THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 4: Biên Bản Khám Nghiệm

Tử thi của Ngô Đức Tài được khiêng về nhà quàn sau phủ vào trưa ngày mười ba. Đặt trên tấm phản gỗ trong căn phòng thấp và tối mà người trong phủ gọi là…

Nội dung chương

Tử thi của Ngô Đức Tài được khiêng về nhà quàn sau phủ vào trưa ngày mười ba. Đặt trên tấm phản gỗ trong căn phòng thấp và tối mà người trong phủ gọi là phòng khám nghiệm, dù cả năm nó chỉ dùng để chứa quan tài rỗng và những bó hương chưa bán hết của các đám tang trong trấn. Khải được giao ở lại chép biên bản khám nghiệm, một việc mà người thư lại nào trong phủ cũng muốn tránh, không phải vì sợ người chết, mà vì mùi của căn phòng ấy ám vào áo quần tới mấy ngày không hết.

Ngỗ tác Ngô Thế Xương tới phòng khám vào đầu giờ chiều, tay xách hộp đồ nghề đã cũ, mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi của một người bị gọi dậy từ rạng sáng và bị giục giã suốt từ lúc phát hiện án tới giờ. Ông bốn mươi chín tuổi, làm nghề ngỗ tác ở trấn này hơn hai mươi năm, khám qua không biết bao nhiêu tử thi chết đuối, chết bệnh. Chết vì đánh nhau ở bến, và chính vì làm lâu năm như vậy nên ông có một thói quen mà Khải nhận ra ngay từ những lần làm việc chung trước: ông khám rất nhanh. Nhanh tới mức như thể kết luận đã có sẵn trong đầu từ trước khi tay ông chạm vào người chết.

- Việc này rõ như ban ngày rồi, cậu Khải. - Ông nói trong lúc rửa tay, giọng thản nhiên. - Người bị bắt tại trận, tiền tang vật đủ, dao còn đó. Ta khám cho đủ lệ, biên bản phải có sớm để Phó tri phủ còn trình lên trên. Đại nhân đi kiểm đê chưa về, mọi việc đều giục cả, chậm một ngày là trên quở một ngày.

Khải mài mực, trải giấy, không đáp. Hắn biết mình không có tư cách đáp. Ngỗ tác là người có nghề khám nghiệm, thư lại chỉ là người chép lại lời của người có nghề. Lệ của phủ từ xưa vẫn vậy.

Ngô Thế Xương bắt đầu khám. Ông cho người lật tử thi, cởi bỏ áo ngoài đã cứng máu, đọc to từng vết thương cho Khải chép, giọng đều đều như đọc một bản kê hàng hóa. Ba vết đâm cả thảy. Một vết ở vai phải, nông, chỉ rách da thịt ngoài. Một vết ở cánh tay trái, cũng nông, giống vết người bị đâm trượt hoặc vết người chết đưa tay lên đỡ. Và một vết ở sườn trái, sâu nhất, là vết chí mạng: lưỡi dao đi vào giữa hai xương sườn, hướng xuống dưới, làm đứt mạch máu lớn trong người, máu ra nhiều trong khoang ngực, người chết tắt thở không lâu sau nhát đâm ấy.

Tới hướng của nhát chí mạng, ngỗ tác dừng lại một chút, tay ông ấn nhẹ quanh miệng vết thương, mắt nheo lại nhìn. Khải ngẩng bút chờ. Trong khoảng im lặng ấy, hắn nhìn rất rõ miệng vết thương ở sườn trái: mép da phía trên của vết rách xé rộng hơn, phần thịt phía dưới và phía trong bị đẩy sâu, một hình dạng mà sau này hắn sẽ nghĩ tới rất nhiều lần. Nhưng lúc ấy hắn chưa biết gì về hướng đâm, hắn chỉ thấy ngỗ tác cau mày, rồi tặc lưỡi một cái rất khẽ, rồi đọc to, rõ ràng. Như để chấm dứt mọi phân vân của chính mình:

- Nhát chí mạng ở sườn trái, đâm từ trái sang, hung thủ đứng ở phía bên trái của nạn nhân mà đâm qua.

Khải chép đúng như lời đọc: đâm từ trái sang. Hắn chép xong, tự nhiên thấy lòng bàn tay mình rịn mồ hôi dù căn phòng khám lạnh. Hắn không hiểu vì sao. Có lẽ vì hình dạng miệng vết thương hắn vừa nhìn thấy không nằm yên trong đầu hắn theo chiều của câu chữ ấy. Người đứng bên trái nạn nhân đâm sang, thì vết rách phải mở theo một chiều khác. Hắn là thư lại, không phải ngỗ tác, hắn tự nhắc mình như vậy đến lần thứ ba, và bút của hắn tiếp tục chạy theo lời đọc. Vì một chữ thư lại cãi một chữ ngỗ tác giữa phòng khám là việc chưa từng có tiền lệ ở phủ này.

Biên bản khám nghiệm chép xong trong vòng chưa đầy một canh giờ. Ngỗ tác điểm chỉ, đóng dấu riêng, cuộn biên bản lại giao cho Khải mang trình. Trước khi rời phòng, ông còn dặn thêm một câu như dặn việc nhà:

- Cậu giữ biên bản cho cẩn thận. Án này xử nhanh, xử xong thì giấy tờ càng phải đủ, sau này trên có hỏi còn có cái mà đối chiếu.

Chiều hôm ấy, một phúc trình bổ sung từ bến được gửi lên phủ, do bộ đầu Triệu Thiết Ngưu cho người lấy lời khai của các nhà hàng xóm quanh tiệm. Trong phúc trình có nhiều dòng quen thuộc: đêm qua mưa nhỏ, các nhà đóng cửa sớm, không ai nghe tiếng kêu cứu, không ai thấy người lạ. Nhưng ở gần cuối, có một dòng mà Khải đọc đi đọc lại hai lần khi chép lại vào hồ sơ. Nhà bà hàng xén sát vách tiệm khai rằng con chó mực của tiệm ông Ngô, con chó nổi tiếng dữ nhất bến, hễ người lạ đi qua hiên tiệm ban đêm là sủa không ngừng. Có đêm sủa tới nửa canh giờ làm cả xóm mất ngủ, đêm mười hai chỉ sủa đúng một tràng ngắn vào khoảng đầu giờ Hợi. Rồi im bặt cả đêm, im tới mức bà ta còn lấy làm lạ mà nói với chồng rằng đêm nay chó cũng biết thương người ta ngủ sớm.

Một tràng ngắn rồi im bặt. Khải chép dòng ấy vào hồ sơ, tay chậm lại. Chó dữ sủa người lạ không ngừng. Nó chỉ sủa một tràng ngắn rồi im, như cách chó nhà sủa khi thấy người quen bước vào sân: sủa để báo, rồi nhận ra hơi quen, rồi thôi. Ý nghĩ ấy vừa nhen lên trong đầu hắn đã bị hắn tự gạt đi, vì hồ sơ không phải chỗ cho ý nghĩ của thư lại. Và vì người quen của ông Ngô ở trấn này thì nhiều vô kể, từ con nợ tới chủ nợ, ai mà lần cho hết.

Tối ngày mười bốn, Khải theo bộ đầu xuống nhà lao sau phủ để ghi lời khai đầu tiên của Trần Đại Trụ trong hồ sơ chính thức. Nhà lao tối, ẩm, mùi rơm mục và mùi sắt gỉ. Trưởng lao Mã Cửu, người đàn ông bốn mươi sáu tuổi mặt ít nói, mở khóa cửa buồng giam bằng chùm chìa khóa lớn, ánh đèn dầu trong hành lang hắt vào trong buồng một vệt sáng hẹp. Đại Trụ ngồi co trên ổ rơm, cổ tay còn hằn vết dây trói, hai ngày không ngủ làm mắt ông hõm sâu, nhưng thấy người của phủ vào, ông quỳ xuống ngay trên rơm mà kêu oan bằng giọng đã khản đặc.

Theo lời khai chép lại, chiều mười hai, Đại Trụ gánh hai chuyến hàng lên phố, chuyến cuối xong thì trời đã tối, đò cuối đã qua sông, ông xin ngủ nhờ ở hiên bến gần tiệm như ông Ngô đã hứa ban ngày. Ông ăn nốt nửa chiếc bánh khô, uống nước ở lu nước công cộng đầu bến, rồi nằm xuống hiên, lấy bọc áo làm gối, đòn gánh dựng ở cột bên cạnh. Nửa đêm, ông nghe tiếng chó trong tiệm sủa một tràng, ông còn trở mình nghĩ bụng có khách khuya tới tiệm, rồi tiếng chó im, ông mệt quá ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Tới khi tỉnh dậy thì trời gần sáng, người ta đã đứng vòng trong vòng ngoài, túi tiền ở cạnh người ông, và lính lệ trói ông lại trước khi ông kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra.

- Ông có động vào túi tiền ấy không? - Bộ đầu hỏi.

- Tôi chưa từng thấy cái túi ấy bao giờ, thưa quan. - Đại Trụ dập đầu xuống nền đất của buồng giam. - Tiền của tôi cả đời cộng lại chưa tới năm đồng, một trăm hai mươi đồng lớn như trời, tôi nhìn còn không dám nhìn lâu, nói gì tới giết người mà lấy.

Khải chép hết, không sót một chữ. Hắn để ý Đại Trụ khai không trơn tru, ông nhớ tiếng chó, nhớ hướng gió sông thổi lạnh từ phía nào, nhớ vết chai ở tay mình đau nhức khi trời sắp mưa. Toàn những chi tiết vụn vặt của một người lao động kể lại một đêm mệt nhọc bình thường, không giống một bài khai được dọn sẵn. Nhưng hắn cũng biết, lời khai nghe thật hay không không phải việc của thư lại, và trong căn buồng giam tối tăm này, người duy nhất đang nghe ông nói mà không ngắt lời chính là ngòi bút của hắn.

Khuya hôm ấy, Khải ở lại phòng văn thư chép lại toàn bộ biên bản khám nghiệm và lời khai vào hồ sơ gốc để sáng mai trình lên. Chép tới dòng hướng vết thương, bút hắn dừng lại. Đâm từ trái sang. Năm chữ nằm ngay ngắn trên giấy, mực đen, chữ đẹp, đúng lệ. Hắn nhìn dòng chữ ấy rất lâu, rồi bất giác đưa tay lên sườn trái của chính mình, thử hình dung một lưỡi dao đi vào từ phía bên trái của một người đang đứng đối diện. Hình dung ấy không thành hình. Thay vào đó, trong đầu hắn hiện lên miệng vết thương ở nhà quàn: mép rách xé rộng ở phía trên, thịt bị đẩy sâu xuống dưới và sang ngang, như một cú đâm từ phía trước mặt, từ bên phải của người chết đi chéo sang.

Hắn đặt bút xuống. Lần đầu tiên trong ba năm làm thư lại, Trần Văn Khải nhìn nét chữ của chính mình và thấy nó trông như một lời nói dối. Không phải chữ của hắn nói dối. Chữ của hắn chép đúng từng lời người ta đọc. Nhưng lời người ta đọc, khi nằm xuống giấy dưới nét chữ ngay ngắn của hắn, bỗng mang một sức nặng mà hắn không gánh nổi: sức nặng của một mạng người sẽ bị xử chém dựa trên những dòng chữ này.

Hắn chép nốt hồ sơ, niêm phong, khóa phòng văn thư và đi về nhà trọ trong đêm. Suốt dọc đường qua bến tối, câu hỏi không có người trả lời cứ đi theo hắn như một cái bóng: nếu hướng đâm trong biên bản là ngược, thì người cầm dao đêm ấy đã đứng ở đâu, và đã đâm bằng tay nào.

Chương khác

Xem thêm