn mấy tờ giấy nợ rơi vãi dưới đáy két và một chiếc hộp thiếc rỗng lăn ở góc. Hàng hóa trên các kệ quanh tiệm lạ thay không xáo trộn bao nhiêu: những bao gạo vẫn xếp ngay, những cuộn vải vẫn nguyên dây buộc. Như thể người vào tiệm đêm qua không hề cần tới hàng hóa, chỉ cần tới két tiền và tới mạng người nằm dưới nền này.

Người gánh nước, một thanh niên gầy tên A Thủy, đứng ở cửa tiệm run cầm cập, kể rằng sáng nay anh ta gánh nước qua như mọi ngày. Thấy cửa tiệm hé mở bất thường vì ông Ngô chưa bao giờ mở cửa sớm tới vậy, gọi hai tiếng không ai đáp, đẩy cửa nhìn vào thì thấy người nằm sau quầy, bèn quăng cả gánh nước mà chạy đi báo. Con chó mực của tiệm nằm co ở góc bếp phía sau, không chết, nhưng cứ rên ư ử, ai tới gần cũng không sủa, chỉ cụp đuôi run rẩy, một điều lạ nữa mà lúc ấy chưa ai để tâm.

Khải mở sổ, quỳ xuống bên cạnh tử thi ở khoảng cách lệ cho phép, bắt đầu ghi biên bản hiện trường theo lời đọc của bộ đầu: giờ phát hiện, vị trí người chết, tình trạng cửa, tình trạng két. Tay hắn viết đều, chữ vẫn ngay ngắn, nhưng khi ghi tới phần mô tả tử thi, bút của hắn dừng lại lâu hơn thường lệ ở hai chỗ.

Chỗ thứ nhất là bàn tay trái của người chết. Bàn tay ấy xòe ra trên nền gạch, các ngón hơi co, và ngón cái tay trái trống trơn. Trống trơn hoàn toàn. Chỉ có một vệt da trắng hơn hẳn các vùng da khác vòng quanh gốc ngón, vệt trắng của một vật đã đeo ở đó rất lâu năm vừa bị tháo đi. Hôm qua, cũng chính bàn tay này đặt trên bàn tính, chiếc nhẫn ngọc bích xanh sẫm còn lóe sáng dưới nắng chiều. Khải nhìn vệt trắng ấy, cổ họng khô lại. Hắn ghi vào biên bản đúng một dòng ngắn: trên người tử thi không thấy chiếc nhẫn ngọc vẫn đeo thường ngày. Hắn ghi rồi lặng lẽ gạch nhẹ dưới chân dòng chữ ấy bằng đầu móng tay, một dấu hiệu riêng để sau này tự mình tìm lại cho nhanh giữa trăm dòng biên bản.

Chỗ thứ hai không nằm trong tiệm, mà nằm ngoài bến, nơi ồn ào hơn gấp bội.

Ngoài sân đá trước tiệm, Trần Đại Trụ bị trói gô bằng dây thừng, hai tay trói quặt ra sau, quỳ giữa vòng lính lệ và dân bến. Chiếc đòn gánh của ông dựng ở cột hiên, đôi sọt rỗng để bên cạnh. Ngay sát chỗ ông quỳ, trên mặt đá, có một túi vải nâu buộc miệng bằng dây gai, miệng túi đã mở, những đồng đại dương lăn ra ngoài sáng loáng dưới ánh đuốc. Và cách túi vải không xa là một con dao nhà bếp cán gỗ, thứ dao tiệm vẫn dùng cắt dây, cắt bao hàng, lưỡi dao còn vệt sẫm màu chưa khô hẳn. Đại Trụ tóc tai rối bù, mặt đầy nước mắt và bụi đất, thấy ai cũng kêu:

- Tôi không giết người, tôi ngủ ở hiên, tôi tỉnh dậy đã thấy túi tiền ở cạnh người, tôi không biết, trời đất chứng cho tôi, tôi không giết ông chủ.

Dân bến xì xào hai ngả. Người nói gánh hàng thuê nghèo quá hóa liều, người nói Đại Trụ hiền như đất, gánh thuê ở bến bao năm chưa từng lấy thừa một xu của ai. Nhưng tiền nằm cạnh người, dao nằm cạnh tiền, người chết nằm trong tiệm, ba thứ ấy xếp cạnh nhau thành một câu chuyện quá rõ ràng, rõ ràng tới mức không ai cần kể thêm mà ai cũng tự kể được trong đầu mình. Bộ đầu Triệu Thiết Ngưu cho lính đếm tiền trong túi vải ngay tại chỗ trước mặt mọi người: một trăm hai mươi đồng đại dương, đếm đủ hai lần, ghi vào biên bản tang vật. Đại Trụ bị giải đi về phía phủ.

Khi đoàn giải người đi ngang qua chỗ Khải đứng, Đại Trụ bỗng vùng mạnh một cái làm hai người lính lệ loạng choạng, ông không chạy. Cũng không đánh ai, ông chỉ quay đầu lại phía Khải, nhìn thẳng vào chàng thư lại đang ôm cuốn sổ biên bản. Và nói một câu bằng giọng khản đặc vì kêu gào từ lúc trời chưa sáng:

- Cậu chép chữ, cậu chép cho đúng, tôi không giết người.

Câu nói ấy làm Khải đứng chết lặng giữa sân đá ướt sương. Hắn muốn nói gì đó, một câu gì cũng được, nhưng phận sự của hắn lúc ấy chỉ là chép, và đoàn người đã đi qua. Hắn cúi xuống nhìn bộ áo của Đại Trụ mà lính lệ vừa lôi đi ngang: chiếc áo vải thô màu chàm đã sờn. Ướt sương ở vai vì ngủ ngoài hiên, dính bụi đất ở lưng, nhưng từ ngực tới vạt áo, từ tay áo tới cổ áo, không có một vết máu nào. Không một vết. Một người đâm chết một người khác sau quầy hàng trong đêm, máu khô đen cả một mảng áo của nạn nhân, mà kẻ bị bắt ngay tại bến. Ngủ cách hiện trường mấy bước chân, lại không dính lấy một giọt máu trên người, điều ấy Khải không dám nói ra, nhưng hắn không thể không nhìn thấy.

Lâm Ngọc Phân, vợ của người chết, được người nhà dìu tới tiệm lúc trời vừa sáng rõ. Bà bốn mươi tám tuổi, người nhỏ thó, vừa bước qua ngưỡng cửa nhìn thấy chồng nằm sau quầy đã lịm đi trong tay người dìu, tiếng khóc của bà nghẹn lại thành tiếng nấc khô. Người ta đưa bà sang nhà hàng xóm, cho uống nước gừng, và cả buổi sáng hôm ấy bà chỉ nói được một câu lặp đi lặp lại với người của phủ: chồng bà không có kẻ thù. Chồng bà chỉ có con nợ, mà con nợ thì cả trấn này đâu đâu cũng có.

Trước khi rời tiệm, bộ đầu cho người khám thêm một vòng quanh hiện trường theo lệ. Phía sau tiệm, cánh cửa hậu mở ra con lạch nhỏ và bậc đá xuống thuyền khép hờ, lúc đoàn khám tới nơi thì người gánh nước nói anh ta chưa hề động vào cửa ấy. Mà bộ đầu cũng chỉ cho người liếc qua loa rồi thôi vì thiếu người canh giữ phía bến. Cửa sổ bên hông đóng kín, bụi trên bậu cửa không bị xáo. Chỉ có cửa chính phía trước là hé mở lúc phát hiện án. Mà cửa chính của tiệm ông Ngô xưa nay khóa bằng ổ khóa đồng lớn và chìa khóa chỉ có hai chiếc: một chiếc ông chủ luôn đeo bên người, một chiếc để trong ngăn kéo quầy cho người nhà. Chiếc chìa bên người của ông vẫn nằm trong túi áo của tử thi khi bộ đầu khám người, lạnh và nguyên vẹn. Khải ghi cả những điều này vào biên bản ở mục tình trạng cửa ngõ, ghi chậm và rõ, dù bộ đầu đứng bên cạnh đã bắt đầu sốt ruột vì nắng lên và dân bến tụ tập ngày càng đông ngoài sân. Hắn cũng ghi thêm một dòng về két sắt: ổ khóa két không có dấu cậy, mặt khóa không trầy xước, cửa két mở ra êm như được mở bằng đúng chìa của nó. Dòng ấy hắn ghi xong thì tự mình đọc lại hai lần, vì nó gợi ra một ý nghĩ hắn không dám viết tiếp: người mở két đêm qua rất có thể là người được chủ tiệm tin. Hoặc là người đã lấy được chìa từ chính tay chủ tiệm trong lúc ông còn chưa kịp trở tay.

Khải ghi biên bản tới khi nắng lên khỏi mái ngói đầu bến mới xong. Hắn buộc sổ lại, theo đoàn của bộ đầu trở về phủ, trong đầu mang theo hai hình ảnh không chịu rời nhau: một ngón tay trống nhẫn với vệt da trắng vòng quanh, và một tấm áo không dính máu trên người kẻ bị trói. Hai hình ảnh ấy không khớp với câu chuyện rõ ràng mà cả bến đang kể cho nhau nghe, và Khải biết, theo kinh nghiệm ba năm chép hồ sơ của mình, rằng những chỗ không khớp như thế thường là những chỗ sự thật còn đang trốn.

Chương khác

Xem thêm