THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 12: Trận Thua Ở Phòng Văn Thư

Sáng hai mươi sáu tháng tám, Cố Minh Đức vào phòng văn thư trước giờ làm việc của phủ nửa khắc. Phòng còn lạnh hơi đêm, chồng hồ sơ xếp trên kệ gỗ tỏa…

Nội dung chương

Sáng hai mươi sáu tháng tám, Cố Minh Đức vào phòng văn thư trước giờ làm việc của phủ nửa khắc. Phòng còn lạnh hơi đêm, chồng hồ sơ xếp trên kệ gỗ tỏa mùi giấy ẩm và mực cũ. Biên bản tịch thu sổ sách của tiệm họ Ngô đã đặt sẵn trên án, do một thư lại trẻ mang lên từ sớm. Ông liếc nhìn chàng thư lại ấy: mặt non, tay còn dính mực, đứng nép bên cửa không dám ngồi.

- Ngươi tên gì? - Ông hỏi.

- Bẩm đại nhân, tiểu nhân Trần Văn Khải, thư lại phòng văn thư.

- Biên bản này ai chép?

- Bẩm, tiểu nhân có mặt hôm kiểm kê, sư gia đọc, tiểu nhân chép phần sổ sách.

- Ngồi xuống. Đọc lại cho ta nghe, từng dòng.

Trần Văn Khải đọc. Sổ bán hàng, sổ nợ, biên lai, từng cuốn được ghi số trang, tình trạng bìa, dấu niêm phong. Đọc tới giữa, giọng chàng thư lại chậm lại ở một dòng: một cuốn sổ bìa vải bị rách góc, giữa sổ thiếu đúng một trang, vết xé còn mới.

- Dừng. - Ông nói. - Cuốn sổ ấy là sổ gì?

- Bẩm, sổ nợ của tiệm. Người vay ở bến phần lớn ghi trong đó.

- Trang bị xé nằm giữa sổ nợ, mà trong danh mục báo ta, không có một chữ nào về nó.

Khải cúi đầu.

- Bẩm, tiểu nhân ghi vào biên bản tịch thu theo lệ. Sau đó không ai hỏi tới.

Ông nhìn chàng thư lại một lúc. Trong một phủ nha, người ghi đúng một dòng thừa thường bị coi là người làm chậm việc. Ông biết điều đó. Ông cũng biết, những dòng thừa như thế thỉnh thoảng là sợi dây duy nhất còn buộc một vụ án vào sự thật.

- Ngươi làm đúng lệ. - Ông nói. - Lui ra, việc này chưa tới lượt ngươi nói thêm.

Ông cho triệu Quyền Đức Lâm và sư gia vào công đường. Hai người tới nhanh, áo mũ chỉnh tề, như đã chờ sẵn từ lúc ông bước vào phòng văn thư. Ông không vòng vo.

- Ta muốn mở phúc thẩm vụ án Trần Đại Trụ.

Quyền Đức Lâm không tỏ ra ngạc nhiên. Ông ta chỉ cúi đầu, đáp bằng giọng của một người đã thuộc bài.

- Bẩm đại nhân, vụ án đã có phê chuẩn của tỉnh, ngày hành hình đã định. Mở phúc thẩm lúc này, e không hợp lệ.

- Ta nêu ba lẽ. - Cố Minh Đức nói. - Một, biên bản khám nghiệm có chỗ không ổn, ta cần đọc nguyên văn. Hai, nhân chứng chính chỉ có một người đàn bà bán chè ở đầu bến. Ba, ta là tri phủ của phủ này, ta chưa từng nhìn hồ sơ gốc của một án tử do phủ ta xử. Ba lẽ ấy chưa đủ sao?

- Bẩm, hạ quan xin thưa hết. - Quyền Đức Lâm nói. - Biên bản khám nghiệm do ngỗ tác có nghề làm, phủ không có cớ nghi ngờ người của mình. Nhân chứng tuy một người, nhưng tang vật bắt được ngay cạnh hung thủ, dao của tiệm, túi tiền của két, chứng cứ đi đôi với nhân chứng. Còn hồ sơ gốc, đại nhân ký duyệt cuối là đúng lệ, từ trước tới nay các án tỉnh chuẩn y đều làm thế.

- Từ trước tới nay, có án nào xử xong trong lúc tri phủ vắng mặt nửa tháng không?

Quyền Đức Lâm im một nhịp.

- Bẩm, vụ này dân tình hoang mang, sòng bạc và bến đò đều xôn xao. Nếu không xử sớm, trộm cướp sẽ thừa cơ. Hạ quan vì yên dân mà làm gấp, xin đại nhân xét cho.

- Yên dân, hay yên việc cho tỉnh?

Câu hỏi rơi xuống giữa phòng. Sư gia khẽ ho. Quyền Đức Lâm vẫn giữ vẻ cung kính, nhưng vai ông ta đã cứng lại.

Đúng lúc ấy, lính lệ vào trình một phong văn thư hỏa tốc từ tỉnh thành, vừa tới cổng phủ. Triện đỏ của Đề đốc quân vụ Lỗ Đình Uy đóng ngoài phong bì còn mới. Cố Minh Đức mở ra đọc. Ông đọc chậm, đọc hết, rồi đặt tờ văn thư xuống án, mặt không đổi sắc.

Văn thư viết không dài. Đề đốc khen phủ Chu Gia Giác xử án nhanh gọn, tỉnh đã chuẩn y, lòng dân đã yên. Cuối thư có một câu được viết bằng chữ đậm tay hơn hẳn: trước ngày hành hình, địa phương không nên lật lại vụ án đã định, tránh làm rối lòng dân và tổn hại uy tín của phủ tỉnh. Không có một chữ nào cấm đích danh Cố Minh Đức mở phúc thẩm. Văn thư của người có quyền bao giờ cũng thế: không cần cấm, chỉ cần nhắc, người dưới tự hiểu cái giá của việc không nghe.

- Đại nhân thấy đó. - Quyền Đức Lâm nói khẽ. - Ý của tỉnh đã rõ.

- Ta thấy một tờ giấy không có quyền xử án, đang can thiệp vào một vụ án. - Ông nói.

- Bẩm, Đề đốc là người đứng đầu quân vụ cả vùng, lại là chỗ dựa của tỉnh thành. Văn thư này tuy không phải lệnh, nhưng nếu phủ làm trái, người chịu tội kháng mệnh đầu tiên là đại nhân, thứ hai là cả phủ này.

- Còn nếu ta ký duyệt cho một người chết oan, người chịu tội đầu tiên là ai?

Quyền Đức Lâm cúi đầu rất thấp.

- Bẩm, hạ quan chỉ biết thủ tục đều đúng lệ.

Đúng lệ. Hai chữ ấy là cái khiên tốt nhất của những người không muốn chịu trách nhiệm về kết quả. Mọi tờ giấy đều có triện, mọi lời khai đều có người điểm chỉ, mọi biên bản đều có người chép. Chỉ thiếu một thứ: có ai trong nửa tháng qua chịu dừng lại một khắc để hỏi rằng những tờ giấy ấy có nói thật hay không.

Tiếng khóc của đàn bà bỗng vọng vào từ cổng phủ. Lúc đầu còn xa, sau rõ dần: tiếng kêu oan khàn đặc, xen tiếng lính lệ quát nạt. Cố Minh Đức đứng dậy, đi ra sân. Mọi người vội theo sau.

Ở cổng phủ, Vương Tú Anh quỳ trên nền đá, áo nâu ướt mồ hôi, tóc xõa, tay ôm tờ đơn kêu oan đã nhàu. Bên cạnh bà là đứa con gái chín tuổi, Trần Tiểu Mễ, mặt tái vì nắng, tay nắm chặt vạt áo mẹ. Hai người lính lệ đang xua hai mẹ con ra đường, một người đã nắm cánh tay bà kéo dậy một cách thô bạo.

- Dừng tay. - Cố Minh Đức nói.

Người lính buông tay, lùi lại. Vương Tú Anh ngẩng lên, thấy quan phục của ông thì dập đầu xuống đá liên tiếp.

- Bẩm đại nhân, chồng con không giết người. Đại nhân về rồi, xin đại nhân cứu chồng con. Ngày mai kia là người ta chém chồng con rồi.

- Đứng dậy nói. - Ông nói.

- Con không đứng. Con quỳ quen rồi. Từ ngày hai mươi tới nay, ngày nào con cũng quỳ ở cổng này, người ta không cho con vào. Chồng con gánh thuê mười mấy năm, vai phải chai thành sẹo, đến con dao thái rau ở nhà còn cầm bằng tay phải. Nó không biết chữ, nó chỉ biết gánh hàng. Nó giết người cướp của làm gì, bẩm đại nhân?

Ông nhìn xuống người đàn bà. Ông biết, lời kêu của một người vợ không phải chứng cứ. Ông cũng biết, cách phủ này đối xử với lời kêu ấy là một thứ chứng cứ khác: chứng cứ về việc cái phủ của ông đã quyết định không nghe nữa.

- Cho bà ấy đứng dậy. - Ông nói với lính lệ.

Lính lệ đỡ Vương Tú Anh lên. Bà loạng choạng, con gái vội đỡ lấy mẹ. Cố Minh Đức ra hiệu cho người hầu lấy ít tiền lộ phí đưa bà.

- Tiền này không phải lời hứa. - Ông nói rõ, để mọi người quanh cổng đều nghe. - Ta chưa đọc hồ sơ gốc, ta chưa hứa được điều gì. Nhưng từ hôm nay, cổng phủ này không ai được xua đuổi người kêu oan như xua đuổi kẻ ăn mày. Ai kêu oan thì ghi tên, trình lên.

- Bẩm đại nhân. - Vương Tú Anh khóc. - Chỉ xin đại nhân đọc hồ sơ của chồng con một lần thôi. Một lần thôi cũng được.

Ông quay vào phủ. Sau lưng ông, tiếng khóc nhỏ dần. Ông biết mình vừa làm được một việc rất nhỏ, nhỏ tới mức không cứu nổi ai: đỡ một người đàn bà dậy khỏi nền đá và cho bà ít tiền đi đường. Còn điều bà xin, đọc hồ sơ gốc, hóa ra lại là việc khó nhất trong phủ của chính ông.

Buổi chiều, cuộc mặc cả thủ tục kéo dài thêm một canh giờ trong phòng văn thư. Quyền Đức Lâm nhượng bộ từng chút một, mỗi chút đều bọc trong lệ: tri phủ ký duyệt cuối thì phải đọc hồ sơ, điều ấy không ai chối được. Nhưng mở hội đồng phúc thẩm thì không thể, vì tỉnh đã chuẩn y. Ghi biên bản phúc tra cũng không thể, vì sẽ thành văn bản chống lại phê chuẩn. Cuối cùng, điều ông giành được chỉ là thế này: nhân dịp sinh nhật sáu mươi của ông, hồ sơ gốc được mở cho chính ông đọc trong hai ngày hai mươi sáu và hai mươi bảy. Ông đọc một mình trong thư phòng, để ký duyệt cuối trước ngày hành hình. Không lập hội đồng. Không ghi biên bản phúc tra. Không triệu nhân chứng.

Một mình. Hai ngày. Đọc một bộ hồ sơ mà cả phủ đã kết luận xong, trong lúc người tử tù chỉ còn hai đêm.

Ông ký nhận vào sổ giao hồ sơ. Chìa khóa phòng hồ sơ được đặt vào tay ông, lạnh và nặng hơn ông tưởng. Khi mọi người lui hết, chỉ còn Trần Văn Khải ở lại thu dọn chồng biên bản trên án. Ông nhìn chàng thư lại trẻ, nhớ lại dòng chữ về trang sổ bị xé mà chỉ một mình người này chịu ghi vào biên bản.

- Khải. - Ông gọi.

- Bẩm đại nhân.

Ông nâng chìa khóa lên, ngắm nó dưới ánh đèn vừa thắp.

- Hóa ra ở phủ của ta, muốn đọc một bộ hồ sơ, cũng phải nhân ngày sinh nhật.

Khải không dám đáp. Ông bỏ chìa khóa vào tay áo, đi về phía thư phòng. Ngoài sân, trời đã tối, lính lệ đang đóng nửa cổng phủ. Ở ngoài đường, bóng hai mẹ con nhà họ Trần đã đi xa, nhỏ dần trong buổi chiều của trấn, về phía thôn ngoài, nơi một người đàn ông đang nằm trong lao đếm ngược từng ngày bằng tiếng trống canh.

Trận đầu tiên của ông sau khi về trấn, ông đã thua. Thua không phải trước một kẻ địch cầm đao, mà trước những tờ giấy có triện, những câu nói đúng lệ, và một bức văn thư không hề cấm đoán điều gì. Ông chỉ còn một cánh cửa hẹp: hai ngày đọc hồ sơ, một mình, không biên bản. Ông tự nhủ, cửa hẹp vẫn là cửa. Việc còn lại là đi qua nó trước khi đao rơi.

Chương khác

Xem thêm