THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 13: Đạo Sĩ Xem Khí Sắc

Chiều hai mươi sáu tháng tám, sau khi giành được quyền đọc hồ sơ gốc, Cố Minh Đức không về nhà sau mà đi bộ tới quán Bạch Vân ở giữa trấn. Đây là thói…

Nội dung chương

Chiều hai mươi sáu tháng tám, sau khi giành được quyền đọc hồ sơ gốc, Cố Minh Đức không về nhà sau mà đi bộ tới quán Bạch Vân ở giữa trấn. Đây là thói quen của ông đã hơn mười năm: mỗi lần đi xa về, trước khi việc phủ ngập đầu, ông ghé quán của người bạn cũ Lương Thanh Hư, uống một ấm trà, nghe đạo sĩ nói vài câu chuyện không đầu không cuối. Trần Văn Khải theo hầu, tay ôm bọc giấy bút, đi sau ông nửa bước.

Quán Bạch Vân không lớn. Trước cửa treo một tấm biển gỗ đã bạc màu, trong quán chỉ có năm sáu bộ bàn ghế tre, một kệ thuốc khô, và một bàn thờ nhỏ khói hương thoang thoảng. Lương Thanh Hư ngồi sau quầy, đang phơi mấy thang lá trên chiếc nong. Đạo sĩ năm nay năm mươi tám, kém Cố Minh Đức hai tuổi, tóc đã hoa râm gần hết, nhưng mắt còn sáng và tay còn nhanh nhẹn hơn nhiều người trẻ.

- Minh Đức về rồi đó à. - Thanh Hư ngẩng lên, cười. - Ngồi đi. Ta đoán hôm nay ông không tới để bàn chuyện đê.

- Sao ông biết?

- Người bàn chuyện đê thì vào quán là hỏi giá gỗ đá trước. Ông vào quán mà mặt như vừa thua một ván cờ chưa đánh xong.

Cố Minh Đức ngồi xuống. Khải đứng hầu bên cạnh, rót trà cho hai người. Trà của quán Bạch Vân là trà đắng đầu lưỡi, ngọt ở cuống họng, dân trấn uống quen thì ghiền. Ông nhấp một ngụm, để vị đắng ấy kéo mình ra khỏi những tờ văn thư ban sáng.

Hai ông già nói chuyện đê điều một lúc. Thanh Hư hỏi đoạn đê hạ du, hỏi mùa nước, hỏi phu đê có ai ốm đau không. Ông đáp từng việc, ngắn gọn. Tới ấm trà thứ hai, câu chuyện chuyển sang tuổi tác, như mọi cuộc gặp của những người đã qua dốc bên kia của đời người.

- Năm nay ông sáu mươi. - Thanh Hư nói.

- Ngày mai.

- Hoa giáp trọn vòng. Người ta tới tuổi này thì lo dựng nhà thờ họ, lo chọn đất hậu sự. Ông thì vừa về đã lao vào một vụ án tử.

Tin tức trong trấn đi nhanh hơn ngựa trạm. Ông không ngạc nhiên vì bạn mình biết chuyện.

- Ta chưa lao vào được. - Ông nói. - Mới xin đọc hồ sơ đã phải mặc cả nửa ngày.

Thanh Hư không đáp ngay. Đạo sĩ đặt thang lá xuống, nhìn bạn cũ rất lâu, nhìn từ trán xuống cằm, từ sắc mặt tới hơi thở. Cái nhìn ấy không phải cái nhìn của người trò chuyện. Nó là cái nhìn của người làm nghề xem khí sắc đã mấy chục năm, và nó làm Khải đứng bên bất giác nín thở.

- Minh Đức. - Thanh Hư nói chậm. - Ông cho ta nói một câu không vui.

- Ông cứ nói. Ta tới quán này không phải để nghe câu vui.

- Khí sắc của ông, như ngọn đèn đã gạt bấc mà dầu thì sắp cạn. Bấc còn cháy đẹp, lửa còn sáng, người ngoài nhìn vào chỉ thấy đèn sáng hơn thường. Nhưng dầu dưới đáy đã vơi tới mức người trong nghề nhìn là biết. Năm nay ông phải giữ mình. Nhất là qua ngày sinh nhật, đừng lao lực, đừng thức khuya.

Cố Minh Đức cười nhạt.

- Ông xem cho ta hay xem cho cái án ở bến?

- Ta xem cho ông. Án ở bến là việc của công đường. Mệnh của ông là việc của ông. Hai việc gặp nhau ở một chỗ: ông sắp thức những đêm mà người khỏe còn ngã, huống hồ người dầu sắp cạn.

- Ta làm quan ba mươi mấy năm, thức đêm đọc hồ sơ là việc thường.

- Đêm thường khác đêm này. - Thanh Hư nói, rồi như biết mình đã nói quá phần nên dừng lại, rót thêm trà. - Thôi, ta chỉ nói tới đó. Ông tin hay không là tùy ông. Nhưng ta quen ông từ ngày hai đứa còn để chỏm, ta không nỡ nhìn ông đi vào chỗ tối mà không nói một câu.

Không khí trong quán lặng đi. Ngoài cửa, tiếng rao hàng chiều vẳng lại, tiếng trẻ con đuổi nhau trên phố đá. Đời thường của trấn vẫn chảy, không hề biết trong quán trà này, một ông đạo sĩ vừa nói với một ông tri phủ rằng dầu đèn của ông sắp cạn.

Để phá cái lặng ấy, Thanh Hư đứng dậy, lấy từ trên kệ xuống một chiếc hộp gỗ dài, mở ra trước mặt hai thầy trò. Trong hộp, nằm trên lớp vải đỏ đã cũ, là một cây bút lông cán tre ngả màu thời gian, ngòi bút còn vương sắc chu sa mờ.

- Hai vị xem cái này cho biết. - Thanh Hư nói. - Đây là bút Phán Quan của sư môn ta, truyền đã mấy đời. Bút này không dùng viết chữ thường. Nó dùng vẽ bùa Câu Hồn Phù, thứ bùa cắm trên bát gạo trong đàn Kỳ Môn Diên Thọ.

- Diên Thọ. - Cố Minh Đức nhắc lại. - Xin thêm tuổi thọ?

- Nói cho đúng phép, là xin gia hạn mệnh. - Thanh Hư nói. - Thuật này của Mao Sơn ta, lập đàn lúc nửa đêm, cho người chết oan mà số tận chưa tới, hoặc người còn việc lớn chưa xong ở dương gian. Đạo sĩ vẽ Câu Hồn Phù bằng bút Phán Quan chấm mực chu sa, cắm trên bát gạo, khấn trình âm ty, xin cho người ấy thêm một khoảng giờ để lo xong việc dở. Âm ty có chuẩn hay không, không do đạo sĩ quyết.

Khải đứng bên, lần đầu nghe chuyện này, mắt không rời cây bút. Cố Minh Đức hỏi:

- Trăm năm nay, có đàn nào được chuẩn không?

- Các cụ trong môn kể lại, đàn nào lập lên cũng bị bác. - Thanh Hư nói. - Ông có biết vì sao không? Vì người ta toàn xin thọ cho mình, hoặc xin cho cha mẹ, vợ chồng, con cái của mình. Âm ty xét lời xin ấy là lời xin của lòng riêng, dầu còn chưa cạn mà đã tham thêm dầu. Bác hết.

- Xin cho người dưng thì sao? - Cố Minh Đức hỏi, giọng nhẹ như hỏi chuyện trà.

Thanh Hư ngẩng phắt lên. Đạo sĩ nhìn bạn mình một lúc lâu, lâu hơn cả lúc xem khí sắc ban nãy.

- Thì chưa từng có ai xin như thế, để mà biết. - Ông đáp. - Minh Đức, sao ông hỏi câu ấy?

- Hỏi cho biết chuyện nghề của ông thôi. - Cố Minh Đức cười, nâng chén trà. - Ta làm quan, quen nghe tiền lệ. Việc gì không có tiền lệ, ta hay hỏi thêm một câu.

Thanh Hư không cười theo. Ông gói hộp bút lại, đặt về chỗ cũ, động tác chậm rãi như người đang gói một ý nghĩ không tiện nói ra. Khi quay lại bàn, ông nói sang chuyện khác: chuyện thằng cháu nội của Cố Minh Đức sắp vào học, chuyện phu nhân dạo này có còn đau lưng khi trở trời không. Câu chuyện trở lại mặt đất thân tình của nó, nhưng câu hỏi xin cho người dưng thì vẫn nằm lại trên bàn, giữa hai ấm trà, không ai dọn đi.

Trước khi đứng dậy, ông hỏi thêm bạn cũ một việc tưởng như không liên can: trong trấn, mấy hôm nay dân bến còn bàn tán gì về vụ án ở tiệm họ Ngô không. Thanh Hư đáp rằng dân bến bàn ít lắm, vì ai cũng sợ tên nhà họ Lỗ bị gió cuốn vào tai. Người ta chỉ kháo nhau một câu: quan thanh liêm về rồi, không biết có cứu nổi người gánh thuê hay lại thêm một lần quan về cho có lệ. Cố Minh Đức nghe xong, gật đầu, không bênh vực mình một chữ.

Trời sụp tối, đèn trong quán được thắp lên. Cố Minh Đức đứng dậy cáo từ. Khải trả tiền trà theo lệ, Thanh Hư nhất định không lấy, nói trà hôm nay là trà mừng bạn cũ đi xa về bình an.

Ở cửa quán, khi Cố Minh Đức đã bước một chân xuống bậc thềm, Lương Thanh Hư bỗng nắm lấy tay ông. Cái nắm tay chặt hơn thường lệ rất nhiều, chặt như người giữ lại một người sắp bước xuống thuyền trong đêm nước lớn.

- Minh Đức. - Đạo sĩ nói khẽ, chỉ đủ hai người nghe. - Đêm mai sinh nhật ông, đừng thức khuya đọc hồ sơ một mình.

- Ta không đọc một mình. Có thư lại theo hầu.

Thanh Hư liếc sang Khải, chàng thư lại trẻ đứng ngơ ngác với bọc giấy bút trên tay, rồi lại nhìn bạn cũ.

- Có người theo hầu cũng là người. Ông nhớ lời ta: dầu cạn thì giữ lửa nhỏ. Việc đời, làm không hết thì để người sau làm.

- Ông nói như người dặn dò hậu sự. - Cố Minh Đức rút tay ra, vỗ nhẹ lên mu bàn tay bạn. - Mai qua phủ ăn miếng bánh sinh nhật của ta rồi hãy nói chuyện hậu sự.

Ông đi xuống phố, bóng quan phục lẫn vào dòng người về nhà ăn cơm tối. Khải theo sau, trong đầu còn nguyên hình ảnh cây bút Phán Quan nằm trên vải đỏ và câu nói chưa từng có ai xin như thế. Chàng không hiểu vì sao đại nhân lại hỏi câu ấy, cũng không hiểu vì sao lúc hỏi, giọng đại nhân nhẹ tênh như người đã nghĩ về nó từ trước, từ rất lâu, chứ không phải mới nghe lần đầu trong quán trà chiều nay.

Về tới phủ, Cố Minh Đức vào thẳng thư phòng, thắp đèn, và mở sổ giao hồ sơ ra xem lại một lần nữa. Hồ sơ gốc ngày mai mới chính thức giao cho ông đọc trọn trong hai ngày sinh nhật. Ông ngồi nhìn ngọn đèn dầu trên án. Lửa cháy đẹp, sáng, như lời Thanh Hư nói về cái bấc đã gạt. Ông đưa tay che quanh tim đèn, thấy hơi ấm mỏng manh của nó trên lòng bàn tay già.

- Dầu cạn thì giữ lửa nhỏ. - Ông lẩm bẩm. - Nhưng có những việc, lửa nhỏ không làm xong được.

Ngoài sân phủ, trống canh điểm giờ đầu. Ông thổi tắt ngọn đèn thư phòng để dành dầu cho đêm mai, đêm sinh nhật sáu mươi. Đêm ấy ông sẽ ngồi một mình với một bộ hồ sơ án tử và một chàng thư lại trẻ. Ông sẽ đọc từng dòng chữ có thể cứu một mạng người, trong lúc cả trấn không ai biết rằng đèn của ông, theo lời một ông đạo sĩ già, đã cháy tới đáy.

Chương khác

Xem thêm