THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 6: Lão Chài Không Ai Nghe

Ngày mười bảy tháng tám, Khải theo đoàn của phủ xuống bến Vãn Độ lấy lời khai bổ sung của dân quanh hiện trường, cho hồ sơ đủ mặt giấy tờ trước phiên sơ…

Nội dung chương

Ngày mười bảy tháng tám, Khải theo đoàn của phủ xuống bến Vãn Độ lấy lời khai bổ sung của dân quanh hiện trường, cho hồ sơ đủ mặt giấy tờ trước phiên sơ thẩm. Đoàn có bộ đầu Triệu Thiết Ngưu, hai người lính lệ và Khải ôm hộp bút nghiên. Công việc nghe thì trang trọng, làm thì ai cũng biết trước kết quả: hỏi những người đã được hỏi rồi, ghi lại những lời đã được nghe rồi, để hồ sơ dày thêm vài tờ và bản án sắp tuyên có thêm vài dòng làm nền.

Người đầu tiên đoàn hỏi là bà Tôn Nhị Nương, chủ quán chè ở đầu bến. Bà năm nay năm mươi hai tuổi, người phúc hậu, tay chân nhanh nhẹn, quán chè của bà là nơi cả bến gửi tai nghe chuyện thiên hạ. Bà rót nước mời đoàn, rồi ngồi xuống ghế, hai tay đặt ngay ngắn trên đùi, khai một mạch trơn tru như nước chảy:

- Đêm mười hai, tôi bán chè tới khuya mới dọn hàng. Trăng mờ, mưa lâm râm. Tôi thấy anh Đại Trụ lảng vảng gần tiệm ông Ngô lúc nửa đêm, đi qua đi lại mấy lượt, dáng thậm thụt. Tôi còn lấy làm lạ, bụng bảo dạ người này ngủ nhờ hiên bến mà sao không ngủ, cứ đi lại như chờ ai. Sáng ra nghe tin ông Ngô chết, tôi mới rùng mình nghĩ lại.

Khải chép từng chữ, bút chạy đều, nhưng trong lòng hắn có một chỗ cứ vướng lại như hạt sạn trong giày. Hắn nhớ rất rõ đêm mười hai, khi hắn đi bộ từ phủ về nhà trọ qua bến, quán chè của bà Tôn đã tắt đèn, then cửa đã cài, vào khoảng đầu giờ Hợi. Chính hắn còn thoáng nghĩ bà đóng quán sớm hơn mọi ngày. Vậy mà giờ bà khai bà bán tới khuya, bán tới tận nửa đêm, và còn nhìn rõ một người lảng vảng trong mưa lâm râm dưới ánh trăng mờ. Hai điều ấy không thể cùng đúng một lúc. Hoặc trí nhớ của hắn sai, hoặc lời khai của bà Tôn có một khoảng thời gian được ai đó bắc cầu thêm vào, bắc rất khéo, vì nó vừa khít với kết luận mà cả phủ đang cần: hung thủ có mặt gần tiệm lúc nửa đêm.

Hắn ngẩng lên định hỏi một câu, thì bắt gặp ánh mắt của bộ đầu Triệu Thiết Ngưu nhìn sang, không phải ánh mắt ngăn cản, chỉ là ánh mắt của một người đã quá quen với việc lời khai ở bến này có những phần không nên hỏi sâu. Khải cúi xuống, chép nốt, ký tên người chứng kiến theo lệ. Hắn tự nhủ sẽ ghi lại điều vướng mắc này vào sổ tay riêng, đúng như hắn vẫn làm với mọi chỗ không khớp kể từ ngày mười ba tới nay.

Trước khi đoàn rời quán, bà Tôn còn nắm tay Khải mà dặn một câu nghe như lời tâm sự của người già: cậu Khải à, tôi già rồi. Mắt mờ tai lãng, nhưng việc người chết oan hay không là việc của trời, tôi chỉ khai điều tôi thấy, mong cậu chép cho đúng lời tôi. Bà nói câu ấy rất thật, thật tới mức Khải suýt nữa thì tin rằng điều bà khai cũng thật như vậy. Nhưng then cửa cài từ đầu giờ Hợi là điều hắn tự mình nghe thấy tiếng gỗ khô khốc trong mưa, và một người thư lại thì tin vào những gì chính tai mình nghe hơn là tin vào sự trơn tru của một bài khai không vấp một chữ. Người nói dối vì bị ép thường vấp. Người nói dối vì đã tập trước thì không vấp bao giờ.

Đoàn rời quán chè, đi dọc bến lấy thêm vài lời khai nữa, toàn những lời khai vô thưởng vô phạt: người nghe tiếng chó, người không nghe gì, người khóa cửa sớm vì mưa. Tới bãi sông ngoài trấn, nơi những người chài lưới ở trong những túp lều lợp lá sát mép nước. Khải tách đoàn đi về phía căn lều ở cuối bãi để hỏi một người mà từ ngày xảy ra án mạng tới giờ chưa ai trong phủ buồn hỏi tới nơi tới chốn.

Lão chài Giả Tam Giang năm nay sáu mươi sáu tuổi, sống ở bãi sông này đã hơn bốn mươi năm, lưng còng, tay gân guốc. Mắt đã mờ vì nhiều năm nhìn nắng trên mặt nước mà vẫn nhận ra từng con nước, từng bãi cạn của khúc sông này như nhận ra lòng bàn tay mình. Cháu gái của ông, Giả Tiểu Ngư, mười lăm tuổi, đang phơi lưới ở sân lều, thấy người của phủ tới thì lễ phép rót nước. Lão chài ngồi trên chiếc chõng tre, nghe Khải hỏi về đêm mười hai, ông không trả lời ngay. Ông nhìn ra mặt sông một lúc lâu, rồi mới nói chậm rãi, từng tiếng một, như người cân nhắc từng con cá trong mẻ lưới cuối ngày:

- Đêm ấy mưa nhỏ, tôi không ngủ được vì vai đau, bèn ngồi trong lều vá lưới tới khuya. Khoảng cuối giờ Hợi, đầu giờ Tí, tôi thấy một chiếc thuyền nhỏ không đèn từ phía thượng lưu xuống bến. Thuyền không phải thuyền của dân bến này, tôi nhìn dáng thuyền là biết. Nó đậu lại sau tiệm ông Ngô một lúc lâu, lâu lắm, rồi mới quay lên. Người trên thuyền chèo mái bên trái, chèo rất êm, dân chài nhìn tiếng nước là biết tay chèo có nghề. Lúc thuyền đậu, có người lên bờ, tay trái cầm một bọc vải, đi về phía tiệm rồi sau đó trở xuống, bọc vải ấy lúc trở xuống trông xẹp hơn lúc lên.

Giả Tiểu Ngư đứng bên cạnh nghe ông kể, thỉnh thoảng lại xen vào đỡ lời cho ông nội: ông cháu mắt mờ nhưng tai thính lắm, đêm nào thuyền lạ qua bãi ông đều biết trước cả cháu. Con bé nói với vẻ tự hào của một đứa cháu thương ông, và Khải ghi nhận cả chi tiết ấy, vì một người già được cháu mình tin tưởng tới vậy thường không phải người quen bịa chuyện cho vui miệng. Lão chài kể chuyện không thêm thắt, chỗ nào không thấy ông nói không thấy, chỗ nào không chắc ông nói không chắc, cái cách kể của một người chỉ có sự thật trong tay và không có ai để bán sự thật ấy cho.

- Ông có nhìn rõ mặt người ấy không? - Khải hỏi, bút đã sẵn sàng trên trang sổ.

- Trời mưa, thuyền không đèn, tôi già rồi, mắt mờ, không thấy mặt. - Lão chài lắc đầu. - Nhưng hướng thuyền thì tôi không lầm được. Nó từ hướng biệt viện Tùng Phong ở thượng lưu mà xuống. Sông này ban đêm chỉ có thuyền của biệt viện ấy mới đi không đèn mà không sợ lính tuần, vì cả khúc sông này ai dám chặn thuyền của nhà họ Lỗ mà hỏi giấy.

Khải ghi hết, chữ viết nhanh hơn thường lệ. Hướng thượng lưu. Biệt viện Tùng Phong. Nhà họ Lỗ. Những chữ ấy nằm xuống trang giấy của hắn và tự nối lại với một dòng chữ khác trong sổ tay của hắn từ đêm mười hai: thuyền không đèn đi lên phía biệt viện. Đêm ấy chính mắt hắn đã thấy chiếc thuyền rời bến đi lên, trong mưa, ngay sau khi hắn đi ngang tiệm tối đèn. Lão chài thấy nó xuống, hắn thấy nó lên. Hai đầu của một chuyến thuyền đêm bỗng khép lại trong đầu hắn thành một vòng tròn lạnh buốt.

Hắn mang lời khai ấy về trình bộ đầu ngay trên đường về phủ. Triệu Thiết Ngưu nghe hắn đọc lại, im lặng một lúc, rồi nói bằng giọng của một người nói chuyện thời tiết:

- Ông già bãi sông lẩm cẩm rồi, cậu Khải. Cả trấn này ai chẳng biết ông ấy hay kể chuyện thuyền ma, chuyện người chết đuối gọi nhau dưới nước. Lời của ông ấy ghi vào hồ sơ chính thức, trên hỏi xuống vì sao phủ lại đi ghi lời của một lão chài lẩm cẩm về thuyền không đèn và biệt viện của nhà họ Lỗ, lúc ấy ai đứng ra mà đỡ cho cậu?

- Nhưng lời ông ấy khớp với giờ giấc, thưa bộ đầu. - Khải nói, và chính hắn cũng ngạc nhiên vì mình dám nói câu ấy. - Khớp cả với tiếng chó sủa một tràng rồi im.

Bộ đầu nhìn hắn một cái nhìn dài, trong cái nhìn ấy có cả sự thương hại của một người lớn tuổi dành cho một người trẻ chưa hiểu hết cách cái trấn này vận hành:

- Khớp hay không khớp, hồ sơ này sắp xử rồi. Cậu chép chữ, cậu chép cho đủ là được. Có những lời nói ra không cứu được ai, chỉ hại thêm người nói.

Đoàn về tới phủ khi trời đã tối. Khải ngồi lại một mình trong phòng văn thư, trước mặt là chồng lời khai vừa lấy trong ngày, phía trên cùng là bản khai trơn tru của bà Tôn đã được sư gia đóng triện xác nhận để đưa vào hồ sơ chính thức. Lời khai của lão chài không có trong chồng ấy. Nó không bị ai xé đi, không bị ai cấm đoán thành lời, nó chỉ đơn giản là không được ai ghi vào hồ sơ, không được ai trình lên, như thể lão chài chưa từng nói và đêm mười hai chưa từng có chiếc thuyền nào đi trên sông.

Khải mở cuốn sổ tay riêng của mình, cuốn sổ không triện, không ai kiểm. Hắn chép lại toàn bộ lời kể của lão chài Giả Tam Giang, từng chi tiết một: giờ giấc, hướng thuyền, mái chèo bên trái, bọc vải trên tay trái, và cái tên biệt viện Tùng Phong. Chép xong, hắn ngồi nhìn trang giấy rất lâu, ý thức rất rõ rằng mình vừa làm một việc không thuộc phận sự của một thư lại. Thư lại chép lời người trên đọc. Thư lại không tự giữ một cuốn sổ riêng ghi những điều người trên đã gạt đi.

Nhưng hắn vẫn gập sổ lại, cất vào ngực áo, thổi tắt đèn phòng văn thư và đi về trong bóng tối của sân phủ. Mang theo cảm giác rằng trang giấy vừa chép có thể vô ích cả đời, cũng có thể một ngày nào đó là trang giấy quan trọng nhất mà hắn từng viết.

Chương khác

Xem thêm