THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 8: Phiên Xử Tám Ngày
Ngày hai mươi tháng tám, đúng tám ngày sau đêm án mạng ở bến Vãn Độ, công đường phủ nha Chu Gia Giác mở phiên sơ thẩm vụ án Ngô Đức Tài bị giết. Tin mở…
Nội dung chương
Ngày hai mươi tháng tám, đúng tám ngày sau đêm án mạng ở bến Vãn Độ, công đường phủ nha Chu Gia Giác mở phiên sơ thẩm vụ án Ngô Đức Tài bị giết. Tin mở đường lan khắp trấn từ sáng sớm, dân bến bỏ cả buổi chợ, kéo nhau lên sân phủ đứng chật từ bậc thềm công đường ra tới cổng, người tới sau phải đứng lên cả bệ đá hai bên sân mới nhìn được vào trong. Một vụ án mạng ở bến đò, hung thủ bắt tại trận, xử giữa ban ngày trước mặt cả trấn, đó là thứ chuyện người ta sẽ kể lại cho nhau nghe trong nhiều năm, và không ai muốn mình là người vắng mặt trong buổi sáng hôm ấy.
Khải ngồi ở án thư lại phía dưới công đường, bên phải ghế chủ tọa, trước mặt là chồng hồ sơ đã được sắp theo đúng thứ tự trình đọc: biên bản hiện trường. Biên bản khám nghiệm, biên bản bắt giữ, lời khai của bị cáo, lời khai nhân chứng, biên bản kiểm kê tang vật. Mọi tờ giấy đều có mặt, mọi triện đều đỏ tươi, mọi thủ tục đều đủ. Hắn đã tự tay sắp chồng hồ sơ này tối hôm trước, sắp với một cảm giác nặng nề mà hắn không gọi tên được, như người sắp mâm cỗ cho một đám tang mà mình biết rõ người nằm trong quan tài chưa đáng phải chết.
Phó tri phủ Quyền Đức Lâm bước ra công đường trong bộ quan phục chỉnh tề, ngồi xuống ghế chủ tọa, tiếng hô nghiêm của lính lệ làm sân phủ im phăng phắc. Ông ta cho đọc cáo trạng trước: đêm mười hai tháng tám, Trần Đại Trụ, nông dân gánh hàng thuê, lợi dụng việc ngủ nhờ ở bến, lẻn vào tiệm tạp hóa của Ngô Đức Tài. Dùng dao nhà bếp của tiệm đâm chết chủ tiệm ba nhát, mở két lấy tiền, mang một phần tiền ra bến thì mệt và say ngủ, bị bắt tại trận với tang vật đầy đủ. Từng câu trong cáo trạng rơi xuống công đường đều đặn như những nhát búa đóng đinh, và Khải, người chép biên bản phiên xử. Nhận ra cáo trạng này không hề có một chữ nào dành cho những câu hỏi chưa có lời đáp: két mở bằng cách nào, chiếc nhẫn ngọc của người chết ở đâu. Vì sao kẻ giết người không dính máu, vì sao con chó dữ im tiếng, vì sao trong tiền tang vật có đồng nhẹ hơn tiền thật.
Biên bản khám nghiệm được đọc lên. Giọng người đọc sang sảng, rành rọt: ba vết đâm, nhát chí mạng ở sườn trái, đâm từ trái sang, hung thủ đứng bên trái nạn nhân. Khải ngồi nghe chính những dòng chữ hắn đã chép bằng tay mình ở nhà quàn, giờ được đọc to trước hàng trăm con người. Và những dòng chữ ấy bỗng trở nên xa lạ và đáng sợ, vì một lời nói dối khi nằm im trong hồ sơ chỉ là một lời nói dối của một người. Còn khi được đọc to trên công đường, đóng triện, tuyên trước dân chúng, nó trở thành sự thật của cả một trấn.
Tang vật được trình lên mặt án: con dao cán gỗ gói trong vải dầu được mở ra cho dân nhìn, túi vải nâu, và một trăm hai mươi đồng đại dương buộc thành xâu sáng loáng. Tiếng xì xào lan khắp sân phủ khi xâu tiền được giơ lên. Tiền thật đấy, dao thật đấy, người chết cũng thật, vậy thì còn nghi ngờ gì nữa. Khải nhìn xâu tiền buộc chung một chỗ, nghĩ tới mấy đồng nhẹ đang nằm lẫn trong đó, tiếng gõ đục của chúng giờ không còn ai nghe thấy được nữa giữa tiếng ồn của cả sân phủ.
Trần Đại Trụ được giải ra đường. Tám ngày trong lao làm ông gầy rộc đi, áo quần xộc xệch, cổ tay hằn vết còng, nhưng khi bị bắt quỳ xuống giữa đường. Ông ngẩng đầu lên và kêu oan bằng tất cả sức còn lại trong lồng ngực:
- Bẩm đại nhân, tiểu nhân không giết người. Tiểu nhân gánh hàng ở bến bao nhiêu năm, ông chủ Ngô còn cho tiểu nhân ngủ nhờ hiên tiệm, ơn ấy chưa trả, tiểu nhân giết ông ấy làm gì. Đêm ấy tiểu nhân ngủ ở hiên, nghe tiếng chó sủa một tràng rồi im, sau đó ngủ say vì mệt, tỉnh dậy đã bị trói. Xin đại nhân xét lại, tiểu nhân chết cũng không nhận tội mình không làm.
- Ngươi không làm, sao tiền của người chết lại ở cạnh người ngươi? - Quyền Đức Lâm hỏi, giọng không cao, mà lạnh. - Sao dao của tiệm lại nằm cạnh túi tiền? Ngươi ngủ say tới mức người ta đặt cả túi tiền và con dao xuống bên cạnh mà không hay biết gì sao? Lời ấy ngươi nói cho ai nghe?
- Tiểu nhân ngủ say thật, bẩm đại nhân, người gánh hàng cả ngày, tối đặt lưng xuống là như chết rồi. Ai đặt túi tiền cạnh tiểu nhân, tiểu nhân xin thề có trời đất là không biết.
Tiếng chó được Đại Trụ nhắc tới như một tia hy vọng cuối cùng, ông kể lại tiếng chó sủa một tràng rồi im bặt. Kể rằng chó của tiệm quen hơi ông vì ông vẫn hay cho nó ăn, nhưng Quyền Đức Lâm gõ thước xuống mặt án, ngắt lời:
- Chó sủa hay không sủa là việc của chó. Công đường xử việc người, không xử việc chó. Ngươi lấy tiếng chó làm chứng cho ngươi, vậy ngươi gọi chó lên đường mà đối chất chăng?
Một tràng cười ngắn bật ra từ phía dân đứng xem ở góc sân, rồi tắt ngay vì không khí công đường quá nặng. Nhưng tiếng cười ấy, dù ngắn, đã làm một việc tàn nhẫn hơn mọi lời buộc tội: nó biến lời kêu oan của một người sắp chết thành một trò cười. Mặt Đại Trụ xám đi. Ông cúi đầu xuống, hai vai run lên, không phải vì sợ, mà vì ông vừa hiểu ra rằng ở nơi này. Sự thật của ông nghe còn khó tin hơn cả lời bịa đặt của người khác, và không một ai trong căn đường rộng lớn này có phận sự phải tin ông.
Nhân chứng Tôn Nhị Nương được gọi lên đường. Bà bước vào giữa đường, quỳ xuống, và khai lại lời khai của mình lần thứ hai, lần này trước mặt cả trấn: đêm mười hai, bà bán chè tới khuya, thấy Đại Trụ lảng vảng gần tiệm lúc nửa đêm, đi qua đi lại, dáng thậm thụt. Bà khai không vấp một chữ, không thừa một lời, khớp từng chi tiết với bản khai đã ghi trong hồ sơ, khớp tới mức Khải, người đang chép biên bản, thấy sống lưng mình lạnh đi. Người thật nhớ lại một đêm đã qua một tuần thì phải có chỗ ngập ngừng, chỗ nhớ chỗ quên. Chỉ có một bài học thuộc lòng mới trơn tru được như thế. Và hắn, hơn ai hết trong căn đường này, biết bà đã đóng quán từ đầu giờ Hợi đêm ấy, vì chính tai hắn đã nghe tiếng then cửa cài lại trong mưa khi hắn đi ngang bến.
Không ai hỏi bà Tôn về giờ đóng quán. Không ai hỏi về chiếc nhẫn ngọc. Không ai hỏi về hướng của nhát đâm, về két tiền mở êm như có chìa, về chiếc thuyền không đèn trên sông, về những đồng tiền nhẹ. Phiên xử chạy nhanh như một vở tuồng đã tập trước, mỗi người bước ra đúng vai của mình, nói đúng lời của mình, rồi lui xuống, nhường chỗ cho đoạn kết đã được viết sẵn từ ngày hồ sơ khép lại.
Cuối buổi, Quyền Đức Lâm tuyên án. Tiếng thước gõ xuống mặt án làm cả công đường nín thở. Trần Đại Trụ, giết người cướp của, tội ác rõ ràng, tang chứng đầy đủ, xử trảm theo luật, trình tỉnh phê chuẩn theo lệ, định ngày hành hình vào chính Ngọ ngày hai mươi tám tháng tám tại pháp trường ngoài trấn. Đại Trụ gục xuống giữa đường, tiếng khóc của ông bị lính lệ lôi đi át mất trong tiếng xì xào của cả sân phủ. Khải chép hai chữ xử trảm vào biên bản, tay hắn run ở nét cuối cùng, làm nét chữ hơi lệch đi, điều chưa từng xảy ra trong ba năm hắn cầm bút ở phủ này.
Chiều hôm ấy, khi dân đã tan và công đường đã vắng, một tin nữa về tới phủ bằng công văn hỏa tốc từ tỉnh: bản án trình lên đã được phê chuẩn. Chuẩn y, không ý kiến, triện của tỉnh đường đóng chồng lên triện của phủ trên cùng một tờ giấy. Mọi việc xong nhanh hơn cả lệ thường, nhanh tới mức sư gia họ Vương cầm tờ công văn mà cũng phải thốt lên một câu nửa đùa nửa thật rằng việc này trên tỉnh cho qua mau hơn cả việc xin sửa một cây cầu. Không ai cười theo câu đùa ấy.
Tối hôm ấy, Khải ngồi chép lại biên bản phiên xử vào hồ sơ lưu của phủ, chép tới dòng chữ tội ác rõ ràng thì bút hắn dừng lại rất lâu. Rõ ràng. Hai chữ ấy nằm trong cáo trạng, nằm trong lời tuyên án, nằm trong cả công văn phê chuẩn của tỉnh vừa về. Nhưng trong cái rõ ràng hoàn hảo ấy, Khải đếm được ít nhất sáu chỗ tối mà không một ai trong buổi xử hôm nay chịu nhìn vào: một ngón tay trống nhẫn. Một tấm áo không máu, một hướng đâm chép ngược, một trang sổ bị xé, một chiếc thuyền không đèn, và vài đồng tiền nhẹ hơn tiền thật đang nằm lẫn trong xâu tang vật đã niêm phong. Sáu chỗ tối ấy không nằm trong hồ sơ chính thức. Chúng nằm trong cuốn sổ tay riêng của hắn, cuốn sổ không triện, và từ buổi tối hôm nay, chúng nằm thêm một chỗ nữa: nằm trong đầu hắn, không chịu đi ngủ cùng hắn như mọi đêm trước.
Khải là người cuối cùng rời công đường. Hắn ôm chồng hồ sơ đã khép lại, nhìn chiếc ghế chủ tọa trống không và mặt án nơi bản án vừa được đóng triện ban sáng. Tiếng triện nện xuống mặt án lúc tuyên án vẫn còn vang trong tai hắn, một tiếng nện khô, nặng, dứt khoát. Và hắn bỗng thấy tiếng ấy giống hệt tiếng búa gõ của đao phủ mà hắn từng nghe người già ở bến kể lại trong những câu chuyện đêm: cũng khô như vậy. Cũng nặng như vậy, và cũng dứt khoát như vậy, vì một khi nó đã vang lên thì không còn ai gọi lại được nữa.