THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 9: Miếu Thành Hoàng Không Khói

Ngày hai mươi mốt tháng tám, một ngày sau phiên xử tử, Vương Tú Anh đứng ở cổng phủ từ lúc trời còn chưa sáng rõ. Bà năm nay ba mươi bốn tuổi, vợ của…

Nội dung chương

Ngày hai mươi mốt tháng tám, một ngày sau phiên xử tử, Vương Tú Anh đứng ở cổng phủ từ lúc trời còn chưa sáng rõ.

Bà năm nay ba mươi bốn tuổi, vợ của Trần Đại Trụ, người đàn bà gánh nước và làm thuê ở thôn ngoài mà Khải từng gặp vài lần ở bến. Lần nào cũng thấy bà tất tả với đôi quang gánh trên vai và đứa con gái nhỏ chạy theo sau. Hôm nay bà không gánh gì cả. Hai tay bà ôm trước ngực một tờ đơn kêu oan viết bằng chữ thuê ở chợ, nét chữ của người viết thuê ngoài cổng phủ, mực còn mới, giấy đã nhàu vì bị nắm chặt quá lâu. Bên cạnh bà, Trần Tiểu Mễ, con gái chín tuổi của hai vợ chồng, đứng nép vào chân mẹ, tay nắm chặt vạt áo bà, mắt nhìn cánh cổng phủ to lớn và im lìm như nhìn một con thú đang ngủ mà mình không dám đánh thức.

Lính cổng không cho bà vào. Đó là lệnh, và lính cổng chỉ biết có lệnh. Vụ án đã xử xong, bản án đã được tỉnh phê chuẩn, cổng phủ không tiếp đơn kêu oan của nhà tử tội nếu không có lệnh trên. Bà Tú Anh không cãi, không gào, không đập cổng. Bà chỉ đứng, rồi khi chân mỏi, bà quỳ xuống bậc thềm đá ngoài cổng, tờ đơn giơ lên bằng hai tay, và chờ. Chờ từ sáng tới trưa, từ trưa tới chiều, dưới cái nắng tháng tám hun trên sân đá trước phủ, trong tiếng ve kêu và tiếng người qua đường cố ý đi chậm lại để nhìn rồi lại vội bước đi như sợ nhìn lâu sẽ rước họa vào thân.

Khải đi ngang cổng phủ ba lần trong ngày hôm ấy vì việc văn thư, và cả ba lần hắn đều thấy bà quỳ ở đó, ở cùng một tư thế, tờ đơn giơ lên đã bắt đầu run vì tay mỏi mà vẫn không hạ xuống. Lần thứ ba, vào lúc xế chiều, hắn không đi thẳng qua được nữa. Hắn dừng lại ở phía trong cổng, cách bà một cánh cổng khép và hai người lính gác, lấy trong túi áo ra ít tiền lẻ. Số tiền hắn dành dụm từ tiền công chép thuê ngoài, nhờ người lính cổng trẻ nhất chuyển ra ngoài cho mẹ con bà mua nước uống và cái bánh cho đứa nhỏ. Người lính ngập ngừng rồi cũng cầm, phần vì thương, phần vì số tiền ấy không phải đơn từ gì, chỉ là tiền lẻ của một người qua đường.

- Cô về đi, đứng đây cũng không vào được đâu. - Khải nói qua khe cổng, giọng hắn nhỏ tới mức chính hắn cũng thấy câu nói của mình vô dụng. - Đại nhân sắp về rồi. Tri phủ đại nhân đi kiểm đê sắp về tới trấn. Việc gì còn có cơ xoay chuyển, phải chờ đại nhân về mới có cơ.

Hắn nói câu ấy mà không dám hứa thêm một chữ nào. Hắn không hứa bà sẽ được vào, không hứa án sẽ được xét lại, không hứa chồng bà sẽ sống. Hắn chỉ nói đúng một điều có thật duy nhất mà hắn biết: đại nhân sắp về. Vương Tú Anh ngẩng mặt lên nhìn hắn qua khe cổng, mặt bà cháy nắng, môi nứt nẻ, mắt khô tới mức không còn nước mắt để khóc nữa, và bà chỉ hỏi một câu:

- Đại nhân về, đại nhân có đọc đơn của tôi không, cậu?

Khải không trả lời được câu hỏi ấy. Hắn đứng im sau cánh cổng, nghe tiếng đứa bé gái hỏi mẹ bao giờ cha về, và lần đầu tiên trong đời. Hắn thấy biết ơn hai người lính cổng đang chắn giữa hắn và người đàn bà kia, vì nhờ có họ mà hắn không phải nhìn thẳng vào mắt bà khi mình không có câu trả lời.

Chiều hôm ấy, Khải có việc phải xuống bến lấy dấu triện của trạm đò cho một tờ trình thuế. Việc xong sớm, hắn không về phủ ngay mà đi bộ dọc bến, rồi rẽ vào con đường nhỏ dẫn tới miếu Thành Hoàng cũ ở đầu bến. Ngôi miếu mà người dân trong trấn vẫn gọi là miếu đầu bến, nằm trên một gò đất cao nhìn xuống khúc sông nơi đò ngang qua lại.

Miếu đã xuống cấp từ lâu. Mái ngói vỡ mấy chỗ, cỏ mọc trên nóc, tường vôi bong từng mảng để lộ gạch đỏ bên trong, cánh cửa gỗ lim ngày xưa sơn son giờ xám xịt và chỉ còn khép hờ một cánh. Bên trong miếu tối và mát, mùi ẩm mốc chen mùi hương cũ đã tàn từ rất lâu. Trên bệ thờ, bài vị của vị Thành Hoàng cai quản vùng sông nước này đứng lặng sau một lớp bụi dày, trước bài vị là một bát hương lớn bằng đồng. Trong bát toàn tro lạnh và những chân hương cũ gãy vụn, không một nén hương đang cháy, không một vệt khói, không một dấu hiệu nào cho thấy có người vừa thắp hương ở đây trong nhiều tháng qua.

Ông từ miếu, một ông già gầy ở trong căn chái nhỏ sau miếu, chống gậy ra chào Khải, nghe hắn hỏi thăm thì cười buồn:

- Miếu này ngày trước đông lắm, cậu Khải. Dân bến ra khơi, qua đò, mở hàng, kiện tụng, việc gì cũng tới thắp nén hương xin ngài chứng cho. Mấy năm nay thì vắng. Quan trên thì trông cả vào tỉnh, có việc gì cũng chờ tỉnh, chờ mãi thành quen. Dân dưới này có oan có ức, kêu lên phủ thì phủ bảo chờ, kêu vào miếu thì miếu lạnh tro, riết rồi người ta cũng thôi kêu. Thần mà không có khói hương, lâu ngày cũng thành như một ông quan bị bỏ quên ở một cái trấn bị bỏ quên, ngồi trên bệ mà không ai trình việc gì nữa.

Khải nghe ông từ nói, nhìn bát hương lạnh tro trước mặt. Hắn nghĩ tới người đàn bà quỳ ở cổng phủ từ sáng tới chiều với tờ đơn không ai nhận, nghĩ tới người nông dân quỳ giữa công đường hôm qua kêu oan bằng tiếng chó mà bị cả sân phủ cười. Nghĩ tới chính mình, một thư lại giữ trong ngực áo một cuốn sổ tay ghi những điều không ai trong phủ muốn đọc. Cả trấn này, từ cổng phủ tới bệ thờ, đều đang cùng mắc một căn bệnh: có việc oan mà không biết kêu vào đâu, có lời thật mà không có chỗ nào chịu chứa.

Trước khi rời miếu, hắn làm một việc mà hắn không định làm từ lúc bước vào. Hắn lấy trong tay nải ra ba nén hương mang theo từ nhà trọ, vốn để thắp ở bàn thờ nhỏ của mẹ hắn. Mượn ông từ một que đóm, thắp hương lên, cắm vào bát hương lạnh của miếu bằng tiền của chính mình và hai bàn tay của chính mình. Ba nén hương cháy chậm trong bóng tối của gian miếu, khói mỏng bay lên, quẩn quanh bài vị phủ bụi rồi tan ra. Đó là nén hương đầu tiên được thắp trong bát hương này không biết sau bao nhiêu lâu, ông từ đứng phía sau hắn nói khẽ như nói với chính mình.

Ông từ tiễn hắn ra tới sân miếu, chỉ tay về phía bến đò đang lên đèn ở phía dưới gò đất mà nói thêm một chuyện cũ: ngày trấn này mới lập. Miếu được dựng ngay đầu bến là có ý cả, vì bến đò là nơi người ta đi và về. Nơi mạng người mỏng nhất trước con nước, và cũng là nơi những việc oan khuất của dân sông nước hay tìm về nhất. Người xưa đặt thần ở đầu bến là để ai có việc không nói được với người thì còn có chỗ mà nói với trời đất. Nói xong ông từ thở dài, chống gậy quay vào căn chái tối, để lại Khải đứng một mình giữa sân miếu đầy cỏ dại, nghe tiếng chuông gió cũ trên mái miếu kêu leng keng rất khẽ mỗi khi gió sông thổi lên từ mặt nước.

Cùng lúc ấy, ở thôn của Đại Trụ, một việc khác đang lặng lẽ xảy ra mà mãi mấy hôm sau Khải mới nghe kể lại. Từ ngày bản án tuyên, nhà của tử tội bị cả thôn xa lánh dần: người ta đi vòng qua ngõ nhà bà Tú Anh, quán nước đầu thôn không bán chịu cho nhà ấy nữa. Mấy nhà vẫn thuê Đại Trụ gánh hàng thì nay thuê người khác, trẻ con trong thôn bị cha mẹ dặn không chơi với con bé Tiểu Mễ vì nó là con của kẻ giết người. Tờ đơn kêu oan chưa đi tới đâu, mà cái án thứ hai, cái án không có triện của phủ và không cần công đường tuyên. Đã bắt đầu thi hành lên một người đàn bà và một đứa trẻ chín tuổi ngay từ buổi sáng đầu tiên sau phiên xử.

Khải thắp xong hương, chắp tay đứng trước bệ thờ một lát. Hắn không cầu xin điều gì thành lời. Hắn chỉ đứng đó, trong gian miếu lạnh, nhìn khói hương của mình bay lên, và nghĩ rằng nếu ở trấn này còn có một nơi nào chịu nghe những lời không ai chịu nghe, thì ít nhất từ hôm nay, nơi ấy đã có lại một chút khói.

Trên đường từ miếu về phủ, hắn đi qua bến đò đã lên đèn. Tiệm của ông Ngô vẫn niêm phong, giấy niêm phong của phủ dán chồng lên nhau ở cửa chính, trắng nhợt dưới ánh đèn dầu của nhà bên cạnh. Hắn dừng lại một lát trước bậc hiên nơi Đại Trụ từng ngồi ăn bánh và từng ngủ đêm mười hai, bậc hiên giờ trống không. Chỉ có chiếc đòn gánh của người bị giam vẫn dựng ở cột hiên chưa ai buồn mang đi, như một vật chứng nữa mà không hồ sơ nào thèm ghi. Hắn nhìn chiếc đòn gánh mòn bóng ở đúng vị trí vai phải vẫn chạm vào, rồi quay đi, mang theo thêm một hình ảnh nữa cho cuốn sổ trong ngực áo.

Trời tối hẳn khi hắn quay về phủ. Cổng phủ đã đóng, người đàn bà quỳ kêu oan đã dắt con đi từ lúc nào, bậc thềm đá trống không, chỉ còn vệt bụi mờ in hình hai đầu gối người quỳ suốt một ngày dài dưới nắng.

Chương khác

Xem thêm